Nẻo Khuất Trầm Tử Thiêng – Nguyễn Ngọc Chấn

Nẻo Khuất Trầm Tử Thiêng – Nguyễn Ngọc Chấn

Trưa Chủ Nhật 23 tháng 2 , 2020, khán giả tại thủ đô ti nạn, được thưởng thức một chương trình nhạc thính phòng tuyệt diệu, tưởng niệm nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng. Chương trình được ca diễn  bởi một thành phần nghệ sĩ tiêu biểu cho nhiều thế hệ. Từng mảnh đời của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng được trải bày, từ phần dẫn nhập bởi nhà văn Quyên Di, duyên dáng, dí dỏm đến những tâm sự thổn  thức của MC ca sĩ Hương Thơ. Hội trường lắng đọng, thẩm thấu mỗi ca từ ông chải chuốt, quyện vào những cung bậc âm thanh, khi mượt mà, lúc sôi sục trong lòng từng người thưởng ngọan. 

Các ca sĩ Chung Tử Lưu, Hương Lan, Hương Thơ, Trọng Nghĩa, Anh Dũng, Hugo, Thanh Lan, lần lượt trình bày những ca khúc, theo bước  hành trình của Trầm Tử Thiêng. Tôi đã nghe hàng chục lần những ca khúc của anh, vài bài nhạc vừa khô mực, anh đã hát chay cho nghe, đến những buổi trình diễn đại vĩ tuyến với hàng hàng lớp lớp diễn viên, thế mà, 20 năm sau khi anh giã từ thế gian, tôi vẫn cảm thấy như có sự hiện diện của anh, giữa lòng những người yêu thương . Hôm nay mấu chốt của chương trình chính là có sự hiện diện của người đã cho anh mọi cảm xúc để viết thành thiên tình sử bất hủ.

Trầm Tử Thiêng đã hiến trọn một đời cho âm nhạc, ông được hàng triệu người thương yêu mến mộ. Kho tàng nghệ thuật của ông là 200 ca khúc tình yêu, thân phận, quê hương và chiến chinh. Hành trình sáng tác cũng như tác phẩm của  Trầm Tử Thiêng gắn liền với thời cuộc của đất nước và mối tình của chính cuộc đời ông. 

Từng giai đoạn, mỗi biến cố đều ảnh hưởng rất lớn đến ca khúc của họ Trầm. Cuộc đời sáng tác của Trầm Tử Thiêng có thể nhìn ở ba giai đoạn quan trọng: trước 30 Tháng Tư ;  sau năm 1975 và thời gian ông lưu lạc ở quê người. Cả ba giai đoạn đều tồn tại một Trầm Tử Thiêng, đau nỗi đau quê hương và xót vì cuộc tình chia xa mà vốn dĩ, Trầm Tử Thiêng là con người trọng tình yêu chung thuỷ.

Đánh dấu nỗi đau quê hương, năm 1968, cầu Trường Tiền bị giật sập, nói lên sự bội phản của con người. Tiếng khóc của Trầm Tử Thiêng chia sẻ với người dân xứ Huế, nhịp nối sông Hương gẫy, ngăn cách đôi bờ một đời sống. Ca khúc đầu tiên của Trầm Tử Thiêng chính thức nhập cuộc, dùng âm nhạc để phản ảnh biến cố lịch sử.”Chuyện Một Chiếc Đã Gẫy”

Rồi Kinh Khổ, là một bộc phá của Trầm Tử Thiêng. Với chỉ ba nốt nhạc trầm, như tiếng đập con tim, thoi thóp, ông sáng tạo  một ca khúc lạ lẫm, bất thường trong lịch sử âm nhạc.Người nghe bỏ qua melody thường tình nhân thế, phủ phục dưới chân Thượng đế của mỗi tín ngưỡng. Tượng hình hoang vu giữa sa mạc, chốn rừng sâu, ba nốt nhạc vang lên, đều đặn như tiếng gõ mõ cầu kinh. Đoàn người lũ lượt kéo đi, “đi đâu” ? rồi lũ lượt kéo về, “về chốn  nào” ! Đó là tiếng kinh cầu trong hoảng loạn mà đồng hương ông đang gánh chịu.  

