Nàng Chưa Hóa Đá – Cao Mỵ Nhân

Nàng Chưa Hóa Đá – Cao Mỵ Nhân

Lẽ ra tôi viết bài này với cái tựa là “Chị Đi”, chị là phu nhân thi sĩ Trung Tá Không Quân Cung Trầm Tưởng, lại phải thêm câu: “Lên xe tiễn em đi…” trong bài thơ “Tiễn Em” nổi tiếng của thi sĩ tên tuổi này.

Chị đi ngày thứ Sáu 28/7/2017. Chị đi ư? Thật rồi, anh đã cho đăng cáo phó và gia đình đã chuẩn bị tang lễ.

Chị tên Tịnh, nên cuộc rời khỏi cõi thế của chị, cũng …thanh tịnh, tĩnh lặng như nhũ danh của chị, hiền lành, chút gì thơ mộng …thì mới là giai nhân của thi sĩ nổi tiếng được chứ.

Biết thế thôi, từ những dòng viết sắp tới đây, chị là một nàng Tô phụ chưa hoá đá, như lâu nay, kể từ ngày thi sĩ Cung Trầm Tưởng còn ở trong lao tù Cộng Sản, anh đã cảm kích tấm lòng chung thủy, sắt son của những người vợ tù cải tạo, thi sĩ tôn phong quý bà vợ trung trinh tiết liệt ấy, là NHỮNG NÀNG TÔ PHỤ CHƯA HOÁ ĐÁ.

Trong dịp tổng trở về từ các trại tù cải tạo 2/9/1987 (đợt tổng trở về lần 2 là Tết Mậu Thìn 1988), thi sĩ Cung Trầm Tưởng vẫn rất phong độ, năm đó, nhà thơ Hà Nội – Paris này mới 55 tuổi.

Tôi đang chơi ở nhà ông bà thi sĩ Hà Thượng Nhân, thì một chiếc Honda chạy ào ào vô sân nhà, họa sĩ Đằng Giao chở thi sĩ Cung Trầm Tưởng mới ra tù, tới thăm Hà Chưởng Môn. Nghe danh thi sĩ Cung Trầm Tưởng từ lâu lắm rồi, một trong bộ 3 người trí thức tiểu tư sản Văn Nghệ Sĩ nổi tiếng, là Thanh Tâm Tuyền, Cung Trầm Tưởng và họa sĩ Nghy Cao Nguyên từ trước 1975 nhiều năm, nay mới được diện kiến.

Ông rất trẻ trung trong bộ quần Jean, áo chemise mầu xanh lơ tay dài xắn lên, giày ba ta trắng… Miệng luôn cười nói, vẫn vô cùng hãnh tiến.

Thi sĩ Cung Trầm Tưởng mới ra tù nên cười nói chan hoà, vui vẻ lắm …

Mùa Thu năm ấy. 1987, cũng mừng một số bạn xưa ra tù cải tạo, phu nhân thi sĩ Vũ Hoàng Chương mời vài vị tới ăn giỗ cụ Vũ (14/8 Âm Lịch).
Trên một cyclo, anh chị Cung Trầm Tưởng đến dự, ở hẻm chùa Kim Liên bến Vân Đồn Khánh Hội.

Đó cũng là lần đầu tiên tôi hạnh ngộ phu nhân thi sĩ Cung Trầm Tưởng, chị giữ được nụ cười tươi tắn nhất giữa quý vị nữ lưu trong bàn tiệc, bấy giờ chị mới 48 tuổi.

Năm 1994, cũng vào mùa Thu, thi sĩ Cung Trầm Tưởng đi dự Đại Hội Văn Bút Thế Giới ở Praha Tiệp Khắc. Trong 22 ngày, vừa dự Đại Hội Pen quốc tế, vừa đi nói chuyện văn thơ trong tù ở mấy địa điểm bên nước Đức mới thống nhứt, tôi luôn được Thi Sĩ Trung Tá Cung Trầm Tưởng nói chuyện về thơ, ông say mê thơ, xem thơ như một đạo.

Tôn sùng thơ, diễn đạt về thơ trắng đêm luôn, tôi tôn phong ông là thi bá, đồng thời ông nói rõ cái chức năng là thơ, không phải chỉ để trí thức ngâm nga, mà còn chuyên chở nhiều thứ lắm.

Đó là thời đại của NHỮNG NÀNG TÔ THỊ CHƯA HOÁ ĐÁ, tức những người vợ tù cải tạo phải gồng gánh giang sơn gia đình, thay mặt chồng phụng dưỡng cha mẹ già, nuôi dạy con cái, và còn phải bươn chải để có tiền mua sắm đồ ăn thức uống thăm nuôi chồng nữa, chúng ta phải ca tụng họ.
Tôi chăm chăm ngó ông, rõ ràng ông nói thật những điều ông nghĩ trong lòng.

