Mùa Thu Hoa Azer – Kim Thanh

Mùa Thu Hoa Azer – Kim Thanh

      Thực tình, tôi không rành, và cũng không mê lắm, những gì ngoài thơ văn, ví dụ âm nhạc hay hội họa. Nói chi nhiếp ảnh –một bộ môn, mà dù nghệ thuật hay không, tôi vẫn cho là quá xa lạ, cao vời, vượt khả năng thẩm thấu và trình độ thưởng lãm kém cỏi của tôi. Và nhất là, tôi nghĩ, quá hiện thực, “chụp” lên hồn kinh niên lãng mạn, bủa vây, kéo tôi xuống cuộc đời ô trọc, dìm cánh không cho bay về cõi mộng thơ, sương khói phiêu bồng, mặc dầu tôi chưa một ngày làm thi sĩ để mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây (Xuân Diệu).

      Một lý do cá nhân khác khiến tôi dị ứng với môn nhiếp ảnh, ấy là hai bức hình đã làm tôi giận, từ hồi còn chiến tranh. Một do Nick Ut, AP, năm 1972, về cô bé Trảng Bàng, trần truồng chạy trên đường sau đợt bom napalm (Napalm Girl, theo báo chí Mỹ) –bức hình đã bị lũ chủ hòa thân Cộng quốc tế, trong số có chính tác giả Nick Ut, và bọn Việt cộng, Việt gian vồ lấy, khai thác tuyên truyền ầm ĩ mãi cho đến hôm nay, và được trao giải Pulitzer, dù không mấy xuất sắc, về mặt nghệ thuật và tính thời sự so với các tấm ảnh chiến tranh khác, bi thảm hơn, của những nạn nhân Cộng sản, vào Tết Mậu Thân, chẳng hạn. Và một của Eddie Adams, năm 1968, về cảnh một ông tướng của ta lạnh lùng dí súng bắn vào đầu tên Việt Cộng trên đường phố Sài Gòn –bức ảnh đã gây phẫn nộ cho người Mỹ vốn thượng tôn pháp luật và thù ghét chiến tranh, và làm rung rinh chế độ VNCH lúc ấy. Cũng may, tôi tự an ủi, đối lại, chúng ta có nhiếp ảnh gia quân đội Nguyễn Ngọc Hạnh danh tiếng lẫy lừng, và nhiều phóng viên tài ba khác, với những bức hình hùng hồn minh chứng và ca ngợi sự hy sinh cao quý, tuyệt vời của các chiến sĩ quốc gia (Viet Nam in Flames, in tại Hong Kong).

      Cho nên, chiều 14/10/2007, tôi đã đến xem các bức ảnh của chị, nhiếp ảnh viên Hoa Azer, bởi mối thân tình dành cho nhau, hơn là vì lòng yêu mến nghệ thuật.

        Nhưng khi cùng với một số khách xem bước vào phòng triển lãm “tại gia” khá rộng, choáng ngợp bởi hơn một trăm bức ảnh màu, hoặc đen trắng, phóng lớn, lấp lánh dưới ánh đèn dịu êm, mờ đủ để che giấu bao xúc động dâng lên đầy mắt, giữa tiếng nhạc cổ điển dặt dìu, vẳng sang từ phòng bên, tôi thấy mình đã lầm vì những cảm nghĩ tiêu cực về bộ môn nhiếp ảnh. Ở một nơi mà hương thơm, màu sắc và thanh âm đáp lời nhau, như trong thơ Baudelaire (Les parfums, les couleurs et les sons se répondent), làm hồn thấy lâng lâng, như siêu thoát. Những bức ảnh đóng thành khung, tự tạo, phô bày những tĩnh vật đơn lẻ, phong cảnh, chim muông, hoa lá. Tất cả được cẩn trọng đính trên bốn bức tường trắng, một cách tình cờ cố ý, không theo chủ đề, thứ tự, càng thêm nổi bật, chơ vơ, như gọi mời, giục giã. Tôi chăm chú ngắm nhìn, tai lắng nghe chủ nhân dẫn giải không ngừng về xuất xứ, ý nghĩa, mà tâm tư rộn rã một nỗi vui chợt đến, bất ngờ.

