Mùa Thu Champrin – Kim Thanh

Mùa Thu Champrin – Kim Thanh

Ghi chú: Tên của những nhân vật trong truyện đều đã được thay đổi, để bảo vệ tính cách riêng tư.

1. Vào giữa tháng 9 năm 1988, trời chớm lạnh, và tôi đã trải qua hai mùa thu ở Đại Học Oregon, tại Eugene – một thành phố nhỏ, nhà quê, cách Portland hai giờ lái xe. Một hôm, John gọi, hỏi, “Cuối tuần này bạn có thể lên Portland, gặp tôi có chút việc được không?”. Tôi cười, dễ dãi: “Dĩ nhiên là được. Tôi cũng cần lên đó thăm bạn, ăn cơm Việt Nam và gặp đồng hương. Ở Eugene không có bóng người Việt, riết rồi quên mất mình là ai, chán lắm. Được rồi, ta sẽ gặp nhau, tại đâu?”

John là người bạn thân thiết, dễ thương, năm 1985 cùng học chung lớp MAT (MA in Teaching) tại PSU (Portland State University), dự tính sau này ra dạy English. John gốc Mỹ trắng Caucasian thứ thiệt, nhưng so với người Mỹ trung bình, anh thuộc loại nhỏ con, cao xấp xỉ bằng, hoặc dưới tôi, cho nên lần nào vào cafeteria của trường anh cũng rảo mắt tìm tôi, cho có bạn. Thất tình vì cô vợ Tàu Thượng Hải, đã ôm cầm sang thuyền khác, chỉ sau sáu tháng được anh bảo lãnh sang Oregon, anh bỏ học ngang xương, đi tu làm mục sư giảng đạo một thời gian. Rồi nghe ai xúi, ghi tên học môn Social Work, và sau đó xin được việc làm tại Mental Health Department của trường Đại Học Y Khoa Oregon (OHSU), tục gọi là Nhà Thương Núi. Còn tôi, Fall 1986, xuống University of Oregon (UO) dạy Pháp văn kiếm sống, đồng thời học Ph.D về Romance Languages (RL) .

Sau vài hớp rượu đỏ, chưa đủ mềm môi, và những câu thường lệ hỏi thăm sức khỏe, và câu không thể thiếu “Eugene có gì lạ không bạn?”, John đi ngay vào đề:

– Bệnh Viện Tâm thần cần một người thông thạo Pháp ngữ cho một bệnh nhân. Cô là case của tôi, người Cam Bốt, đến từ trại tị nạn Bataan bên Phi Luật Tân nói tiếng Pháp. Ở đây, thông dịch người Cam Bốt rất nhiều, nhưng cô ta không chịu nói tiếng mẹ đẻ, thế mới kỳ và mệt cho chúng tôi. Nên phải nhờ đến bạn, là người tôi thấy rất ư lý tưởng cho công việc này: Vừa là ông thầy Tây chính hiệu vừa là một cựu tù binh và thuyền nhân đã trải qua những chặng đời khổ ải nhất, nên dễ thông cảm những người bất hạnh. Thêm nữa: Tôi biết bạn có thời gian làm việc ở Phnom Penh. Perfect. Có lương thông dịch on call, ngoài giờ. Tôi biết trong tuần bạn bận lắm, cho nên chỉ xếp bạn làm vào chiều thứ Sáu đến hết trưa Chúa Nhật, kiếm thêm tí tiền còm, tuy ít nhưng cũng đỡ hơn tiền hái dâu hay rửa chén tại nhà hàng. Để tôi xin bệnh viện bao bữa ăn tối và cấp cho bạn một chỗ ngả lưng trong hai ngày đó. Chịu không?

Rồi bỗng John hỏi:

– À, mà bạn có biết hoặc nghe nói gì về bệnh tâm thần?

– Có chứ. Ở trại tỵ nạn Bataan, Phi Luật Tân, cuối năm 1984, tôi đã tham dự khóa học 15 tuần tuần về Community Mental Health and Family Services, được cấp bằng và thư giới thiệu. Học vừa xong, thì đầu năm 1985 được qua Mỹ, nên không có giờ thực hành, để lâu “lụt nghề” mất rồi.