Với đất nước, ông chọn cho mình là một người viết sử bằng âm nhạc. Với tình yêu, ông chọn làm người tình chung thuỷ. Dù là mười năm, hay hai mười năm. Trầm Tử Thiêng yêu quê hương như chính thân phận mình. Ta nghiêng tai, soi lại đời mình, cũng chính là lúc ông nhìn lại thân phận ngừoi Việt Nam, tuổi trẻ, đầy ắp kỷ niệm dù không đầm ấm. 2  ca khúc vẫn chỉ một người tình. “Mười năm yêu em” rồi “Đêm nhớ về Sài Gòn” mang nhiều nồng nàn va cay đắng cho một cuộc tình. 

Đến những ngày cuối đời, Trầm Tử Thiêng, ghi dấu ấn với những bản ca ngợi tình nhân bản, Bên em đang có ta. Trái tim của Trầm Tử Thiêng một đời đập cùng nhịp với đất nước,  hùng tráng, hiên ngang, chấp nhận thân phận là người Việt, ghi dấu những Bước chân Việt Nam. Hơi thở của ông đầy, vơi theo con nước thuỷ triều trong dòng sông vận mệnh. Bao năm sống lưu lạc xứ người, đến cuối đời ông vẫn không quên được “Một đời áo mẹ áo em”.

Buổi tưởng niệm Trầm Tử Thiêng năm nay, đặc  biệt có sự hiện diện của người bạn đời duy nhất của ông, mối tình được dấu kín gần nửa thế kỷ mà vẫn chưa ngưng rung động. Dưới ánh đèn mầu, mọi người thấy Trầm Tử Thiêng, một nhạc sĩ đa đoan theo vận nước và nồng nàn trong tình yêu. Ở đời thường ông sống giản dị và quá khiêm nhường. 

Suốt 20 năm ở đất tạm dung, không ai bắt gặp Trầm Tử Thiêng tay trong tay với bất cứ bóng hồng nào. Đằng sau những hào quang của hàng trăm buổi diễn, người vinh danh, kẻ ái mộ, Trầm Tử Thiêng chối bỏ mọi mời gọi, hoặc thương hại, trở về sống co cụm trong căn phòng đơn sơ để hết tâm huyết vào nghệ thuật.

Buổi tưởng niệm vừa qua, với sự xuất hiện “Nửa kia của Trầm Tử Thiêng” như đã được bật đèn xanh, để chúng ta có cơ hội hé mở cái góc khuất về cuộc đời Trầm Tử Thiêng. Là một trong hai nhân chứng, đã được sự đồng ý, chúng tôi không ngần ngại chia sẻ, niềm vui và nỗi buồn với chị Đỗ Thái Tần, mà xưa nay chúng tôi vẫn gọi chị bắng cái tên cúng cơm là “Chị Lợi”. 

Nhân chứng thứ nhất là cô Minh Phú, đại diện thương mại của nhật báo Người Việt, người đã làm việc cùng phòng tại Trung Tâm Học Liệu với anh Nguyễn Văn Lợi từ năm 1970 đến 1975. 

Thứ hai là Nguyễn Ngọc Chấn, “chính hắn đây”; ít người biết tôi là một nhà giáo trước khi thành lính cọp, binh chủng Biệt Động Quân. Nguyễn Văn Lợi và tôi cùng xuất thân là nhà giáo, bị động viên. Khi tham chiến mỗi người mỗi ngõ rồi cuối cùng, gặp nhau ở Trung Tâm Học Liệu, Bộ Văn hóa Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa.

Sau năm 1972, chiến trường Việt nam bước vào một khúc quanh, một số anh em giáo chức được biệt phái về nhiệm sở cũ. Hơn 8 năm cầm súng, quanh năm với  bưng biền, sắt máu, hận thù; Nay phải trở lại với bảng đen, phấn trắng, sự “êm ái và dịu dàng” chắc là khó cho tôi. 

