Một Số Điều Cần Nói Qua Chuyến Thăm VN Của Tân Thủ Tướng Nhật Yoshihide Suga – Trương Nhân Tuấn

Một Số Điều Cần Nói Qua Chuyến Thăm VN Của Tân Thủ Tướng Nhật Yoshihide Suga – Trương Nhân Tuấn

Một số dấu hiệu cho thấy quan hệ Việt-Nhật sẽ thay đổi “sâu sắc” trong lãnh vực quốc phòng qua chuyến thăm viếng của thủ tướng Yoshihide Suga vào tuần rồi. Báo chí loan tin hai bên Việt-Nhật đã đạt những thỏa thuận cơ bản về một “hiệp định chuyển giao công nghệ và thiết bị quốc phòng”.

Sự thay đổi “chiều sâu quốc phòng” trong quan hệ Việt-Nhật trước hết có thể là viên đá thăm dò dư luận nước Nhật trước chính sách mới về quốc phòng của nội các Suga mà chính sách này có thể sẽ mâu thuẫn với nội dung điều 9 Hiến pháp. Sau đó cho thấy sự quyết tâm của VN là không loại trừ việc sử dụng vũ lực để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, như bộ quốc phòng đã “trả lời cử tri” qua bài báo trên Thanh niên hôm 23 tháng mười 2020.
Tân thủ tướng Yoshihide Suga trên thực tế không có “chính danh” như vị tiền nhiệm Shinzo Abe, mặc dầu ông cũng được Quốc hội chỉ định trước sự chứng kiến của Nhật hoàng. Nhiệm kỳ của ông Suga chỉ tiếp nối phần thời gian còn lại của thủ tướng tiền nhiệm, từ nay cho tới cuối năm 2021. Quốc hội hiện thời là do dân Nhật bầu ra để ủng hộ Shinzo Abe (chứ không phải ủng hộ ông Suga). Chưa biết sau đó dân Nhật có tin tưởng ủng hộ ông Yoshihide Suga hay không.

Câu hỏi đặt ra là, tại sao một hiệp ước quan trọng về quốc phòng (chuyển giao công nghệ và bán thiết bị quốc phòng) lại không được thúc đẩy dưới thời Shinzo Abe mà lại bắt đầu dưới thời một nội các “chuyển tiếp” ?. Shinzo Abe có hai nhiệm kỳ (7 năm và 263 ngày) thủ tướng để xúc tiến việc đào sâu quan hệ quốc phòng với VN.

Vì vậy ta có thể hoài nghi về lý do “cáo bịnh” nghỉ hưu của Shinzo Abe. Thay đổi nội dung điều 9 hiến pháp là một “phiêu lưu chính trị” của đảng cầm quyền. Bởi vì muốn tu chính hiến pháp cần phải có sự đồng thuận của ⅔ đại biểu quốc hội và sau đó phải được sự chuẩn thuận của quốc dân trong một cuộc “trưng cầu dân ý”.

Điều 9 Hiến pháp Nhật được Quốc hội biểu quyết vào ngày 3 tháng mười một năm 1946, có hiệu lực ngày 3 tháng năm 1947, dĩ nhiên dưới thời kỳ “quân quản” của Hoa kỳ. Nội dung điều 9:

“Vì lòng mong muốn chân thành một nền hòa bình quốc tế đặt trên nền tảng công lý và trật tự, nhân dân Nhật Bản vĩnh viễn từ bỏ việc can dự vào chiến tranh như quyền chủ quyền của quốc gia, (cũng như từ bỏ việc) đe dọa, hoặc sử dụng vũ lực như một phương tiện nhằm giải quyết các xung đột quốc tế.

Để đạt được mục tiêu, nước Nhật sẽ không có lực lượng bộ binh, hải quân và không quân cũng như không duy trì bất kỳ một tiềm năng chiến tranh nào. Quyền được can thiệp (vào chiến tranh) của quốc gia sẽ không được công nhận. “

Qua cuộc chiến tranh Triều Tiên, quan điểm quốc phòng Nhật có một số thay đổi, đồng thời với việc chấm dứt “thời kỳ quân quản”, Nhật trở thành một đồng minh thân cận của Mỹ. Cuộc chiến Vùng Vịnh Nhật đã đứng về phía Mỹ, không phải tiếp tay trên chiến trường, mà lo phần “hậu cần”. Tiếp theo các căng thẳng với TQ về chủ quyền quần đảo Senkaku (Điếu ngư) đầu thập niên 70 đồng thời với các động thái đe dọa quân sự của Bắc Triều tiên, nhứt là sau khi quốc gia này thử nghiệm thành công vũ khí hạt nhân, quan điểm về “an ninh quốc gia” của Nhật đã có những thay đổi lớn.