        Ðây, một cặp thiên nga –một trong những bức hình đẹp nhất– đang e ấp, Hoa Azer giải thích, tỏ lời yêu cho nhau, hạnh phúc bên mặt hồ gợn sóng lăn tăn, trong ánh chiều nhẹ vương, khiến tôi tự dưng ngậm ngùi, không hiểu sao, lại nghĩ đến những đôi lứa bên trời lậnđận, những tình nhân bạc số, khắc khoải chờ mong phút sum vầy ở một cõi khác, trăm lần tốt đẹp hơn cuộc đời này. Tôi cố nhìn, cho thật rõ. Quả như thế. Không có chị cắt nghĩa, làm sao bắt nắm được cái hồn thiên thu bàng bạc, cái nét tượng trưng nhẹ hơn tơ sương, trong mỗi tấm ảnh, cũng như, ở một bối cảnh khác, trên mỗi bức tranh, mỗi trang thơ, mỗi cung nhạc, trên mỗi thực thể mà đôi mắt phàm tục, của tôi chẳng hạn, cứ ngỡ bất động, vô tình, hờ hững. Kia, một đóa hồng nhung Portland, đơn chiếc, nở vào Mother’s Day, chụp năm 2006 –màu hồng thắm tươi mà tôi đã thôi cài trên áo, từ mấy độ thu rồi, từ ngày mẹ ra đi về với Tuổi. Kia nữa, một rừng hoa khác, cúc vàng, sen đỏ, bông súng, phong lan, anh đào, mẫu đơn, thược dược, tulipe, iris… như đang thi nhau khoe sắc hương, mỗi loài một vẻ, mười phân vẹn mười. Hay hai chiếc lá thu vàng rơi rụng, quấn quít lấy nhau –hình ảnh đã gặp trong một đoạn văn làm nhỏ lệ của François Coppée (Toute une jeunesse) học thời niên thiếu. Hay hai trái cây còn nguyên núm, xanh mơn mởn nằm kề, như trong tranh vẽ “thiên nhiên chết” (nature morte) của Monet (Pears and Grapes, 1880), của Cézanne (Apples and Oranges, 1895), hoặc lãng mạn hơn, như hai quả đào thơm trên Thiên Thai huyễn mộng ngày nào được các tiên nữ, yêu kiều trong vũ khúc nghê thường, hái tặng Lưu Nguyễn, làm hai chàng quên cả lối về trần gian. Và đây, một cánh chim lẻ loi trong hoàng hôn tím, trên điệp trùng núi đồi, gợi nhắc thân phận của con người mong manh giữa vũ trụ bao la. Kia, một phượng hoàng, hay diều hâu, tôi không chắc, chuẩn bị tung bay, xòe đôi cánh vút cao, sừng sững, che một khoảng trời xanh thẫm, vần vũ mây, là biểu tượng của dấn thân, hào hùng, bất khuất. Hay một gia đình bồ nông (pélican) gồm mẹ, cha, và hai con nhỏ, quây quần săn cá, và bỗng dưng tôi nhớ bài thơ cảm động của Musset về chuyện một bồ nông huyền thoại đã mổ rút ruột gan mình cho con ăn trong cơn đói và, kiệt sức, vẫn ráng bay đi tìm chỗ vắng để chết một mình (La Nuit de Mai). Một chị cò, không phải đi ăn đêm đậu phải cành mềm trong bài ca dao, mà đứng rỉa lông dưới nắng mai, dáng kiêu sa, thanh thoát. Một chú hải âu đang xoải cánh bay qua trùng dương bát ngát –trái với hình ảnh bi thương của kiếp thi nhân mà Baudelaire vẽ nên trong bài thơ L’albatros đầy tính tượng trưng, khi chim rơi xuống boang tàu, bị bắt và hành hạ bởi đám thủy thủ phàm phu, lỗ mãng. Vân vân… Tất cả các bức ảnh của Hoa Azer, quả vậy, đều mang ít nhiều hàm súc, như những tiếng nhạc, lời thơ, nét họa. Tất cả tỏa một sức sống nội tâm, mãnh liệt, qua vẻ ngoài dung dị, trầm mặc, có khi thờ ơ.

        Chưa hết. Và đây, tôi ngắm đi ngắm lại những bức chụp phong cảnh, toàn là mùa thu, ở Portland, hay một nơi nào, buồn bã với những lối mòn vắng vẻ, những con đường sâu hun hút ngập xác lá, giữa hai hàng cây vàng đỏ đứng im lìm trong gió. Mùa thu Hoa Azer đấy. Không có rặng liễu đìu hiu và áo mơ phai, hay ít nhiều thiếu nữ buồn không nói của Xuân Diệu và dòng thơ lãng mạn tiền chiến. Không có khóm trúc tuôn rơi dòng lệ cũ của Ðỗ Phủ (Thu hứng). Không có tiếng vĩ cầm nức nở, les sanglots longs / des violons, của Verlaine.Không có con nai vàng ngơ ngác trong thơ Lưu Trọng Lư hay trên tranh lụa Castiglione (Autumn Cries on the Artemesia Plain). Không có mùi thời gian cọng thạch thảo, odeur du temps brin de bruyère, như trong L’adieu của Apollinaire. Mà chỉ thấy vương vất đâu đây hồn thu Nguyễn Du man mác điệu buồn vô tận trên rừng phong thu đã nhuốm màu quan san. Úa vàng, như màu của biệt ly, của cách xa muôn trùng, của bao trăng thề đã vỡ. Màu của mùa thu Hoa Azer.