Về trình diện Bộ, tôi gặp ông thày Võ Bị cũ , thày Hiệp, hiện làm tổng thư ký Bộ. Lúc dạy ở Đại học Chiến Tranh Chính trị, thày phụ trách môn “Đạo đức học chính trị”. Các đơn vị trưởng về học, đa số thuộc thành phần  ngồi chơi xơi nước, ế độ, bất mãn. Cấp bập “học trò” cao hơn thày nhiều lắm, họ chẳng coi thày ra cái thá gì. Nguyên là đồng nghiệp sư phạm, tôi luôn phải can ngăn anh em, đừng chọc phá thày quá đáng, tội nghiệp. Đến  ngày chinh chiến tàn, thày còn nhớ tôi. Xét lý lịch, thày xếp cho tôi về Trung Tâm Học Liệu phụ giúp chương trình “Đố chơi để chọc”. 

Chốn che gió, trú mưa thời hậu chiến, không ngờ lại trở thành khúc quanh mới cho tôi. Nhạc sĩ Cao Thanh Tùng nhận tờ sự vụ lệnh, dàn chào tôi,  ý nói, có piston lớn, mới đích thân tổng thư ký bộ gởi gấm. Tôi chỉ ậm ự theo chân anh đi làm quen cơ cở. Từ ngạc nhiên này tới thích thú nọ, anh Tùng là phó giám đốc trung tâm mà điểm trang sơ sài, làm tôi tưởng.. lầm. Phòng ốc trung tâm khá tươm tất, toàn là đồ Mỹ quốc viện trợ, đúng như những đồ nghề tôi đã vọc khi học ở Virginia. Rời phòng truyền hình xuống phòng phát thanh, tôi hớn hở nhận ra anh Lợi, phụ tá chủ sự phòng. Anh cũng mới biệt phái về đây ít lâu. 

Nguyễn Văn Lợi, chỉ vài người biết tên cúng cơm của anh, trong khi cả thế giới biết đến anh qua cái nghệ danh Trầm Tử Thiêng. 

Thời chiến, chúng tôi đã làm việc với nhau ở Đài Truyền Hình Quân Đoi, tổng y viện, các quân đoàn,  mọi sinh hoạt tâm lý chiến. Sau hiệp định Paris mỗi đơn vị biệt phái những tay nghệ sĩ che gió, vào biệt đoàn Văn Nghệ Trung Uơng, để tổ chức chiến dịch dành dân, giữ đất.  Đại diện Tổng Cục Tiếp Vận, tôi có một trung đội lính kiểng, rành thi, ca, vũ, cổ, nhạc, bi, hài, hùng, kịch tâm lý xã hội. Biệt đoàn chiến binh nghệ sĩ, rất hăng say đem niềm vui đến bốn vùng chiến thuật. Thời gian này tôi và Trầm tử Thiêng ăn dầm nằm dề trong các trang trại chờ Biệt đoàn phái đi hát dạo. 

“Tôi ca không hay, tôi đàn nghe cũng dở” thế mà nay được về làm việc bên cạnh những đại nhân trong giới cầm kỳ thi họa, một trung tâm văn hóa của Bộ Giáo Dục. Các cổ thụ Hùng Lân,  Lê Thương, Vĩnh Phan, Cao Thành Tùng, và bạn tôi Trầm Tử Thiêng đã hỗ trợ hết lòng cho nền giáo dục tiến bộ nhất Đông Nam Á. Chúng tôi rất hãnh diện là vài viên gạch lót cho nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa. 

Anh Hùng Lân, Lê Thương và Nguyễn văn Lợi mỗi người phụ trách một chương trình nhạc nhiều cấp độ, trong khi Minh Phú, cô giáo trẻ nhất trung tâm, phụ trách hai chương trình Hương Hoa Đất Nước và Giáo Dục Cộng Đồng làm say mê mọi gia đình từ Bắc vô Nam. 

