Nặng Một Lời Thề – Lê Văn Phúc

Nặng Một Lời Thề – Lê Văn Phúc

Thề là một lời cam kết thi hành trọn vẹn, đứng đắn những gì tự hứa hoặc đã hứa với nhau. Sự tuân thủ ấy xuất phát từ trong lòng, có khi chỉ bằng lời nói, có khi qua bút tích, có khi nhờ trung gian.

TRONG LỊCH SỬ

Trong lịch sử nước ta, lời thề được thấy sớm nhất có lẽ là lời thề của Nhị Trưng.

Theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim:

“Năm Giáp Ngọ (31), vua Quang Vũ nhà Hán sai Tô Định sang làm Thái Thú quận Giao Chỉ. Tô Định là người bạo ngược, tàn ác đã giết Thi Sách. Vợ Thi Sách là Trưng Trắc, con gái quan Lạc Tướng ở huyện Mê Linh cùng em gái là Trưng Nhị nổi lên đánh đuổi Tô Định khiến quân ngoại xâm phải bỏ chạy về quận Nam Hải. Không bao lâu, hai bà hạ được 65 thành trì, tự xưng làm vua, đóng đô ở Mê Linh là nơi quê nhà. Năm 41, vua Quang Vũ lại sai Mã Viện sang đánh nước ta. Hai bà thế yếu, phải rút quân về phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên, Rồi chạy về đến xã Hát Môn huyện Phú Thọ tỉnh Sơn Tây khi thế cùng lực kiệt thì gieo mình xuống sông Hà giang mà tự vẫn. Hai bà làm vua được 3 năm nhưng lấy tài trí người đàn bà mà dấy nghĩa lớn cũng đủ để lại tiếng thơm cho muôn đời…”

Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái chép lại sự tích Hai Bà:

“Bà Trưng quê ở Châu Phong
Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên
Chị em nặng một lời nguyền
Phất cờ nương tử, thay quyền tướng quân
Ngàn tây nổi áng phong trần
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên
Hồng quần nhẹ bước chinh yên
Đuổi ngay Tô Định, dẹp tan biên thành
Đô kỳ đóng cõi Mê Linh
Lãnh Nam riêng một triều đình nước ta
Ba thu gánh vác sơn hà
Một là báo phục hai là bá vương.
Uy danh động đến Bắc phương
Hán sai Mã Viện lên đường tiến công
Hồ Tây đua sức vẫy vùng
Nữ nhi chống với anh hùng được nao!
Cẩm Khê đến lúc hiểm nghèo
Chị em thất thế phải liều với sông…”
Người đời sau cũng có thơ ca tụng Hai Bà:
“Tượng đá trời Nam giãi tuyết sương
Nghìn năm công đức nhớ Trưng Vương
Tham tàn trách bởi quân gây biến
Oanh liệt khen thay gái dị thường
Liều với non sông hai má phấn
Thương nhau nòi giống một da vàng
Cột đồng Đông Hán tìm đâu thấy
Chỉ thấy Tây Hồ bóng nước gương“.

Đó là lời thề quyết trả thù cho chồng, chống ngoại xâm, giữ yên bờ cõi. Đó là lời thế can trường, quyết tử của nhi nữ anh hùng. Trong lịch sử nước ta, chưa có vị nữ anh hùng nào mà danh thơm lừng lẫy đến như vậy.

Cũng trong lịch sử Việt Nam, một danh tướng đời Trần là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã có những chiến công hiển hách để đời. Và một lời thề sử sách còn ghi.

Khi quân nhà Nguyên sang đánh phá nước ta, vua Nhân Tôn đã triệu tập Hội Nghị Diên Hồng khiến quân dân dều nức lòng, thề xả thân giữ nước. Lúc thấy khí thế của quăn Nguyên vũ bão, vua muốn xin hàng để cứu muôn dân thì Hưng Đạo Vương thưa rằng: “Nếu bệ hạ muốn hàng thì hãy chém đầu thần trước đã”.

Nhà vua nghe câu nói trung liệt ấy trong lòng mới yên.