       Muốn đạt đến trình độ trác tuyệt ấy, và hoàn thành những bức ảnh có giá trị cao như thế, không dễ gì. Bởi vì ngoài tài năng, kỹ thuật, óc sáng tạo, nhiếp ảnh gia, tức Hoa Azer, còn phải có sự đam mê vô biên. Ðam mê của một nghệ sĩ đích thực, bất vụ lợi, hết lòng cho nghệ thuật vị nghệ thuật. Và kiên nhẫn nữa, bởi sáng tạo, nghệ thuật hay văn chương, như ai viết, là một sự kiên nhẫn phi thường. Ðể chụp, chẳng hạn, cảnh một thiên nga vừa tắm xong, lên bờ phơi cánh ướt dưới nắng mai, hay một chim ưng chuẩn bị bay vào trời giông bão, hay một con diệc (héron) đang so vai, rụt cổ, hay một đóa hoa hàm tiếu sắp sửa hé cười, Hoa Azer nói, chị đã phải rình chờ hàng giờ, hàng ngày, hàng tháng, nhất là đối với chim chóc, vốn rất di động, “sẩy một tí là mất một dịp bằng vàng và bao nhiêu công sức”, tại một địa điểm cách xa nhà chị hàng trăm dặm, có khi ở một tiểu bang khác, hoặc ngay trên quê hương Việt Nam, là những nơi có nhiều “đặc sản” quý hiếm mà chị cố truy lùng. Chụp không kịp, hoặc không ưng ý, là phải làm lại các “thủ tục” từ đầu. Ðể chụp một cảnh chiều tà, chị phải dậy từ sớm tinh mơ, lái xe nhiều giờ, qua nhiều chặng đường, chọn chỗ thích hợp cho một buổi hoàng hôn lý tưởng, thật đẹp, thật gợi tình với mây ngàn bay, với ánh sáng vừa độ, và màu sắc trung thực, khách quan, tất cả sẽ được “bắt” trong một khoảnh khắc vĩnh cửu, diệu kỳ. Rồi phải nghĩ đến các cảm xúc sẽ gây nên trong lòng người thưởng lãm về thiên nhiên tuyệt đẹp, về đất trời mênh mông khôn cùng –mà triết gia Pascal đã hơn một lần nói đến và rùng mình hãi sợ. Rồi tại vị trí đặt máy, chị phải ngồi đếm bước thời gian qua thật chậm, nhẫn nại chờ “phép lạ” xảy đến. Nhiếp ảnh, vì thế, khó hơn hội họa (nhất là vẽ lập thể), vì không được phép tưởng tượng, tự do, phóng túng, uốn nắn, mà chỉ gợi ra từ một hiện thực cứng nhắc, lạnh lùng –như họa phái, hoặc thi phái, tượng trưng (symbolisme), ấn tượng (impressionisme) vẫn làm– những điều chủ quan sâu thẳm, mơ hồ, lãng đãng, chất chứa trong mỗi tấm hình chụp, cũng như trên mỗi dòng thơ, và ở mỗi tâm tư cá nhân của khách xem.

Nỗi đam mê ấy còn được bộc lộ qua cung cách Hoa Azer dẫn giải về từng tác phẩm. Chỉ cần khách hỏi đến chưa dứt câu là chị đã sốt sắng trả lời ngay, thao thao bất tuyệt, say sưa như bị cuốn hút vào thế giới siêu thực, đúng hơn là siêu hình, viễn mơ nào mà chị muốn chia sẻ, say sưa như chưa một lần được cạn hết tâm sự về những đứa con tinh thần yêu quý mà không ai biết đến của mình. Mắt chị ngời sáng, niềm vui lộ rõ. Và lộ rõ hơn, kiến thức chuyên môn rộng rãi của chị về bộ môn nhiếp ảnh nói chung, và trường hợp “sáng tạo”, ý nghĩa hàm súc tiềm ẩn trong mỗi bức ảnh nói riêng. Tôi lắng nghe, chỉ biết gật đầu, cảm phục. Thế giới của Hoa Azer. Vừa hiện thực vừa huyền ảo. Vừa vô tri vừa sống động, một cách dị thường. Thế giới của Albert Samain, mà những cánh hoa, trong những chiều lạ lùng, đều mang một linh hồn (Il est d’étranges soirs où les fleurs ont une âme)Dị thường, như chính cuộc đời, quanh ta, muôn màu, muôn vẻ.