John cười, khoan khoái:

– Tốt. Bây giờ chịu thực hành chưa?

Tại sao không, tôi tự hỏi? Độc thân dễ tính, ăn cơm hàng cháo chợ kinh niên, ở phòng thuê, ngủ sofa quanh năm suốt tháng, tự nhiên có nơi tá túc free cho mỗi cuối tuần, dại gì không chịu. Lý do nữa: tôi thầm mong bệnh nhân là Soriya, cô bạn trẻ đẹp người Cam Bốt, quê Battambang, thư ký đánh máy của tòa đại sứ VNCH tại Phnom-Penh mà tôi đã quen năm 1971 khi phục vụ Phái Đoàn Liên Lạc Quân Sự, và từ sau tháng 6, 1984, tại các trại tị nạn Philippines, đã vô vọng đi tìm gặp và nghĩ có thể bị Khmer Đỏ giết rồi. Biết đâu, may ra, lần này.

Tôi đáp, mắt sáng ngời hy vọng:

– OK trên nguyên tắc. Nhưng trước hết, có phải tên người ấy là Soriya?

Và kể vắn tắt cho John nghe chuyện của nàng. John trả lời:

– Trên giấy tờ ghi Boupha. Tên thân mật ở nhà gọi Champrin. Có thể Soriya là tên thân mật thứ hai, I don’t really know.

– Có thể lắm. Tôi chưa hề biết tên thật của Soriya. Nhưng tôi đồng ý.

John mừng rỡ, bắt tay tôi:

– Excellent. Tôi sẽ điền đơn chính thức cho bạn làm việc với bệnh viện để nếu cần bạn có phép đặc biệt được chia sẻ phần nào tin tức như một staff member.

Tôi bắt đầu công việc ngay tối ấy. Sau bữa ăn tại tiệm Yến Hà, vào Nhà Thương Núi cùng với anh để gặp Champrin. John nói sơ về cô. Con một ông cựu đại sứ Cam Bốt tại Pháp, học trung học tại Paris. Chồng là bác sĩ bị một tên Khmer Đỏ chém hai búa vào đầu, chết tươi, ngay tại sân bệnh viện, trước mắt cô, khi thủ đô Cam Bốt bị chiếm vào thượng tuần tháng 4, 1975. May lúc ấy chúng không biết cô là ai. Sau đó, cô trốn sang Thái Lan bằng đường bộ, cùng với một đám phụ nữ khác, tất cả bị lính canh phòng Thái bắt giữ trong rừng, hãm hiếp nhiều lần, trước khi được cứu thoát và đưa đến trại tị nạn của Cao ủy Liên Hiệp Quốc. Và một số được chuyển về Bataan ở sáu tháng, để học tiếng Anh và chuẩn bị đi Mỹ. Đến Salem, Oregon, sau một tuần lễ, cô được bác sĩ và thân nhân đưa vào đây chữa trị. Bệnh tâm thần: Post Traumatic Stress Disorder (PTSD), thường thấy ở những Viet Nam Veterans, và nạn nhân của những biến cố kinh hoàng, như chiến tranh hoặc tai nạn lưu thông. Mấy năm trước, một nữ thuyền nhân Việt Nam bị hải tặc hiếp cũng đã đến đây, cũng có những triệu chứng PTSD như thế, bây giờ khỏi bệnh rồi, sau khi được chữa bằng thuốc và tâm lý, nhất là tâm lý. Riêng Champrin còn bị thêm chứng Dissociative Identity Disorder (DID), hoặc Dual Personality –căn bệnh không nhất thiết là hậu quả của, nhưng có chút dây mơ rễ má với, PTSD, John cắt nghĩa vắn tắt theo kiến thức chuyên môn. Về từ ngữ, tôi hiểu, đại khái, nhưng phần bệnh lý thì mù mờ. Nhưng cần gì, nhiệm vụ của tôi chỉ là thông dịch.