Hiện tại Nhật đã có “bộ quốc phòng” và “lực lượng phòng vệ”, với đầy đủ các lực lượng không quân, hải quân, bộ binh… dĩ nhiên được trang bị bằng các loại vũ thí tối tân nhứt. Ngân sách quốc phòng được giới hạn không quá 1% GDP nhưng thời thủ tướng Shinzo Abe quan điểm “diều hâu” về quốc phòng của Nhật được khuyến khích, con số này mỗi năm mỗi “vượt rào”, tương ứng hiện nay khoảng 44 tỉ EU. Ngoài ra thời thủ tướng Abe, năm 2014 Nhật được phép phép xuất khẩu vũ khí ra nước ngoài, dĩ nhiên ban đầu là bán các bộ phận cảm biến trong Ra đa cho quân đội Mỹ, sau đó cung cấp cho các quốc gia, như ASEAN, các loại tàu tuần duyên…

Các điều này cho thấy điều 9 Hiến pháp của Nhật trên hình thức đã không được tôn trọng, vì các “lý do chính đáng” phục vụ cho sự bảo toàn lãnh thổ và sự tồn vong của dân tộc Nhật.

Câu hỏi đặt ra là nội dung Nhật sẽ chuyển giao công nghệ quốc phòng nào và bán thiết bị nào cho VN ?

Phát ngôn nhân chính phủ Nhật trả lời báo chí, bằng “ngôn từ ngoại giao”, tức là ai muốn hiểu sao thì hiểu. Chính phủ Suga thực sự muốn tu chính điều 9 HP, lấy lại quyền chủ quyền về chiến tranh, hay quyền can dự vào chiến tranh của Nhật, để đối phó với sự bành trướng của TQ cũng như các đe dọa hạt nhân từ Bắc Triều tiên ? Hay là chính phủ này cũng tìm cách “đi vòng” để đạt mục tiêu như các vị thủ tướng tiền nhiệm ?

Theo tôi việc “đi vòng” kỳ này sẽ rất khó khăn. Bởi vì trung tâm của quan niệm Ấn độ Thái bình dương, hay trọng tâm của “tứ giác kim cương” (Nhật Mỹ Ấn Úc) là Việt Nam (và Indonesia) chớ không phải là ASEAN. Chuyến thăm đầu tiên của Suga sau khi nhậm chức là VN và sau đó là Indonesia cho ta thấy điều này. Mà việc “tự vệ” trước sự bành trướng của TQ, Nhật không thể đứng một mình. VN và Nhật có chung mối lo là bị TQ đe dọa chủ quyền lãnh thổ (Nhật ở quần đảo Senkaku và VN ở HS và TS) đồng thời có chung lợi ích trước quan điểm “Ấn độ Thái bình dương tự do và rộng mở”.

Nếu giữ nguyên nội dung điều 9 HP, Nhật có thể sẽ bị “trói tay” trước các hành vi gây chiến tranh của TQ.

Theo tôi, ý kiến từ nhiều năm nay, nếu TQ khởi động chiến tranh để “thống nhứt” Đài Loan, TQ sẽ kéo vào cuộc chiến cả Nhật lẫn VN. Bởi vì TQ sẽ “thanh toán” vấn đề chủ quyền lãnh thổ một lần một rồi thôi, bao gồm Điếu Ngư và TS.

Đối với Việt Nam, lần đầu tiên “trả lời cử tri” hôm kia, Bộ Quốc hòng VN biểu lộ thẳng thừng quan điểm sử dụng vũ lực để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.

Điều này cho thấy dụng cụ pháp lý có thể bị gạt sang một bên.

Ta có thể “thấu hiểu” nỗi lòng của lãnh đạo Hà nội. Trong “cuộc chiến các công hàm” ở Ủy ban ranh giới thềm lục địa thuộc LHQ, VN đã “thua” trước TQ. VN đã “im lặng” trước lập luận của TQ, qua công hàm 17 tháng tư năm 2020, cho rằng VN đã bị “estopped”.

