Một Cảnh Tượng Kỳ Ảo – Mai Thảo

Một Cảnh Tượng Kỳ Ảo – Mai Thảo

Anh Đinh Hùng, tôi nhớ năm ngoái cũng vào tháng này, để đánh dấu ngày giỗ đầu cái chết của anh, nhà xuất bản Văn ở số 38 đường Phạm Ngũ Lão Saigon, (chủ nhân là anh Nguyễn Đình Vượng, người đã mở đầu cho nhà xuất bản Văn bằng Người Đao Phủ Thành Đại La của anh) cho in lại Mê Hồn Ca. Tái bản mang ý nghĩa truy điệu thi sĩ này, đáng lẽ phải có, bằng văn tôi, một bài vào tập. Mê Hồn Ca được phát hành sau đó. Nhà Văn đành xin lỗi những người đọc thơ anh, bởi bài vào tập đã báo trước, cuối cùng không có. Tôi không viết được nó. Mặc dầu đã định. Đã muốn. Hết lòng. Không viết nổi vài hàng dẫn nhập cho một tập thơ đến nay tôi vẫn thành thực xem như một trong những đỉnh cao của thi ca tiền chiến, không nói được lời nào về một người, người đó là một nhà thơ sinh thời là bạn, là điều đến nay vẫn còn làm tôi hết sức ngạc nhiên. Không thực hiện được một bài viết tưởng đã có hàng trăm ý nghĩ trong đầu, tôi tìm hiểu nguyên nhân, chỉ có thể đi đến kết luận này: Với tôi, Mê Hồn Ca vẫn đích thực là cái thế giới mê hồn kỳ lạ của riêng anh. Và nếu hiểu thơ của một người, cũng phải như hiểu một sự vật, một đời sống, nghĩa là thấu triệt được những quy luật cấu thành biện chứng của sự vật và đời sống, thì cái chân tướng của Mê Hồn Ca lung thoát, mơ hồ, tôi không nhìn thấy được cái từ đâu mà thành, bởi đâu mà có. Văn học sử Việt Nam sau này tất yếu sẽ phải làm thay tôi việc đó. Tôi nói tất yếu. Cõi thơ, tiếng thơ, một ngôn ngữ thơ mang tên Đinh Hùng, đích thực vẫn còn hay sẽ mất với những liên hệ chặt chẽ với thơ của cả một thời kỳ, một thời đại. Thơ anh là thơ của một người. Còn là thơ của một thời.

Thơ Việt Nam bây giờ chuyển lưu sang một trời thơ khác, chứng minh điều đó. Nhận cho thơ Đinh Hùng như một động lực đưa tới một hóa thân, một tiến trình mới của thơ, thì cũng cứ vẫn phải công nhận thêm một điều này: thơ anh nếu có khép đóng lại một giòng thơ thì cũng chính từ khép đóng này mà thơ đã mở đi những giòng thơ khác.

Anh Đinh Hùng, tôi kể lại anh nghe chuyện nhỏ này. Nghĩ nó, tuy cũng trà dư tửu hậu mà thôi, có chiếu sáng cho tôi phần nào về một vài bình diện thi sỹ. Một buổi chiều tuần trước, tôi cùng Thạch Chương và Thanh Tâm Tuyền đến chơi một người bạn. Ở đây, chúng tôi tình cờ gặp lại nhà thơ Bùi Giáng. Với tôi, cõi thơ Bùi Giáng là một trong những cõi thơ bát ngát nhất hiện nay của thơ ta. Thơ Bùi Giáng là một vực thẳm không cùng. Một cánh rừng dầy đặc.