2. Đêm xuống, lạnh vừa, đủ cho hồn đong đầy nhung nhớ và kỷ niệm. Mùa thu phủ màn sương dày trắng đục trên thành phố Portland. Ánh trăng lơ lửng treo giữa một vùng trời tỏa chiếu những tia vàng vọt, run rẩy, loãng tan. Những hàng cây trong khu bệnh viện khẽ rung mình trước những ngọn gió lùa qua. Không gian vắng ngắt, yên tĩnh đến rợn người.

Tôi được John dẫn vào phòng Champrin, nhỏ và ngăn nắp, gọn gàng. Không phải Soriya, tôi thở dài. Champrin còn trẻ, khoảng ba mươi ngoài, suýt soát tuổi của Soriya –mà năm 1971 chỉ mới mười chín. Mỗi nàng đẹp một vẻ. Champrin có mái tóc mượt đen, làn da trắng xanh, ánh mắt long lanh, đôi môi thắm, và dáng dấp một tiểu thư con nhà khuê các.

Vừa thấy tôi, cô đang nằm ngó mông lung lên trần nhà vụt choàng dậy, và mừng rỡ, nói liền một tràng tiếng Pháp, tutoyer (xưng “anh, em”) với tôi:

– Ôi, Rithisak đấy phải không anh? Em là Champrin đây mà. Em chờ anh đã bao năm rồi, nhớ anh quá chừng. Anh đi đâu bỏ em ở lại một mình? Ai đi với anh vậy?

Rồi lấy hai tay che mặt, cô rú lên, khi thấy John đến gần:

– Thằng lính Xiêm (Siamois) hả, hay thằng lính Pol Pot?

Tôi đứng im, bất động như trời trồng. Tiếng Pháp của cô thanh thoát, đúng giọng đầm. Tôi dịch liền cho John. Anh vui lắm, kéo tôi ra gần cửa, giải thích cặn kẽ cho tôi, trong khi, có lẽ vì không rành tiếng Anh, cô ngơ ngẩn nhìn theo hai người:

– Như thế thì quá tốt. Từ ngày nhập viện đến nay, cô lầm lầm lì lì, ít nói, lúc nào cũng buồn bã, ủ rũ, hoặc thỉnh thoảng ôm đầu la hét, run lẩy bẩy, hoảng sợ, như bị ai bóp cổ. Theo hồ sơ, cô phát bệnh từ hồi còn ở trại Băng Cốc, hoặc Bataan, nhưng chưa nặng như bây giờ. Vả lại, người tị nạn Đông Dương bằng đường bộ hay đường biển nào lại không có ít nhiều vấn đề liên quan tới tâm thần…

Tôi hỏi:

– Rithisak là ai vậy?

– Chồng cô, cũng người Cam Bốt, dòng dõi quý tộc, còn có tên Bernard, tốt nghiệp bác sĩ tại Montpellier, Pháp quốc. Người nhà cô cho tôi biết hai vợ chồng ngày xưa có thói quen nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp. Bạn hãy nhập vai Rithisak, please, và tùy cơ ứng biến xử sự cho đúng vai trò. Hãy quên bạn là Julien, cựu đại úy VNCH, hoặc đương kim giáo sư Pháp văn tại UO. Cứ để cô luân phiên sống một trong hai thể nhân, nghĩa là trong ảo tưởng, ảo ảnh, hay ảo giác. Nghĩa là, đơn giản hơn, Champrin đang là vợ của bác sĩ Bernard Rithisak qua hình bóng của Julien Nguyen. Cho đến khi cô tự động, tự nhiên bước ra khỏi cơn mộng dài, gặp lại personality đích thực của mình, tức là mỹ nhân Boupha –xuất thân từ một gia đình trưởng giả, quý phái, gặp bao nhiêu bất hạnh khi tuổi đời còn quá trẻ. Có gì vướng mắc cứ thoải mái hỏi tôi nhé. Good luck.

– Còn bao lâu nữa?

– Chưa biết được. Cũng tùy. Hai tháng, một năm…

Tôi lại thắc mắc:

– John à, tôi chỉ được mướn làm thông dịch viên, không phải diễn viên đóng kịch. Mà đóng kịch theo tôi đồng nghĩa với nói dối. Đó là vấn đề lương thiện.