Hưng Đạo Vương soạn “Binh Thư Yếu Lược” làm bằng Hán văn và “Hịch Tướng Sĩ”, dịch ra có những đoạn sau:

“Ta đây, ngày thì quên ăn, đêm thì quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa được xả thịt lột da quân giặc…

“…Nay các ngươi trông thấy chủ nhục mà không biết lo, trông thấy quốc sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc mà không biết tức, tai nghe nhạc để hiến ngụy sứ mà không biết căm, lấy việc chọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển, hoặc vui thú về vườn, hoặc quyến luyến vợ con, hoặc nghĩ về lợi riêng mà quên việc nước, hoặc ham về săn bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoạc mê tiếng hát… Nếu có giặc đến thi cựa gà trống sao cho đâm thủng được áo giáp, mẹo cờ bạc sao cho dùng nổi được quân mưu…

“…Nay ta bảo thật các ngươi – nên cẩn thận như nơi củi lửa, nên giữ gìn như kẻ húp canh, dạy bảo quân sĩ. luyện tập cung tên khiến cho người nào cũng có sức khỏe như Bàng Mông, Hậu Nghệ thì mới có thể dẹp tan được quân giặc mà lập nên được công danh…”
Trong một trận khác, tháng 3 năm Mậu Tí (1288), khi nghe tin Ô Mã Nhi kéo quân về đến bến Bạch Đằng, Hưng Đạo Vương mói hô quân sĩ, trỏ sông Hát Giang mà thề rằng: “Trận này không phá được giặc Nguyên thì không về đến sông này nữa”.

Trận đó, quân ta đại thắng, chiếm dược nhiều chiến thuyền. Các tướng giặc Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ, Cơ Ngọc đều bị bắt cả.
Lời thề để đời của Hưng Đạo Vương bên sông Hát chứng tỏ ý chí quyết chiến thắng của toàn dân nước ta trước hiểm họa giặc ngoại xâm phương bắc.

TRONG SINH HOẠT XÃ HỘI

Người xưa thường có tục “uống máu ăn thề”. Người cùng chung chí hướng họp nhau, lập bàn thờ, cùng chích máu thề chung sức làm nên đại cuộc. Lời thề ấy rất long trọng, như một câu nói linh thiêng rằng sống chết có nhau, có trời đất chứng minh, có qủy thần hai vai chứng giám.
Lời thề quan trọng như thế cho nên mỗi khi có việc cần phải tự nguyện cam kết thì ngưòi ta phải đưa tay lên thề.

Dễ thấy nhất là khi ra trước quan tòa xử án thì việc trước tiên là người ra hầu tòa phải giơ tay lên thề sẽ nói hết sự thực và chỉ có sự thực mà thôi. Sau đó tòa mới phân xử. Nhưng đó là phép tắc trong tòa án là phải làm như thế, chứ thực ra không thiếu những người thề thốt đình huỳnh mà nói hoàn toàn sai sự thực thì đó là việc của quan tòa với lại các luật sư bên nguyên bên bị tranh cãi với nhau.

Được coi là lời thề có thể tin được là lời tuyên thệ của các vị tổng thống, như tổng thống Hoa Kỳ, giơ tay tuyên thệ bảo vệ hiến pháp…
Tại các trường Võ Bị, mỗi khi mãn khóa ra trường, sinh viên sĩ quan đều phải tuyên thệ trung thành với tổ quốc.

Với các tâm nguyện “Tư An, Cư Nguy”, “Không bỏ anh em, không bỏ bạn bè”, “Tự thắng để chỉ huy”… đã là những lời thề danh dự trong đời binh nghiệp!

Lời thề cũng có nhiều ý nghĩa khác nhau.

– Lời thề của kẻ nói dối, miễn sao cho được việc mình là “thề nhăng thề cuội”.

– Thề đó mà không có hiệu lực, hiệu ứng, hiệu quả gì cả là “thề trăm voi không được bát nước sáo”.

– Thề vớ vớ vẩn vẩn, thề đó mà cũng như không, giống như con cá trê chui vào cái ống, trơn tuột sang lỗ kia mà thôi, gọi là “thề cá trê chui ống”.