Phương tiện kỹ thuật của trung tâm chẳng thua kém gì đài Sài Gòn và Đài Quân Đội. Minh Phú điều khiển dàn máy thu thanh hiện đại nhất thời bấy giờ, cô phụ trách kỹ thuật cho tất cả các chương trình học đường, bù lại, Trầm Tử Thiêng phụ diễn, phụ  họa cho Hương Hoa Đất Nước thêm vào những ngón đàn, sáng tác hàng chục bài ca ngợi quê hương cho chương trình của Minh Phú. Cám ơn Minh Phú đã bổ xung cho tôi nhớ lại những điểm son này. Các chương trình truyền hình, khoa học, địa lý, kiến thức, nhân văn từ trung tâm, phát cable đến các trường trung, tiểu toàn quốc. Hàng triệu khán giả thiếu nhi và gia đình, mê say mục “đố vui để học” trên đài truyền hình toàn quốc có tôi che gió. 

Vài người sót lại từ Trung Tâm Học Liệu, là nhân chứng cho nền một giáo dục lành mạnh, hữu hiệu thời Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn hiện hữu nơi đây: Có anh Cao Thanh Tùng, Minh Phú và Nguyễn Ngọc Chấn  và “tinh thần” Trầm Tử Thiêng.

Một điều không thể chối cãi là, tinh thần làm việc nghiêm túc của anh Lợi. Nói về người phụ tá của mình ông Hùng Lân tâm sự: “chưa bao giờ thấy anh ấy đến trễ một phút, và vào tới là cặm cụi làm việc ngay”. Ông cũng khoe một chút về người hàng xóm Trầm Tử Thiêng, ở sát vách. “Anh chị ấy” đi về khoan thai, nói năng nhỏ nhẹ, chưa hề gây tiếng động làm phiền hàng xóm”.  

Nói đến “anh chị ấy”có lẽ ai cũng ngạc nhiên vì, ngoài đời thường , ai cũng ngỡ anh Lợi là một nhà tu. Hôm nay, có thể là lần đầu, tôi hé mở, kẽ hở trái tim sâu thẳm vào đời sống tình cảm của  bạn tôi, Trầm Tử Thiêng. Với đời, và tài danh lừng lẫy, Trầm Tử Thiêng đã làm hàng vạn con tim rung động, nhưng anh đã chọn đời sống hoàn toàn khép kín, như một cánh chim lẻ loi nằm trong bóng đêm dài, mà chỉ thấy những tha thiết, nồng thắm qua ca từ của Trầm Tử Thiêng. 

Thế nhưng, với gia đình trung tâm học liệu thì khác, chúng tôi được chứng kiến, đồng cảm với một mái ấm đơn sơ, một cuộc tình tuyệt vời mà anh chị ghi dấu, trải dài trong muôn vàn tình khúc của anh. 

Nếu đoạn này còn trong bài viết, chắc hẳn đã lọt qua “vòng kiểm duyệt”  của “Người Ấy”. 

Chị Đỗ Thái Tần mà tất cả chúng tôi chỉ gọi là chị Lợi, chị còn tránh né cả cái tên vợ nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng. Gia đình anh chị cùng hai cháu ở đường Tự Đức sát vách nhà nhạc sĩ Hùng Lân. Mọi sinh hoạt ngoài đời tuyệt nhiên “Bên anh không có Tần“, nhưng ở trung tâm hai anh chị là thành viên, tích cực tham gia mọi dịp quan hôn tang tế. Các cháu của chị cũng vui vẻ tiếp các các cô chú phụ mục văn nghệ khi trung tâm cần thu tiếng thiếu niên.

Ở trung tâm, xong việc  sở, chúng tôi kéo nhau xuống ăn cơm nhà bàn và trao đổi văn hóa nghệ thuật. Cái quán cóc khiêm nhường của bác “Cung” tài xế đã đón tiếp hầu hết các danh ca của nền tân nhạc Việt Nam; Mỗi ca khúc của Trầm Tử Thiêng, từ khi chưa ráo mực đã có 5, 10 ca sĩ đến xí, dành hát lần đầu. Nhạc sĩ Nhật Ngân, đồng hương của Trầm Tử Thiêng, Duy Khánh, Nhật Trường gần như “ăn cơm tháng” quán cóc bác tài  “Cung”.