Nó òa tới, làm nhạt nhòa Xuân Diệu. Nó vụt qua làm mất biến Xuân Xanh. Dẫm đạp lên mọi thể loại ngôn ngữ tĩnh tại, sáng hồng, đôn hậu, toàn vẹn, đã xong, thơ Bùi Giáng là cái tang trống kinh dị treo căng trên hai đầu cọc nhị trùng: Từ một băng hoại tận cùng tới một thăng hoa chói lọi. Thơ nguy nga như thế mà con người bệnh quá. Mỏi nhọc, già yếu, Bùi Giáng ngồi đó, bóng chiều lãng đãng, như hình như bóng, mang trên hình hài âm u cái hiện tượng dị thường của một cõi ngôn ngữ khi bình lặng thì thiêm thiếp, hư không, khi dấy động là dấy động bàng hoàng một trời giông bão. Chừng như tôi điên, một năm vài tháng, Bùi Giáng nói. Thế nhưng khổ nhất cho Bùi Giáng lại là lúc tỉnh. Tỉnh thức, ra khỏi những quằn quại nghẹn ngào, những nhức nhối đốt lửa, Bùi Giáng mới biết là có thật nhiều điều, dầu biết phải nói, chẳng nên nói ra bằng giấy trắng mực đen. Nhưng rồi những cơn lốc kinh hoàng hệt như những cơn say sượng sần mê ngất chụp bắt lấy. Và khi đó thi sỹ lại nói hết. Nói hết những niềm quái dị, những nỗi hoang vu bất chợt sáng ngời, bằng một Ánh Sáng Lạ, trong tâm linh và tiềm thức. Tôi nhớ chiều hôm đó, Thanh Tâm Tuyền, yêu mến Bùi Giáng lắm, đã giải thích cái trạng thái bất bình thường nơi Bùi Giáng như một hòa nhập quá thể say đắm, quá thể trầm trọng với ngôn ngữ. Rằng đó là tại vì anh coi trọng ngôn ngữ quá. Rằng anh muốn phá tan ngôn ngữ còn muốn phá tan chính Cuốn Sách là cái biểu tượng cái thể tích thường hằng được chấp nhận cho ngôn ngữ, cho thơ.

Anh Đinh Hùng, cái “ca” đặc biệt của Bùi Giáng trở lại trong trí tưởng tôi lúc này tôi nói chuyện với anh về những cõi ngôn ngữ dị thường ấy là những cõi ngôn ngữ thi sĩ. Nếu Breton định nghĩa cái đẹp như một bàng hoàng, bàng hoàng đó đã sấm sét, đã địa chần bao nhiêu năm dưới trời siêu thực, và nếu ngôn ngữ ở Bùi Giáng là những lượng chất nổ thả dần bằng những ngón tay thơ rất đỗi dịu dàng vào cái tôi nhìn thấy rõ nhất ở Bùi Giáng là một cõi tâm linh mê ngất – chúng ta đã thấy nhưng không thể tan tành và toàn vẹn bằng, ở cõi thơ trái điên và mật đắng của Hàn Mặc Tử – tôi muốn nhìn thơ anh, như nỗ lực một đời của ước muốn đến với cái phía bên kia đã mất của thực tại. Đó là cái nỗ lực cài đính trang trọng lên một nền trời những vì sao đã rụng. Sự vật tất yếu nằm trong vận động của một sinh thành và một hủy diệt. Quy luật ấy, đích thực anh đã không chịu chấp nhận nó. Đã muốn phản chống lại bằng thơ. “Khi miếu đường kia phá đổ rồi. Ta đi về những hướng sao rơi.” Trời thơ anh nằm gọn trong mười bốn chữ đó. Giữa một thời đại ào ạt vươn tới những biển vàng chưa gặp. bây giờ người ta đã nghĩ đến những ngọn cỏ đường cho năm 2000, vẫn có những nhà bác học nghiêm túc phủi đi những bụi phấn trên một đồ vật chôn vùi cũ bằng đất nung. Cho sáng rỡ trở lại cái nghệ thuật tạo tác của một hơi lửa tiền sử. Anh là một trong những nhà bác học đó. Vần đề tưởng rằng lớn lao và ngột ngạt nhất của thi ca là ngôn ngữ không đặt ra với Mê Hồn Ca và Đường Vào Tình Sử tiên thiên tuy cũng là một nỗ lực biểu hiệu tới tận cùng một định mệnh ngôn ngữ. Nhưng ngôn ngữ với Đinh Hùng đôn hậu, ngoan ngoãn. Nó chỉ là một phương tiện. Cái phương tiện dẫn đi. Cái phương tiện chở về.