John lắc đầu, mỉm cười:

– Ồ, lương thiện hả? Nếu ta không lợi dụng ai, không lường gạt ai, không làm chuyện bậy bạ thì lương tâm không có gì phải áy náy. Nhất là khi ta không cố tình chủ động làm những việc này vì tư lợi. Đạo giáo và luân lý nào cũng cấm ta nói dối, hay đóng kịch, dĩ nhiên, theo nghĩa bóng. Nhưng nói dối đôi khi cần thiết nếu để cứu mạng một người. Một bà mẹ sắp chết trên giường bệnh hỏi thăm về đứa con trai duy nhất mà bà không biết vừa mới tử trận, lúc ấy, tôi hỏi bạn, bạn phải nói thật hay tìm cách giấu, tức nói dối, tức đóng kịch? Trường hợp Champrin cũng không khác mấy.

Nói xong, không chờ câu trả lời, anh vỗ vai tôi, bỏ đi, nhẹ nhàng khép cửa, để tôi một mình với cô, lúng túng trước tình huống mà không ai ngờ, hoặc tính trước.

Champrin cười tươi, đứng lên, kéo tôi ngồi xuống chung giường.

– Anh có chuyện gì vậy, hả Bernard? Em là Boupha đây mà, anh không nhận ra em sao? Sao hôm nay anh hờ hững với em như thế hả? Ôm em đi.

Tôi ôm. Cô hôn môi, và vuốt má tôi:

– Trông anh gầy xanh, nhưng vẫn còn phong độ. Anh mới thay gọng kính hả? Lại còn để râu nữa! Bọn Khmer Đỏ thả anh về sao? Bọn chúng đối xử tốt với anh chứ nhỉ? Tội nghiệp, mon chéri!

Và cứ thế, cô tiếp tục câu chuyện, tiếp tục độc thoại. Những chuyện trên trời dưới đất, tôi chẳng hiểu gì cả. Lộn xộn, không đầu không đuôi, ngoại trừ, điều thật lạ, tiếng Pháp của cô vẫn lưu loát, đúng giọng, đúng văn phạm như của một người bình thường. Những chuyện ngày xưa thân ái giữa vợ chồng – mà bỗng dưng tôi phải xen vào một cách lờ mờ, thụ động. Lần hẹn hò khiêu vũ đầu tiên, Bernard nhớ không, anh khen em nhảy như con mèo cụt đuôi? Đám cưới đông, vui, hạnh phúc với biết bao bạn bè và người thân gia đình, có cả thằng em mất dạy của anh, nó dám chê tóc em bới đẹp quá. Tuần trăng mật tại Paris, ôi thôi, có bao nhiêu là đèn màu và một con ngựa chết trôi trên sông Seine (tôi cãi, làm gì có con ngựa chết trôi trên sông, cô khăng khăng nói “có mà, em thấy”). Rồi chiến tranh lan tràn. Rồi sự xuất hiện của tên coco (Cộng sản) Sihanouk và thằng salaud (khốn nạn) Iang Sary… Cô kể lể huyên thuyên, chuyện nọ xọ chuyện kia, như muốn giải tỏa những uẩn ức chất chứa từ lâu. Tôi chới với, ngồi im, chịu trận. Miễn cưỡng ôm và hôn cô, vô hồn như người máy theo yêu cầu của vai kịch bất đắc dĩ. Chỉ nghe, và nói rất ít, vả lại cũng chẳng biết nói gì, lỡ sai, hỏng việc.

Một lát sau, cô hỏi về con chó trắng lông xù của hai người trong căn nhà ở đại lộ Monivong bây giờ đâu rồi, về bà dì của Rithisak thường gắn trên tóc cô những vòng hoa lilas để đi dạ hội mà bây giờ không biết ra sao từ biến cố 1975, về ước ao của cô được có một đứa con, gái trai gì cũng được, peu importe… Tôi ú ớ vài giây, rồi sực nhớ lời dặn của John, ráng trả lời cầm chừng, lửng lơ, nước đôi.