Để kịp chuẩn bị cho những ngày Đại Hội Văn Bút Thế Giới kỳ thứ 61, ở Praha Tiệp Khắc, 11/1994, và chuyến đi du thuyết về Dòng Thơ Trong Tù ở Đức, thi sĩ Viên Linh, chủ tịch Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại có in cho Giáo Sư Nguyễn Sỹ Tế và thi sĩ Cung Trầm Tưởng mỗi vị một tập thơ viết ở trong tù cải tạo.

Thi sĩ CungTrầm Tưởng với tập “Lời Viết Hai Tay”, tức là ông bị cùm 2 tay mà vẫn cầm bút.

Sau tập này, thi sĩ Cũng Trầm Tưởng xuất bản tập thơ: “Bài Ca Níu Quan Tài”, trong đó thi sĩ diễn tả những người vợ tất nhiên là vợ lính VNCH, và những người vợ sĩ quan chế độ cũ có chồng bị tập trung cải tạo sau ngày 30-4-1975, đã chạy theo quan tài, bằng cả 2 tay chới với, níu thân xác người chồng đang đi về thiên cổ.

Những hình ảnh ma quái rợn người, tưởng hư cấu, nhưng không phải, chính là …thật, rất thật.

Tại đông Bá Linh vừa giải tỏa sau bức tường mà họ gọi là ô nhục, đã thống nhất người Việt trong ngôi “Nhà Việt Nam” tọa lạc bên Tây Bá Linh, vị chủ tịch cộng đồng gốc miền Nam trước 1975, đã đưa phái đoàn Văn Bút VNHN về nghỉ đêm ở nhà ông.

Phái đoàn sau khi ở Dortmund, đã một phần về Paris gồm Giáo Sư Phạm Việt Tuyền, nhà văn cựu Thượng Nghị Sĩ Trung Tá Trần Ngọc Nhuận, còn lại 5 người, là thi sĩ Viên Lính chủ tịch PEN / VNHN, Giáo Sư Nguyễn Sỹ Tế, thi sĩ Trung Tá Cung Trầm Tưởng, Mình Nguyệt bạn tôi, và tôi. Tháp tùng và hướng dẫn là triết gia Lê Trọng Phương ở Bonn quá lâu năm.

Chủ nhân đã trải những tấm nệm đơn thành 2 dãy song song, với đầy đủ chăn mền cho 6 người nơi cái phòng khách rộng rồi.

Nhưng thi sĩ Cung Trầm Tưởng không thích ngủ cái kiểu dã chiến thế, mặc dù ông đã từng bị nhốt ở “kiên giam” thời gian cải tạo, nhưng nay thoải mái, thì ông phải sống phong lưu “quý tộc” một chút chứ.

Thi sĩ Cung Trầm Tưởng bèn kéo ghế salon, ngồi mơ mộng về thủa “Ga Lyon đèn vàng” xa xưa …

Ông hỏi tôi: “Cao Mỵ Nhân muốn đi ngủ, hay thức?”

Tôi hào hứng: “Thức nghe anh nói chuyện thơ chứ”

Thế là đương nhiên tôi cũng “trắng đêm” như nhà thơ lớn hôm đó.

Sung sướng nhất của một diễn giả là nói nhiều, nói lâu, nói hay, và nhất là nói có người nghe một cách chuyên chú.

Thỉnh thoảng thi sĩ Viên Linh lại thức choàng mắt ra, và vẫn thấy tôi lặng yên nghe thi sĩ Cung Trầm Tưởng nói không muốn ngừng về…thơ !

Mùa thu năm 2002, theo lời mời của nhóm bạn văn nghệ đủ ngành trên xứ Vạn Hồ, tôi lên Minnesota ra mắt 2 tập thơ xuất bản một lượt, là “Lãng Đãng Vào Thu và Đưa Người Tình Đi Tu”.

Tất nhiên tôi phải tới thăm anh chị Cung Trầm Tưởng.

Sau 8 năm gọi là xa cách, kể từ ngày đi họp Văn Bút Thế Giới ở Praha Tiệp Khắc.

Nay tóc thi sĩ của thời “tóc vàng sợi nhỏ” mà anh “tiễn em về xóm học” năm nào ấy, đã bạc trắng hoa lau, thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã
đúng cổ lai hy, anh bảo: “Anh rất thích mùa đông ở Song Thành này, nó cho anh ngủ tròn giấc”.

Tôi gặp lại chị Tịnh, phu nhân thi sĩ, nụ cười lúc nào cũng tươi tắn, thắm tình xã giao mà thân thiết.