– “Thề độc” là thề mà đem cả gia đình, ông cha mình ra để cam đoan, thoạt nghe thực đáng tin, đáng phục. Nhưng những kẻ thề độc như thế mà rốt cuộc chỉ là thề bố láo cho được việc thì kiểu thề này không qua mặt được những người có nhiều kinh nghiệm ở đời. Chẳng hạn như: Anh mà nói dối em thì cả nhà anh chết, cả họ anh chết, cả… nước anh chết…

– Thề đổ cửa đổ nhà quyết liệt để lấy được lòng tin của người ta, là “thề sống thề chết”.

– “Thề bồi, thề thốt”, là lời thề bình dân.

– “Thề nguyền” là vừa thề vừa nguyện sẽ thi hành y chang những điều đã hứa.

TRONG VĂN HỌC

Trong văn học thì có bài “Thề Non Nước” là dễ hiểu, đậm tình, đậm nét nhất, diễn tả cái cảnh nước với non quyến luyến nhau, khắng khít với nhau trong tình dân tộc.

Sau đây là bài thơ của Tản Đà (1889-1939):

“Nước non nặng một lời thề
Nước đi đi mãi không về cùng non
Nhớ lời nguyện nước thề non
Nước đi chưa lại non còn đứng không
Non cao những ngóng cùng trông
Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày
Sương mai một nắm hao gầy
Tóc mai một mái đã đầy tuyết sưong
Trời tây ngả bóng tà dương
Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha
Non cao tuổi vẫn chưa già
Non thời nhớ nước, nước mà quên non
Dù cho sông cạn đá mòn
Còn non còn nước hãy còn thề xưa
Non xanh đã biết hay chưa
Nước đi ra biển lại mưa về nguồn
Nước non hội ngộ còn luôn
Bảo cho non chớ có buồn làm chi
Nước kia dù hãy còn đi
Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui
Nghìn năm giao ước kết đôi
Non non nước nước không nguôi lời thề“.

Đó là nhưng vần thơ đầy ắp tình giữa nước với non. Nước có đi ra biển thì nưóc lại mưa về nguồn. Dù sông có cạn, đá có mòn nhưng vãn nhớ đến nhau, vẫn có ngày hội ngộ. Nghìn năm vẫn còn giao ước… Lời thề vẵn còn đó không phai mờ, không cách chia nhau.

Tản Đà cũng còn bài thơ nữa nói đến sự thề bồi của Mỵ Châu – Trọng Thủy (Trích “Khối Tình Con”):

“Một đôi kẻ Việt người Tần
Nửa phần ân ái, nửa phần oán thương
Vuốt rùa chàng đổi máy
Lông ngỗng thiếp đưa đường
Thề nguyền phu phụ
Lòng nhi nữ
Việc quân vương
Duyên nọ tình kia dở dở dang
Nệm gấm vó câu
Trăm năm giọt lệ
Ngọc trai nước giếng
Ngàn thu khói nhang“.

Trong văn chương, những lời thề thốt về cuộc tình duyên thì đầy rẫy, tả tình tả cảnh tả oán rất đỗi mủi lòng, rất đỗi thương tâm.

Một đoạn thơ của Nguyễn Bính (“Nhầm“) than thở vì nhà mình nghèo, mẹ mất sớm, bố đi thi không đỗ nên nhà hiu quạnh, túng thiếu. Khốn nỗi, chàng lại mơ tưởng đến một người con gái nhà sang mà thân phận mình lại chỉ là một nhà thơ vô danh nên tình duyên không xứng:

“…Mấy khoa thi hỏng, thầy ơi!
Thầy không thi đỗ để rồi làm quan
Để rồi lắm bạc nhiều vàng
Để cho con lấy được nàng, thầy ơi!
Nàng mà làm dâu nhà tôi
Vườn dâu nó thẹn với đôi tay ngà
Ai thề như mới hôm qua
Lấy nhau không được chẳng thà chết đi
Mà thôi nói lại làm gì
Thế gian chán vạn kẻ thề có sao?”

Nhưng cụ thể nhất, tạm coi là dáng tin nhất, phải nói đền các cuộc hôn nhân.

Theo phong tục tập quán thì khởi sự là chạm ngõ, xong hứa hôn rồi đến thành hôn. Trong lễ cưới, nhất là phía bên Công giáo, đôi trai gái phải làm lễ trước bàn thờ Chúa. Vị linh mục chủ lễ sẽ hỏi mấy câu xem có thực đôi bên muốn lấy nhau không. Theo thông lệ thì đôi bên đều trả lời câu linh mục hỏi, đều dứt khoát là thương yêu nhau đến trọn đời, trao nhẫn cưới, mi nhau rồi đến tiệc tùng hai họ.