Bỗng nhiên, cô hất mạnh tay tôi, nhăn mặt, lớn tiếng: “Tại sao anh không nói gì cả? Bộ anh mê đứa nào, rồi lạnh lùng với em phải không?”

Tôi dịu dàng, nói dối một cách trơn tru, nhuần nhuyễn, như một con vẹt thuộc bài: “Anh vẫn yêu em mà, như anh đã từng yêu em, cho đến hết cuộc đời. Em không tin anh sao… Je t’aime toujours, comme je t’ai toujours aimée, jusqu’à la fin de ma vie, de notre vie. Tu ne m’en crois pas?”. Champrin gật đầu, hài lòng, không nói nữa, ôm chặt lấy tôi. Rồi có lẽ thấy mệt, cô nằm lại xuống giường, sau khi hôn tôi bonne nuit, mon chéri. Một lát sau, cô thiêm thiếp, hơi thở dồn dập, rồi chìm vào giấc ngủ nặng nề.

Tôi lấy chăn đắp cho cô, ngắm cô giây lâu, nghĩ thầm: “Dính vào người điên, mệt quá, nhưng lỡ rồi”, rồi chặc lưỡi, lặng lẽ mở cửa phòng, bước ra hành lang, đứng nhìn bóng đêm ngập khu vườn nhỏ trước mặt. Một nỗi thương cảm tràn dâng, cùng lúc với sự mệt mỏi, căng thẳng thần kinh. Và nhớ câu nói muôn đời của cha ông ta: Hồng nhan bạc phận. Tôi nghĩ đến nỗi gian truân của bao khách má hồng tự thuở xưa, mà Thúy Kiều của cụ Nguyễn Du là một. Đến giấc mơ hoa tàn vỡ của em gái Bội Trân, sau khi hôn phu, một phi công, chết trong tù cải tạo, đang chôn vùi tuổi xuân và khổ hận trong một Dòng Kín xa xôi. Đến Lệ Ngà, đến Hương Mai, đến Marita, và biết đâu Soriya – những mỹ nhân đã sớm lìa bỏ dương trần, từ những mùa chinh chiến cũ, còn để mãi trong tim vàng võ của tôi dung nhan yêu kiều và kỷ niệm xót xa. Bây giờ đến lượt Champrin. Người đẹp có bao giờ được hạnh phúc, tại sao? Hay đó là quy luật bù trừ đặt ra bởi ông “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” (Kiều)?

Từ ấy, cứ mỗi chiều thứ Sáu, tôi lên Portland, ăn tối với John, rồi ghé “làm việc” với Champrin trong điều kiện gay cấn như thế. Và mỗi lần, thấy cô thêm hồng hào, thêm xinh đẹp, nói năng thêm mạch lạc. Nhưng vẫn tưởng (lầm) tôi là Rithisak, hay Bernard. Phần tôi, đôi khi cứ tưởng (bở) mình là chồng cô thật. Quen hơi, riết rồi, những ngày ở Eugene tôi dần dần thấy nhớ về cô một cách kỳ lạ. Nhớ mùi hương phấn từ khắp người cô, trên áo, trên vai, trên tóc, trên môi. Nhớ những lời yêu, điên mê, nồng cháy, mà vẫn dịu dàng, cô dành cho người đã khuất. Thoáng nghe bên mình những khát khao bất chợt, òa vỡ, được làm chồng cô thật sự, để ôm siết cô thực lòng trong vòng tay rực lửa – những khát khao, dù sao, cũng bị áp chế mau chóng bởi nỗi lo âu trước trách nhiệm, đạo lý, chưa kể lương tâm “nghề nghiệp”, và nhất là cặp mắt tinh quái của ông bạn kiêm “ông chủ” John, người giấu mặt, nhưng có thể thấy hết, nghe hết, biết hết. Hoặc an toàn hơn, thầm mong vẩn vơ, một ngày, cô lành bệnh, biết đâu cả hai, đều độc thân và tự do như gió, sẽ kết tóc xe tơ một cách hợp pháp, tại sao không? Ôi, giấc mơ ngà ngọc trong những đêm trường Eugene cô liêu, trằn trọc, thở dài.