Chị ngó tôi để cùng nhớ lại cái thời chị liên lạc với chị Đinh Thị Thục Oanh, phu nhân thi sĩ Vũ Hoàng Chương, những “mệnh phụ của quý thi sĩ lớn”, chị cười cũng y nhị:

“Cao Mỵ Nhân cứ để mái tóc này hoài hả, trông Cao Mỵ Nhân thi sĩ quá!”

Thế rồi vài năm sau, anh chị từ Minnesota xuống thủ đô tị nạn Bolsa, để ra mắt chính cuốn thơ “Bài Ca Níu Quan Tài” nêu trên.

Trong những gì gọi là bay bướm, hào hoa, thơ mộng của nhà thơ lớn Cũng Trầm Tưởng, thì thật tôi chỉ thấy trong văn chương, thi ca …chứ ngoài đời ông lại là một vị túc nho, có thể bày tỏ những ý kiến của ông rất khuôn thước nhưng vẫn đầy tính lãng mạn.

Thí dụ thi sĩ Cung Trầm Tưởng tả cho Giáo Sư Nguyễn Sỹ Tế nghe vầng trăng mầu xanh lá mạ mà ông bắt gặp ở xứ Vạn Hồ ấy.

Tôi thưa với anh chị, và với cả cử tọa buổi tôi ra mắt thơ “Lãng Đãng Vào Thu và Đưa Người Tình Đi Tu” của tôi, là tôi lên Minnesota vì vầng trăng mầu xanh lá mạ và tư tưởng NHỮNG NÀNG TÔ THỊ CHƯA HOÁ ĐÁ mà thi sĩ Cung Trầm Tưởng luôn nhắc nhở một cách cao vời, bởi vì chị cũng là một bậc nữ lưu chờ chồng không ta thán.

Chị nhìn tôi, ôi đôi mắt và nụ cười tươi tắn mà tôi cứ diễn tả mãi, bất cứ ở đâu, và bất cứ lúc nào …về chị.

Chị thân thương quý mến ơi, nay chị mang theo nụ cười tươi tắn của chị ra đi về cõi vĩnh hằng rồi.

Cầu xin Thượng Đế, và chúc phúc cho chị an nghỉ trong hoà bình vĩnh cửu đời đời …

CAO MỴ NHÂN

Share this post

One thought on “Nàng Chưa Hóa Đá – Cao Mỵ Nhân

  1. Cung Trầm Tưởng – Tình Sâu Nghĩa Nặng

    Trong thi ca, như Duy Trác đã từng nói: “Người ta chỉ thường làm thơ trước tình và sau tình. Chứ ít ai làm thơ, soạn nhạc khi ở trong tình”. Đúng như vậy, những bài thơ mong chờ, nhung nhớ, đầy thiết tha, say đắm của lúc “trước tình”, hay những bài thơ, bản nhạc rất hay đầy nuối tiếc, xót xa, cay đắng của “sau tình” rất nhiều. Người hát, người nghe người đọc cũng chỉ thích những sang tác của “sau tình” và của “trước tình” . Hãy hỏi về những tác phẩm của “trong tình”, thì nhiều người bối rối.

    Tiễn Em – Sĩ Phú- Phạm Duy – Cung Trầm Tưởng: TIỄN EM – Sĩ Phú

    Người thi sĩ kỳ tài của chúng ta, người phù thuỷ của ngôn từ: Cung Trầm Tưởng, với con đường thi ca dài hơn 60 năm, với những bài thơ làm rung động rất nhiều thế hệ người Việt, mà ta có nói là làm rung động hàng triệu người Việt, cũng không chắc đã sai. Thơ Cung Trầm Tưởng của “trước tình” hay “sau tình” cũng đã hay, mà thơ Cung Trầm Tưởng của “trong tình” lại càng hay. Không phải cái hay của tâm không thôi, mà còn là cái hay của trí. Không phải cái hay riêng của chủ thể, mà còn là cái hay chung của nhân gian. Đọc những bài thơ “trong tình” của Cung Trầm Tưởng thời trẻ tuổi, để thấy cái nồng nàn, tha thiết của những người trẻ tuổi yêu nhau trong hướng vọng đắm say, đọc những bài thơ “trong tình” của Cung Trầm Tưởng viết trong những thập niên 1980, 1990, cho đến bây giờ, để cả tâm thể chúng ta cùng thảng thốt trong những cơn chấn động kinh hoàng, và rồi cùng nhìn người mình yêu thương, nhìn người bạn đời của mình, nhìn mọi người trên đời mà nhủ thầm tạ ơn chúng ta cùng có nhau.