Vào thơ anh trước hết tôi nhìn thấy một vũ trụ một thế giới không tiếng động, không ánh sáng. Nó là một cánh rừng chết. Im phắc. Rất đen và rất đêm. Rồi lửa thơ ngang đầu, thi sỹ đi tới. Thi sỹ vào. Đánh thức những bằn bặt. Lay tỉnh những thiêm thiếp. Gõ cửa những chôn vùi. Như một ngọn đèn pha trên một con đường tối, ánh sáng lướt. Những sự vật hiện. Nhặt những “sao rơi” anh đang cài đính từng chùm một, lên một nền trời đã nghìn triệu năm tắt nghỉ mọi cuộc đời tinh tú. Người ta bảo thơ Đinh Hùng là một thất bại trong ý hướng tạo dựng và làm sống lại một thế giới đã vĩnh viễn tịch mịch. Người ta nói Đinh Hùng không làm sao đón được đời sống vào vũ trụ mình giản đơn là bởi vì cái vũ trụ đó không có. Tôi muốn nghĩ khác.

Tôi muốn nghĩ khác. Tri thức và trầm tư cho một bản thể rực rỡ như Đinh Hùng, ít nhất cũng là đã mở được những cửa ngõ hòa nhập dư thừa vào hằng cữu và tạo vật, hiểu được thế nào là chân thân kia của một hạt cát sông Hằng, tri thức đó nhất định không đến nỗi rơi ngã vào ảo tưởng mù lòa về những cái đã chết, đã mất, phải làm cho sống lại. Bởi không thể. Cài đính trang trọng những nhành sao rụng lên một nền trời kia, ở Đinh Hùng chỉ là đốt lửa đêm cho cuộc đời nhìn thấy cái mặt sấp kia của một đồng tiền. Cái mặt không reo không nhẩy. Cái phía đã im phắc. Đã bất động. Đã thành tượng.

Thành tựu của thơ Đinh Hùng ở nơi anh được những vì sao rụng trên mặt cỏ hằng cữu. Và không, khi nào “miếu đường” không phá đổ được miếu đường còn đứng đó, cản ngăn đường ngưng về một hướng sao rơi. Thơ ở một phía khác thơ Đinh Hùng, thơ ngợi ca đời sống, thơ đầm ấm hơi thở, thơ tươi tắn máu hồng, thơ trái tim trên tay, thơ như một thâm nhập tràn đầy và dữ dội của ngôn ngữ, thơ trên mỗi tảng đá, mỗi ngọn cỏ, để lại cái dấu khắc đau đáu tươi mầu của hiện hữu và tri thức người, khác ở nơi nó không vấp phải một miếu đường nào. Sao cũng rơi trên chúng ta đấy chứ. Nhưng sao rơi gần. Với Đinh Hùng, đã cách một miếu đường thực tại, sao còn nghìn dặm.

Thả hòn đá xuống một lòng giếng thẳm, vang vọng mất biến. Ném ngôn ngữ đi quá xa tới những vùng trời biệt tích ngoài mình, ngôn ngữ biệt tích luôn. Mê Hồn Ca tuyệt nhiên không đắm say cái ý tưởng mù lòa làm sống lại những đồ vất đất nung được tạo tác ngày nào bằng hơi lửa tiền sử. Chỉ Đinh Hùng muốn dẫn chúng ta tới đó. Tới những cõi chôn vùi. Tới những trời hủy hoại. Tới một lối đi xưa. Tới một cửa đền cũ. Cái khác là chúng ta đã tới và đã trở về. Riêng Đinh Hùng ở lại.

Anh Đinh Hùng, bây giờ thì với anh miếu đường kia đã đích thực phá đổ. Tôi nhìn thấy trời thơ anh sáng dần. Thi sĩ đã tới. Trên một nền trời kia, từ một bàn tay ấy, những vì sao đang được khoan hòa và trang trọng đính cài lên. Cảnh tượng này đối với tôi và với thơ, đã dư thừa một cảnh tượng kỳ ảo.

Mai Thảo

(Khởi Hành số 17)

Share this post