1975 chiến sự biến chuyển dồn dập, anh em lao xao, ưu tư về vận nước. Nhân viên trung tâm đa số là dân sự, không có nợ máu, họ còn lưỡng lự, riêng tôi, tay lỡ nhúng chàm bắt buộc phải tìm đường binh “thùng thủ, cù lũ dương”. Cơ hội đến tôi lặng lẽ bước chân xuống thuyền, “nước mắt như mưa”. Trong số bạn bè tôi chỉ nói nhỏ với anh Lợi, định rủ anh đi, nhưng tên hạm trưởng bạn tôi, rất tin dị đoan, nếu ghi tên Trầm Tử Thiêng vào danh sách, thì ông nội hắn cũng không dám hát bài “chiều nay ra khơi”. Thế là tôi đành lỗi hẹn. 

Bẵng đi vài năm tôi rời Bắc Mỹ về nhận việc khác ở Cali. La cà cho biết sự tình, tôi gặp Minh Phú ở chợ trời Golden West. Cô Phú vừa bán hàng vừa kể hiện tình Trung Tâm Học Liệu. Điểm danh vài người đi, đa số còn ở lại. Tôi quan tâm đến anh Lợi  thì biết anh “tự ý” kẹt. 

Sau khi gỡ nhiều niên lịch Trầm Tử Thiêng đến Mỹ. Bạn bè kết lại, câu đầu anh nói với Minh Phú: “Trong đời,  anh chưa làm điều gì phải hối hận như việc từ chối không đi Mỹ theo gia đình chị Tần“. Thì ra, thày giáo Nguyễn Văn Lợi nhà  nghèo, trong khi, tiểu thơ họ Đỗ là công chúa  con giám đốc, chủ tiệm kim hoàn. Chữ môn đăng hậu đối làm gián đoạn mối tình trong sáng của hai trẻ. Sau khi thành danh, cuộc tình Lợi Tần mới chính thức thành tựu. Nồng nàn nhất là thời gian 5 năm cuối thời Đệ Nhị Cộng Hòa, anh chị và hai cháu tràn đầy yêu thương đắm đuối dưới mái ấm ở đường Tự Đức.

Thế rồi biến cố 30 tháng 4 ập đến. Nhạc phụ nhìn tư cách biết con người của Nguyễn Văn Lợi, mủi lòng, ngỏ ý cho ghép tên Lợi vào hộ vượt biên bán chính thức. Vì tự ái anh từ chối, viện cớ còn mẹ già em dại. Trầm Tử Thiêng lặng lẽ tiển chân vợ con chia phôi biền biệt. Cuộc tình của anh chị đi vào ngõ cụt, nhớ nhung dày vò tim não, tưởng chừng bị chìm đuối. Giai đoạn này anh sáng tác vài tình khúc cho hàng triệu người thưởng thức, nhưng, chỉ một người quặn thắt con tim. Minh Phú hỏi chị có bao giờ ghi lại những bài hát của anh không? Thái Tần bảo chị thuộc mọi ca khúc, nhớ hết mỗi câu, nằm lòng  từng chữ, không chừa dấu chấm, dấu than. 

Những đắng cay, đói rét, tù đầy không đau buốt bằng sự ngăn cách một đại dương với một nửa trái tim, Trầm Tử Thiêng viết ca khúc để đời “Mười Năm Yêu Em” trở thành tuyệt phẩm hay và chua xót nhất của tình người.

Mười năm yêu em.
Em thấm đời mộng mị.                               
Mười năm yêu em, Ta thấu đời cuồng si,
Mười năm yêu em, ta hóa thành chiếc lá
Trôi theo từng cơn lũ của kiếp sống

Tình chưa yên vui, bên sống đời cuồng nộ
Chợt đêm chia phôi ngăn cách một đại dương
Từng đêm gian nan, ta ngỡ mình sắp đuối
Nhưng em tình vẫn hát từ bến trời

Mười năm tang thương (1975-1985) khi cuộc chiến tàn, Trầm Tử Thiêng kẹt lại việt nam. May mắn tránh né khỏi đi cải tạo, sinh hoạt văn hoá của anh bị chậm lại. Trầm Tử Thiêng thuộc thành phần “ngụy”. Trong suốt cuộc chiến nhiều ca khúc anh sáng tác, ca ngợi sự chiến đấu dũng cảm của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Một số bài hát trong đó có “Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gẫy” và “Bài Hương Ca Vô Tận” biến thành bản án với chế độ, nhạc anh bi khép vào loại văn hóa phản động, được đưa về Bắc Bộ Phủ để nghiên cứu từ nhạc đến lời.