3. Thấm thoắt mà ba tháng trôi qua, từ đó. Thu đi, Đông đến. Trời thay mùa, giá buốt, lạnh cắt da, buổi sáng và buổi chiều có hàng triệu giọt sương la đà, giăng mắc trên cây cành trụi lá. Có những ngày tuyết đổ và đường đóng băng. Tôi được nghỉ Noël và Tết Tây và lên Portland tị nạn một tuần lễ tại gia đình tiệm ăn Yến Hà – nơi mà ngày còn học tại PSU tôi đã đến rửa chén kiếm tiền cash. Một buổi trưa trời bỗng trở nắng đẹp, ấm áp, John gọi gấp:

– Bạn có thể đến dẫn Champrin dạo vườn một chút được chứ?

Sure, tôi trả lời. Khu vườn chan hòa ánh sáng với từng vạt nắng vàng óng ả soi dọi trên những giọt sương tan, lóng lánh muôn màu, trên lối đi xào xạc lá và cỏ khô loang lổ trắng, dấu vết của mùa thu và trận bão tuyết tuần trước –những lối nhỏ mà tôi gọi là “nẻo đường mơ”, khiến Champrin hớn hở lặp lại: “C’est ça, Bernard, l’allée du rêve. La nôtre.” “Nẻo mơ của chúng ta, cô tiếp, trên đó ta sẽ dìu nhau đi cho đến hết cuộc đời, phải không chéri?” Tôi mỉm cười, gật đầu.

Chúng tôi sánh bước bên nhau, tay trong tay. Làm tôi nhớ những lời thơ Xuân Diệu: “Chúng tôi lặng lẽ bước trong thơ / Lạc giữa niềm êm chẳng bến bờ”… Có lúc cô ngừng bước, tựa đầu vào vai tôi, thủ thỉ: “Oh, que tu es beau, et comme je t’aime, Rithisak. Comme toujours!” (Ôi, anh đẹp trai quá chừng, và em yêu anh xiết bao, Rithisak. Như luôn luôn!). Trưa hôm ấy, cô mặc áo len ấm màu xanh, bên ngoài khoác chiếc manteau tím nhạt. Tóc cài hờ hững với một cánh hoa vàng tự chế. Chân mỏi, chúng tôi đến ngồi trên băng ghế gỗ. Cô ngước nhìn bầu trời xa thẳm, xanh biếc một màu. Rồi bất thần hỏi tôi:

-Đời sống tươi đẹp như thế này, mà tại sao Thượng Đế bày ra chiến tranh làm chi, hỡi anh?

Câu hỏi không dễ trả lời và lúc ấy quá bất ngờ đối với tôi. Tôi lắc đầu:

– Không phải Thượng Đế bày ra. Chiến tranh, cũng như đau khổ, là do con người.

– Con người, con người, không, con người đã bị chiến tranh tiêu diệt hết rồi, còn đâu? Con người là cái gì? Là tay sai và nạn nhân của Thượng Đế, phải không? Nếu Thượng đế ác độc kia không bày ra chiến tranh thì con người ngu dốt lấy đâu bom đạn, để chém giết nhau, gây ra bao nhiêu máu lệ chan hòa mặt đất?

Nói đến đó, cô ôm mặt khóc nức nở: “Ôi, em sợ quá, máu đổ thịt rơi khắp nơi. Cứu em với! Au secours! Au secours! Kìa, dao găm, mã tấu, búa tạ, trời ơi! Anh có đau lắm không, Bernard?”. Tôi liếc nhìn cô, cảm thấy lo ngại, vì biết bệnh cô chưa hoàn toàn khỏi, lúc tỉnh lúc mê. Tôi ôm cô, vỗ về: “Không có gì phải sợ, vì có anh bên cạnh em”. “Thật không?”, cô hỏi.

Một lúc sau, Champrin lại nói:

– Thượng Đế ác quá, cứ bắt con người đánh nhau hoài.