Vậy mà có đám mới ra khỏi nhà thờ, cô dâu đã tháo nhẫn trả lại phía bên kia, dứt khoát không còn thương yêu anh nữa! Chả biết cô em có bị ái tình hay đối tượng nào chen chân vào không? Hay phút chót có cú phone nào gọi tới làm cô mình mê mẩn tâm hồn mà đâm ra ô rơ lui để tìm về tình cũ?

Lại có những “pha” độc dáo, ly kỳ bí mật nhà nghề như lúc trao nhẫn cưói thì đôi bên hứa hẹn đủ điều tốt lành, hạnh phúc. Chồng hứa lo cho vợ, vợ hứa chiều chồng, phục tùng chồng. Ấy thế mà khi nàng dâu mới bước chân vào nhà chồng đã lẹ làng chui tọt vào phòng hoa chúc, ngồi phắt ngay lên đầu giường. Sao dzậy cà? Chả là vì cô nàng – không biết nghe ai phụ nhĩ – đã ngồi ngay lên dầu giường như thế là để sau này có thể áp đảo được anh chồng, không cho nó còn kí lô nào nữa!? Cái đó gọi là “thế thượng phong” đánh phủ đầu, chơi trội, chơi ngang không kiêng nể!

Thông thường, chả cứ ngồi đầu giường hay cuối giường, mỗi khi lấy chồng là coi như anh chồng kém vế đối với vợ rồi còn gì! Nếu lại có mục ngồi đầu giường nữa thì anh chồng thua đứt đuôi con nòng nọc í chứ!

TRONG TÂN NHẠC

Một nhạc phẩm nổi tiếng từ thập niên 1960 là bài “Duyên Thề” của nhạc sĩ Thanh Trang:

“Một vì sao sáng – trong đêm lạnh lẽo
Nhạc buồn xa vắng, mênh mông trần thế
Ánh mắt sáng ngời, lòng trời u tối, không gian xa vời.
Tìm đến với nhau cho quên hận sầu,
Ngày đó lứa đôi, mơ duyên tình đầu
Mộng ước tan rồi để buồn mai sau, để buồn mai sau…
…Ngày đó có ta mơ ân tình dài
Buồn thắm nét môi, duyên chưa thành lời
Một thoáng mơ rồi, người về không nguôi, ngưòi về không nguôi…”

Suốt bài ca, không nhắc nhở gì đến nguyện ước thề bồi, không hứa hẹn gì đến duyên nợ mai sau.

Nhạc sĩ Thanh Trang tâm sự là khi viết, ông không có lời lẽ nào là hư cấu, vẽ vời hay tưởng tượng. Ông viết về cuộc đời có thật, tình người có thật. Thế đó nha, “Duyên Thề” của nhạc sĩ Thanh Trang mang ý nghĩa ở trong lời, trong lời ẩn dụ tâm tư người nghệ sĩ.

Cũng trong tân nhạc còn có bài “Trăng Thề” mô tả cái cảnh cùng nhau thề nguyền dưới ánh trăng. Mặt trăng thì ai ai cũng biết là xa chốn nhân gian hàng triệu dặm, không có liên can gì đến những đôi tình nhân thả bộ dưới trần gian. Lợi dụng khung cảnh mơ màng, hữu tình ấy,chàng trai mới tỏ lời ước mơ được cùng nàng tung cánh chim tìm về tổ ấm. Để cho cầu chuyện thêm chút mắm muối, thơ mộng, tình tứ, nên thơ, chàng mới thề với nàng dưới ánh trăng, coi như có ông trăng chứng giám. Trên đó lại có cả chị Hằng cũng nhòm xuống cõi trần.

Nhưng ít ai trong lúc mơ màng như thế mà còn nghĩ đến chú Cuội ở chốn cung trăng. Chú này chuyên môn nói dối nên bị các cụ bảo là “nói dối như Cuội”!