Trầm Tử Thiêng trốn tránh, tìm đường vượt biên nhiều lần nhưng bất thành, bị bắt ở tù tại khám lớn Rạch gía, Trầm Tử Thiêng viết bài “Tâm Ca Của Người Tù Vượt Biển”, sau đó anh bị đầy xuống trại cải tạo lao động U minh, sống chung với anh em công chức cao cấp và sĩ quan QVch.

Xót xa nhìn những người hùng một thời, nay sa cơ nằm trong tay giặc, một buổi chiều từ láng nhìn ra, từng đám tù cải tạo, sau một ngày lao động trở về, tả tơi như những thây ma, tủi nhục, Trầm Tử Thiêng viết bài “Hành Ca Trên Nông Trường Oan Nghiệt”:

Anh em độ vài trăm, anh em độ vài ngàn, anh em chừng mươi  vạn, chới với dưới mặt trời hắc ám, như không hẹn hò ai, đau thương chung một ngày. Ngước mắt anh em nhìn nhau. Cười vang vương đồng loại. Bao năm chưa nghỉ ngơi, Ðiêu linh qua từng thời. Anh em mù loà nhân đạo, đua nhau nuôi thù hằn tiếp nối“.

Những tình khúc chia ly. Thời gian mười năm giao duyên với nhà cầm quyền Cộng Sản, Trầm Tử Thiêng vẫn sáng tác, ghi dấu những cuộc chia ly: Người vượt biển ra đi, kẻ tìm đường di tản, Trầm Tử Thiêng viết một số ca khúc như: “Gởi Em Hành Lý” như một lời nhắn ra nước ngoài, cảm nhận nỗi đau thương nơi quê nhà, những phút chia ly thật cảm động. Kế đó là những bài “Tình Khúc Sau Cùng” “Một Thời Uyên ương” ; ” Dứt bão, bắt đầu nước mắt”.

Ca khúc nói đến chia ly có những bài như “Người ở Lại đưa đò”, nói về một người cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hoa, ở lại, làm nghề đưa đò cho người vượt biển.

Bài đưa đò thứ hai, cảm động hơn, chí tình hơn: “Mẹ Hậu Giang”. Ngày xưa bà mẹ Hậu Giang đưa đò cho những người con theo kháng chiến chống Pháp, đánh đồn, sập bót. Giai đoạn kế, bà mẹ bị lôi cuốn vào cuộc chiến, nhưng lại không ở cùng chiến tuyến, hỗ trợ con theo chiêu bài kháng chiến. Sau khi quê hương bị chụp mũ bởi mỹ từ “giải phóng” mẹ Hậu Giang bừng mắt, nhận biết mình bị lừa, bà lại đưa đò chở những người con lần lượt bỏ nước ra đi sau năm 1975. Trầm Tử Thiêng viết rằng:

Mẹ Hậu Giang âm thầm quày dìa Hậu Giang, chèo chống thêm cảnh ly tan ly tan, tình mẹ hậu giang. Ngày xưa thương con đưa đò, ngày nay thương con đưa đò

https://www.youtube.com/watch?v=tVjKTOE0CaM

Cuối cùng Trầm Tử Thiêng cũng thoát đi. Anh em hải ngoại chờ đón anh từng ngày từng giờ. Ngay khi còn trên đảo một lộ trình hành động đã vạch ra, thênh thang hoạn lộ. Trầm Tử Thiêng mỉa mai bằng ca khúc, ghi dấu giai đoạn đầu đen tối của đất nước, gói ghém trong bài “Du Ca Trên Thành Phố Đỏ”, “Một Thời Uyên Ương”

Nhắc đến “du ca”, xin mở một dấu ngoặc kép, nói về một thể nhạc khác của Trầm Tử Thiêng, viết cho tuổi trẻ trong phong trào du ca. Thời gian đó, anh đã về Trung Tâm Học Liệu, gần gũi hơn với hoạt động giới trẻ. Lúc bấy giờ thanh thiếu niên bị xao xuyến trước những biến động thời cuộc, họ cảm thấy lạc lõng, lo sợ trước viễn tượng của đất nước.