TQ cho rằng VN đã “nhìn nhận” chủ quyền của TQ ở HS và TS từ năm 1958 rồi, bây giờ VN không thể “nói ngược”.

Tập quán quốc tế quan niệm rằng thái độ “im lặng” của một quốc gia trước một vấn đề có liên quan đến quốc gia, là sự “đồng thuận mặc nhiên”.

Công hàm của ba đại cường Châu Âu là Anh, Đức và Pháp gởi LHQ cho biết các quốc gia này “không có ý kiến” về tranh chấp chủ quyền giữa các quốc gia ở Biển Đông.

Điều này trái với lịch sử.

VN là cựu thuộc địa của Pháp (1874-1949). Các lãnh thổ Hoàng Sa và Trường sa đã được Pháp thâu hồi, tái khẳng định chủ quyền đồng thời sáp nhập vào lãnh thổ VN.

Vấn đề là Pháp trả độc lập cho VN qua chính quyền Bảo Đại (Quốc Gia Việt Nam) qua Hiệp định Elysée mà quốc gia nối tiếp là Việt Nam cộng hòa.
Lãnh thổ HS và TS thuộc chủ quyền của VNCH mà thực thể này không còn tồn tại. Lý ra HS và TS sẽ chuyển lại cho chính quyền kế thừa VNCH.
Vô số lần tôi khuyến cáo VN hôm nay phải làm thủ tục “kế thừa” di sản VNCH để khẳng định chủ quyền HS và TS.

Pháp (và Anh và Đức) không có lý do để tuyên bố “không có ý kiến” về chủ quyền HS và TS, ngoại trừ lý do VNCH sụp đổ và không có kế thừa.
Phương pháp giải quyết tranh chấp bằng pháp lý với TQ, VN phần thua nhiều hơn phần thắng. Bây giờ VN chỉ có phương pháp vũ lực để bảo vệ lãnh thổ.

Theo tôi, rất có thể từ nay cho tới hết tháng 11, TQ có thể “mở mặt trận” để “thâu hồi các vùng lãnh thổ đang bị kẻ địch chiếm đóng”, như lúc đánh HS tháng giêng 1974.

Đối với VN, mặt trận dễ nhứt, TQ có thể đánh đảo Bạch long vĩ (và giúp Campuchia đánh đảo Phú quốc) để yêu cầu VN “giao” trong hòa bình các đảo ở TS. (Đảo Bạch long vĩ thuộc về VN theo công ước phân định biên giới Pháp Thanh 1887, vì nằm bên này “đường đỏ” phân chia Vịnh Bắc Việt). Giả thuyết này có thể xảy ra nếu TQ lo ngại việc can thiệp vào Đài loan sẽ “đụng độ” với Mỹ mà TQ thấy là chưa chắc thắng. TQ cũng sẽ không chiếm các đảo TS bằng vũ lực, nếu thấy thái độ của Mỹ sẽ can thiệp.

“Pacta sunt servanda”, cam kết phải giữ lời, là cốt lõi của luật quốc tế.
Các học giả VN có vô số bài viết giải thích về hiệu lực công hàm 1958, tôi không nhắc lại. Vấn đề là ý kiến nhiều “như lá mùa thu” mà VN không thể “khơi trong gạn đục” lấy ra một ý kiến “nghe được” để phản biện công hàm 17 tháng tư của TQ (về lập luận VN bị estopped).

VN “bội ước” thì TQ sẽ “bội ước”, lấy lại Bạch long vĩ. Điều này tôi đã cảnh báo ít ra từ 10 năm trước, nhân viết các bài về việc phân định Vịnh Bắc Việt tháng 12 năm 2000. TQ cũng có thể mở “liên minh” với Campuchia, qua việc mở căn cứ sát nách VN, dùng dân Miên đánh VN đến gọt máu cuối cùng để lấy đảo Phú Quốc.

Bây giờ đã quá trễ để kế thừa danh nghĩa VNCH. Pháp đã biểu lộ ý kiến về chủ quyền HS và TS. Danh có chánh thì ngôn mới thuận.

Ngoài “chiến tranh” thì VN “hết cách”.

Share this post