Thế nên, thề dưới bóng trăng thì cũng nên nhớ là trên đó có cả chú Cuội. Thông thuờng thì chả mấy ai thề thốt dưới ánh trăng mà làm tròn nghĩa vụ phu thê, mà chỉ để kiếm câu chuyện làm quà, nói nhăng nói cuội đó thôi à!

Hình như người của các thế hệ cũ thường hay thề nguyền, thề ước mí nhau để làm tin,

Thuở đó hình như cũng chưa phát minh ra máy nói dối để có thể phát giác ngay ra những vụ nói sai sự thực, nói lảng, nói lấp liếm, nói loanh quanh chạy tội.

Mà người hứa hẹn, thề bồi thường là phía nữ nhi. Không biết có phải là phái nam ít mấy tin tưởng vào tấm chung tình của phái nữ hay không mà cứ thấy những là:

“Đã nguyền hai chữ đồng tâm,
Trăm năm thề chảng ôm cầm thuyền ai“.

Bởi đã một lần ôm đờn sang thuyền khác thì coi như “Thúy đã đi rồi”, không bao giờ trở lại. Nếu Thúy có trở lại cũng sứt mẻ, không còn nguyên vẹn gì nữa mà ham…

Còn phía liền ông con trai mà hứa thì phải coi chừng, chớ để cho hắn tán nhăng tán nhít, đưa em vào bẫy sập là tan nát cả một đời hoa.
Trong cuộc sống đời thường, những giới ít thề bồi, thề nguyện, thề thốt là giới tu sĩ, giới luật sư, giới bác sĩ, giới kỹ thuật điện tử…
Còn giới thề thốt đủ điều, không tin cũng cố mà tin là giới văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ… Rồi đến giới sinh viên, học sinh tuổi đôi mươi.
Phía nghệ sĩ mà ca tụng, tán dương, thề bồi thì mê ly rùng rợn lắm, nghe cứ như thật, chưa tin cũng phải tin, tin rồi lại càng tin bạo… Thế nên các em mới đắm mình trong mộng mà ước hẹn một ngày cùng người mơ tìm vào cõi thiên thai. Đến khi vào cõi thiên thai rồi mới vỡ mộng thiên đàng, cầu mong trở lại cõi trần tục để làm dân thì mộng đã tan thành mây khói. Em đã “ba năm qua, em trở thành thiếu phụ, ngồi ru con như ru tình nồng…”, từ thiếu nữ thanh xuân thoắt biến thành… thiếu phụ! Không làm cách nào mà trở lui được như cũ!

Còn các cô các cậu mết nhau thì đó chẳng qua cũng ở trong thời kỳ tưởng tượng phong phú nên nghĩ đến toàn là những chuyện trăng sao, mây nước, hoa bướm mặn mà… Mà thực tế thì nó chả có cái gì ghê gớm, hấp dẫn, quyến rũ dến như rứa!

THAY LỜI KẾT:

Ấy thế cho nên, thực và mộng bao giờ cũng khác xa nhau một trời một vực.

Như đôi vợ chồng trẻ này mới lấy nhau.

Vợ hỏi:

-Anh ơi! Anh đưa em đi hưởng tuần trăng mật ở đâu?

Trong đầu em thĩ nghĩ đến những là Niagara Falls, Venise, Hawaii, hay du thuyền trên vịnh Mễ Tây Cơ, đi cruise bên bờ Địa Trung Hải…

Anh chồng chỉ vào cái giường, mà rằng:

– Tuần trăng mật của chúng mình ở trên cái giường kia, em ạ!

Có tiếng thở dài. Rồi vọng ra câu hát nhại bài của Đức Huy:

“Đừng la em đêm nay, khi má em đang ngủ say,
Đừng bỏ em một mình trong xó này.
Hãy ôm em trong tay để em biết anh mò em,
Và hãy nói: Anh vẫn mê em…”

Chuyện thề bồi, hứa hẹn đến đây coi như hạ màn vì vợ chồng nhà này làm mất hứng nên bổn tiệm cũng bị cuốn theo cơn lốc xoáy mà mê luôn, không còn gì để nói nữa.

Vậy xin tạm biệt và kính chúc bạn đọc một đêm… thơm lành!

Lê Văn Phúc (Trích “Bóng Thời Gian” – 12/2011)

Share this post