Trầm Tử Thiêng cùng các nhạc sĩ thân hữu khởi xướng phong trào du ca, hát tập thể, ràng kết những người trẻ với nhau, nối nối vòng tay nhau, nhìn rõ mặt nhau, tìm ý nghĩa cho cuộc sống, xoá đi mặc cảm lạc lõng.Phong trào du ca vẫn được phát triển tại hải ngoại, Trầm Tử Thiêng hăng hái đóng góp như lúc anh còn trẻ 20 năm trước. 

Trở lại với Trầm Tử Thiêng, lúc đến trại ti nạn anh sáng tác hăng hơn, tự do hơn. Tự ví mình như con sâu, gói tròn trong cái kén, 10 năm sau mới mọc cánh, cắn lũng cái vỏ để thoát ra, bay đi thành cánh bướm:

Ta như con sâu, 10 năm nhốt đời trong cái kén, cố xé đau thương từng đêm đen. Mộng tìm một không gian rộng thênh thang, trút nỗi đau và ca lên….

Trầm Tử Thiêng không vì cái kén đã kềm hãm anh 10 năm mà trở thành cùn nhụt. Anh vẫn tiếp tục sáng tác. Bên cạnh những bài viết cho cuộc sống mới như “Mười Năm Yêu Em” , “Chợt Nghĩ Về Hai Nơi”, “Hãy Ngủ Yên Tình Yêu”, anh vẫn khắc khoải hướng về đất nước bằng tâm trạng của kẻ lưu vong. “Ðêm Nhớ Về Sài Gòn” là một điển hình:

Ta như cậu bé mồ côi. Cố vui cuộc sống nhỏ nhoi. Cố quên ngày tháng lẻ loi để lớn: Ðể đêm đêm nhớ về sàigòn…..

Giai đoạn chao động. Vừa đặt chân đến hải ngoại Trầm Tử thiên chào ra mắt bằng ca khúc “Mười Năm Yêu Em“. Qua cái nhìn khách quan, đó là một tình khúc viết cho một “ai đó”, nhưng bên trong, Trầm Tử Thiêng có gởi gấm, ẩn dụ, nói với những người sống ở hải ngoại đang thấy mỏi mệt với cuộc sống mới. Trong “Mười Năm Yêu Em” anh cảm nhận phần nào khác biệt với tâm trạng mỏi mệt của người khác. Cuộc sống nơi bến bờ tự do là lý tưởng, thực sự đối với anh, nhưng, nhiều người không ý thức cái lý tưởng đó, có thể họ đã để lý tưởng quá cao, trước khi bước chân đi, khi va chạm thực tế, họ bị hụt hững. Trầm Tử Thiêng lưu ý hai tiền đề trong Mười Năm Yêu Em:

Dường như trong ta em có điều tuyệt vọng! Dường như trong em ta vẫn đầy hoài mong.”

Ðó là điều Trầm Tử Thiêng nói đến giữa lý tưởng. Lý tưởng gọi con người là “EM”, mang thông điệp tình yêu. “EM” có thể thất vọng, nhưng lý tưởng thì làm sao biết thất vọng

Nói về Trầm Tử Thiêng tôi có thể viết một bộ sách bách khoa tự điển, nhưng thôi ! Để tưởng niệm một người bạn thế này đã quá thừa rồi; Một nhạc sĩ được mọi người mến mộ, nhưng chỉ một người có cùng nhịp thở với anh.  Tôi thông cảm với nửa trái tim còn lại của Trầm Tử Thiêng, Cám ơn “Chị Nguyễn Văn Lợi” Đỗ Thái Tần đã giúp bạn tôi trở thành huyền thoại.

Nguyễn Ngọc Chấn

Share this post