    Vì thế, tôi xin ngợi ca thi sĩ Cung Trầm Tưởng, với những vần thơ TÌNH SÂU, NGHĨA NẶNG. Bởi vì chỉ có tình sâu nghĩa nặng tới cỡ Cung Trầm Tưởng, mới viết được cho vợ mình những câu như sau:

    Mai sau ngủ gốc cây sồi
    Làm thiên thu chiếc miếu ngồi thờ em

    Ta vẫn thường nói: “Không vợ, đố mày làm nên”, hãy nghĩ kỹ xem, bạn có làm nên trò trống gì trên đời này, nếu bạn không có tình yêu thương, sự chăm sóc, lòng bao dung, lời hướng dẫn, khuyến khích và sự hy sinh của vợ bạn. Nếu người đó là người vợ ngoan hiền của bạn.
    Đó cũng là lời Cung Trầm Tưởng nói với vợ:

    Tình anh sương giá đầy sân
    Cần em mái phủ cho thân ấm nhờ

    Hãy nghe Cung Trầm Tưởng nói về người vợ, trong một đời sống còn khủng khiếp hơn cả địa ngục chin tầng, đời sống của những người tù cải tạo dưới chế độ cộng sản:

    Mắt em hôm ấy lệ ngần
    Tóc pha sương hẳn gian truân mút mùa
    Ngó than gầy thấy nghèo xo,
    Cơm quên đòi bữa, lòng lùa lắm cay
    Chợt nhìn vết nhẫn đeo tay
    Đã quy thành cỗ ma chay mẹ chồng

    Về nhìn bậu cửa chiều trơn
    Đã mòn lung tựa, chẳng sờn thuỷ chung
    Đêm khêu bấc lụn bập bùng
    Đũa tre, chén sứ vô cùng thương nhau

    Ôi! có lời nào, có lời nào tha thiết mà xót xa, nồng nàn mà cay đắng như lời Cung Trầm Tưởng kể về góa phụ của một người tù Cộng Sản:

    Tròng trành nối với tròng trành
    Thuyền về tắt tiếng hò mình gọi ta
    Mình về bảng lảng mù sa
    Mình đi mình để tha ma lại đời
    Sáo rên rên níu chân người,
    Cò rền rĩ quặn rối bời trần ai
    Mẹ xưa khóc níu quăn tài
    Nàng giờ lệ đổ nối dài trường giang
    Trường giang dài một lời than
    Mảnh thuyền chết đuối, sầu mang đôi bờ

    Tình yêu của người vợ không bao giờ nhạt phai, càng đắng cay, càng sâu đậm, những ác độc, hung hiểm trên đời không thể mảy may xúc phạm:

    Lệ em thuần phác đưa chàng
    Sống thân cách trở, chết ràng hồn nhau
    Bồng bềnh bồng bến bồng nao…
    Chờ em đi thả neo sao biển trời
    Mẹ ru con ngủ à ơi!
    Nghìn câu vãn tống góp lời nuôi con
    Nếu mai sau Đất Mẹ còn
    Nhìn mây khuyên vấn tang Hòn Vọng Phu

    Xin bạn hãy cúi đầu, im lặng, đọc thầm trong tâm tưởng mình những câu thơ này của Cung Trầm Tưởng, để thấy tình người vợ Việt Nam sâu chín tầng đất, rộng chín tầng trời:

    Mỵ Châu ngày ấy khóc chồng
    Có giàn giụa máu lệ hồng như nay?

    Có thời đại nào, có cõi trần nào mà người vợ đành phải hẹn ngày làm giỗ ngày này sang tháng nọ, như cái thời của những kẻ giết người này:

    Ma chay cỗ ván nợ nần
    Giỗ đầu đã khất nhiều lần tà dương

    Thơ hay phải có đủ 5 yếu tố: Ý, Tình, Hình Ảnh, Nhạc Điệu và Ngôn Ngữ. Trong tất cả những câu thơ tôi vừa dẫn đọc, bạn thấy không, cả 5 yếu tố đó ở trên mức tuyệt đỉnh.

    Nói về tình sâu nghĩa nặng trong thơ Cung Trầm Tưởng, là nói mãi không hết, mà thời lượng giới hạn của buổi hôm nay đã chỉ cho phép chúng ta gợi lên một đôi điều sơ lược, nhắc đến một vài câu trong hàng ngàn câu thơ của ông.

    Vậy nên, xin bạn, khi về nhà đêm nay, trong tĩnh lặng của tâm hồn, hãy đọc những vần thơ Cung Trầm Tưởng viết về vợ, để thấy người vợ Việt Nam, người vợ chung thủy, người vợ bao la tình, người vợ dịu dàng mà vững chắc, mà cuồng phong, mà hung hiểm không thể làm sờn nhạt.
    Hãy đọc thơ Cung Trầm Tưởng để yêu người, yêu đời và yêu mình nhiều hơn.

    Bùi Ngọc Tuấn
    Minnesota, tháng 6, 2014