        Linh hồn của những bức hình, đã bắt gặp chiều nay, bỗng trở thành gắn bó, ôi sao ngất ngây như men rượu “bách nhật” chị rót mời. Ngoài kia, hoàng hôn dần xuống, kéo theo những tia vàng rực rỡ nhảy múa, rung mình trên làn nước xanh biếc từ cuối hồ Blue Lake chảy về, ngừng lại sau nhà chị, ở Fairview. Những căn đối diện in hình lung linh trong nắng, đẹp như mơ, như những bức ảnh mà chị đã khổ công tạo dựng. Và bỗng dưng, trong tôi, như dòng Danube lững lờ, năm nào, trên cầu, đứng ngắm chiều thu soi bóng, bên bờ thành Vienne, cùng với người yêu dấu, tay trong tay, vai kề vai, mặc gió ghen tuông lùa qua tóc rối, bềnh bồng. Bettina. Kỷ niệm. Ôi kỷ niệm, còn réo gọi ta chi, chiều nay?

        Tôi đứng trên deck sau nhà, mơ mộng xa xôi. Bỗng có tiếng chân Hoa Azer đến gần, đưa tôi về thực tại. Tôi quay lại. Chị cười, hỏi tôi thích bức ảnh nào nhất. Tôi trả lời, tôi thích tất cả, vì tất cả đều đẹp. Nhưng, nếu chị hỏi, có lẽ tôi thích nhất bức đôi thiên nga tỏ tình bên hồ. Tôi vốn nòi lãng mạn mà, tôi cười nói. Chị hứa tặng tôi bức ấy.

        Sương chiều bắt đầu rơi, lành lạnh. Chị tâm sự: “Hồi nhỏ, em thích vẽ, thích hát lắm. Nhưng bị bố mẹ ngăn cấm. Bố bảo, con gái học vẽ làm gì. Còn hát thì chỉ được hát trong ca đoàn nhà thờ. Những khi bố mẹ đi vắng, em lén vẽ, và ca những bài trữ tình mình ưa. Lớn lên, được tự do, em lại không thích vẽ nữa, và không hát nữa. Mà thích chụp (ảnh).” Thấy tôi im lặng, vẻ ngạc nhiên, chị cắt nghĩa: “Em thích cái gì trung thực, dù là nghệ thuật. Em không thể, ví dụ, pha chế, hay tưởng tượng màu sắc cho cảnh bình minh trên đỉnh núi, sương mờ vây phủ, vì như vậy, theo thiển ý, có vẻ giả tạo và chủ quan quá. Em học nhiếp ảnh với thầy Nguyễn Ngọc Hạnh, anh chắc nghe tên, và được thầy chỉ dạy tận tình. Qua đây, em được gặp lại thầy ở Cali. Em cảm thấy mình may mắn lắm.” Tôi vẫn im lặng, mỉm cười, vì không biết đóng góp gì cho câu chuyện về bộ môn mình không thấu đáo. Chị nói nhỏ: “Nếu anh có viết gì về buổi triển lãm này, em xin anh ghi thêm những lời tâm sự này nhé. Cám ơn anh.” Tôi gật đầu như cái máy –không hiểu, và quên hỏi, lý do. Nhưng tôi đã giữ đúng lời hứa.

        Cám ơn chị đã cho đời những bức ảnh đẹp, hiếm quý. Và hơn nữa, đã cho tôi hiểu trọn vẹn nghĩa đam mê và lòng yêu nghệ thuật say đắm. Cũng bởi vì thiếu đam mê, say đắm mà gần hết một đời tôi đã chẳng làm nên tích sự gì, ngoài những bài viết vớ vẩn, lỗi thời, để người mua vui cũng không được một trống canh. Cũng bởi vì thiếu khát khao, mê đắm, mà từng cuộc tình đã vuột bay, như cát trôi qua kẽ tay, cho lòng tiếc nuối khôn nguôi, như, hỡi ơi,

Gió đời thổi mãi phai hương sắc

Hoa ở cành xưa cánh đã rơi

                 (Thơ Ðỗ Mục, Hoàng Hải Thủy dịch)

Portland, tháng 10, 2007

KT

Share this post