Tôi ôn tồn trả lời:

– Không phải vậy đâu em. Thượng Đế nhân từ của chúng ta không ác như thế. Chỉ có những thần linh bất tử trong thần thoại Hy Lạp vì không được diễm phúc chết như loài người, nên sinh ra ghen tức với họ, bắt họ phải chém giết lẫn nhau cho bõ ghét. Anh suy nghiệm điều này từ L’Odyssée của Homère mà chắc em cũng đã học ở trường. Trong L’Iliade, các thần linh, đứng đầu là Jupiter, chia thành hai phe đối nghịch trong cuộc chiến tranh, mà chính họ gây ra, giữa thành Troie và Hy Lạp – xúi giục hai bên đánh nhau chí tử…

Tôi bỗng nhớ hình như đã nói điều này với Soriya trong một bữa ăn tối tại Phnom Penh năm nào. Lúc ấy, Soriya đã gật đầu đồng ý với tôi. Còn Champrin thì có vẻ lạc lõng, không hiểu gì.

Cô nắm lấy bàn tay tôi, vuốt ve, và tỉ tê:

– Anh có bao giờ muốn chiến tranh, Bernard? Anh có bao giờ muốn đi lính giết hết bọn Khmer Đỏ để báo thù cho anh, báo thù cho em không?

– Dĩ nhiên, anh không muốn chiến tranh, nhưng trả thù cho em thì muốn lắm chứ!

– Được, em tin anh, Bernard. Anh là bác sĩ mà! Bàn tay anh mềm mại quá. Đâu phải để cầm súng giết ai, mà chỉ để xoa dịu nỗi đau cho đời.

Câu chuyện về chiến tranh, hận thù, chém giết, con người, thần linh… cứ vậy tiếp nối, lan man, khiến tôi mệt óc, muốn khùng luôn. Cho đến hai giờ sau, khi bóng chiều xuống nhanh, mặt trời sửa soạn đi ngủ sớm, cô than nhức đầu, và đề nghị tôi đưa về phòng nghỉ. Sau đó, tôi đi gặp John, “báo cáo” tỉ mỉ kết quả buổi dạo vườn trưa hôm ấy. Anh vui mừng bảo: “Cô biết hỏi những câu như vậy chứng tỏ đã tiến đến giai đoạn khỏi bệnh”, nhưng không cắt nghĩa tại sao. Tôi tin vào khả năng chuyên môn của anh, nên không hỏi gì.

Hai tuần sau, John gọi thăm tôi từ OHSU, báo tin Champrin “được đánh giá là đã bình phục, tuy chưa hoàn toàn, nhưng có thể xuất viện, do yêu cầu của gia đình”. Cô đã tỉnh, anh nói tiếp, nghĩa là biết personality thật của mình, nhận ra mình là ai rồi. Anh cám ơn tôi và mời lên Portland tham dự bữa tiếp tân “mãn khóa” tiễn cô về với thân nhân.

Suốt tuần lễ ấy, tôi nôn nao đợi ngày thứ bảy tới nhanh, chuẩn bị quần áo, cà vạt, lịch sự hơn mọi khi, nhất là cố nhớ lại những câu lãng mạn trong tiểu thuyết trữ tình lâu ngày đã quên, cùng với những lời hẹn ước sau này được gặp lại nhau ở một khung trời nào khác đầy mộng, đầy thơ, có hoa, có bướm, có những nẻo đường mơ rợp nắng Thu vàng – đẹp hơn những allées mà chúng tôi đã đi qua trong khu vườn bệnh viện.

4. Trưa hôm ấy, khi tôi bước vào phòng tiếp tân thì John và các nhân viên Mental Health Department đã tề tựu đông đủ, có cả nữ bác sĩ giám đốc Marilyn, người đã thỉnh thoảng hỏi thăm tôi về Champrin, vây quanh nói chuyện với cô. Cô đẹp lộng lẫy trong chiếc sarong màu xanh đậm, vẻ mặt rạng rỡ. Trên bàn đầy hoa và bánh cookie, nước ngọt. Tôi thủ sẵn nụ cười tươi, và đầy tự tin tiến đến chào, nhưng cô nhìn tôi xa lạ, ngơ ngác, mà vẫn lịch sự chìa tay cho tôi bắt, ngập ngừng nói bằng một thứ tiếng Anh ESL 101, có lẽ học tại Bataan:

– Hi, Mr… Xin lỗi, ông là…?

Tôi vô cùng ngạc nhiên, thất vọng và thấy “quê” quá, chưa kịp đáp thì John xuất hiện, đỡ lời:

– Ngu-y-en. Professor Julien Ngu-y-en, từ University of Oregon, bạn tôi.

– À. Hân hạnh biết ông, Professor Ngu-y-en, cô trả lời, vẻ thản nhiên.

Rồi quay sang tươi cười, ríu rít bằng tiếng Cam Bốt với một cô, cũng mặc sarong, mà John giới thiệu là Chandrea, em gái của Champrin, định cư tại Mỹ từ 1975, đến để rước cô về Long Beach, California. Cả người tôi chợt lảo đảo như bị sét đánh, chết điếng, thấy mình tự dưng vô ích, thừa thãi giữa đám đông, nhưng vẫn cố giữ vẻ bình tĩnh. John lại đến bên, một tay cầm ly coke, tay kia kéo tôi ra góc phòng, cười vui, nói khẽ, với một chút hóm hỉnh:

– Champrin khỏi bệnh, bây giờ là Boupha, đã biết mình là ai, cho nên không biết bạn là ai, dĩ nhiên. Nghĩa là trong trí cô, Julien là một anh chàng Julien lạ hoắc, không còn thay thế Rithisak hay Bernard để làm chồng hờ nói tiếng Pháp của cô nữa. Đó, bạn đã thấy sự kỳ diệu của ngành tâm thần học chưa? Tất cả là nhờ công lao và tài diễn xuất tuyệt vời của bạn. Mission well accomplished, cám ơn và chúc mừng bạn.

Tôi gượng cười:

– Tôi cũng rất mừng cho cô ấy, và cho bạn.

Rồi John đi vòng vòng, tiếp tục chuyện trò với đồng nghiệp, bỏ tôi đứng ngẩn ngơ với sự tiếc nuối dày vò. Và tự ái nữa. Lòng ấm ức như hồi nhỏ bị mấy thằng nhóc lừa đánh cắp đồ chơi. Tôi trở về Eugene ngay chiều ấy, loay hoay với câu hỏi thật vô lý, rất điên rồ: “Sao Champrin không tiếp tục điên, cho tôi cứ tưởng nàng yêu tôi thật?”

5. Hơn hai mươi năm trôi qua kể từ mùa thu ấy. Tôi không bao giờ gặp lại Champrin – mà, khác với Soriya, tôi cũng không cố đi tìm gặp lại, coi chuyện đóng vai chồng hờ của cô như một kỷ niệm buồn, hơi vô duyên, mà hi hữu, ngàn năm một thuở. Còn John, sau đó, xin nghỉ việc tại OHSU, đi truyền giáo trở lại. Trong một bữa ăn tối, nhắc đến Champrin, anh cho biết cô đã hoàn toàn bình thường, làm lại cuộc đời với một đồng hương tị nạn góa vợ, cựu sĩ quan thân tín của Lon Nol. Anh chồng trở về Phnom Penh, làm bộ trưởng gì đó trong chính phủ Hun Sen, thân Việt Cộng, nhưng cô nhất quyết ở lại Mỹ, không chịu theo về để nhìn thấy quê hương, dù chỉ một ngày, khiến anh ta bị kẹt, không biết tính sao.

Rồi đến năm 1995, tôi cũng được làm chồng, lần này thật. Không giống bệnh nhân Champrin, Loan rất tỉnh táo, khi nhận lấy tôi, trước mặt cha xứ họ đạo và nhiều giáo dân trong nhà thờ. Mặc dù tình yêu lúc nào cũng được ví như là một cơn điên.

Portland, 12 December 2013
Kim Thanh

Share this post