Nghị Quyết 36 Và Kế Hoạch Văn Hóa Vận – Nguyễn Thiếu Nhẫn

Kính thưa quý vị,

Đúng 25 năm trước, ngày 26 tháng 3 năm 2004, Bộ Chính Trị VC công bố Nghị Quyết 36. Tuy nhiên, trước đó ngót 10 năm, ngay từ 29 tháng 11 năm 1993, Bộ Chính Trị VC đã ÂM THẦM thông qua Nghị Quyết 8, đặt nền tảng chiến lược cho đường lối thâm nhập, lũng đoạn, đánh phá và nhuộm đỏ cộng đồng người Việt hải ngoại.

Để giữ bí mật, VC không hề công bố Nghị Quyết 8 trên báo chí, và cũng không hề đề cập đến trong bất cứ văn thư, tài liệu lưu hành nội bộ đảng CS. Ngoài Bộ Chính Trị, số người thực sự biết đến toàn bộ văn bản Nghị Quyết 8, chỉ có khoảng 10 người. Vì vậy, đến tận năm 2000, khi Bộ Chính Trị VC trao trách nhiệm chủ nhiệm Ủy Ban Người Việt Ở Nước Ngoài (UBNVONN) cho Nguyễn Đình Bin, y mới tìm hiểu về Nghị Quyết 8 và thú nhận: “Nhiều lãnh đạo các ngành, các cấp thậm chí còn không biết là đã có Nghị Quyết 8 của Bộ Chính Trị. Điều này hiểu được, vì đó là một nghị quyết mật và ra đời đã gần 7 năm.” (Nguyễn Đình Binh: Những Kỷ Niệm Không Phai Mờ.)

NHƯNG SỰ THẬT, không phải mãi đến năm 1993, mà ngay sau khi cưỡng chiếm miền Nam, và có thể nói hàng chục năm trước đó, VC đã THỰC HIỆN kế hoạch thâm nhập, lũng đoạn, nhuộm đỏ người Việt hải ngoại. Một trong những bằng chứng hiển nhiên: Vụ án gián điệp VC Trương Đình Hùng, Đinh Bá Thi, vào đầu năm 1978 tại Mỹ.

Đặc biệt, VC theo đuổi kết hoạch thâm nhập, lũng đoạn, nhuộm đỏ người Việt hải ngoại, ngay từ sau tháng 4/1975, vì những nguyên do quan trọng:

Thứ nhất, sau tháng 4/1975, làn sóng vượt biển, vượt biên đi tị nạn của hàng trăm ngàn người Việt yêu nước chống Cộng, trong đó phần lớn là tinh hoa của VNCH, chắc chắn đe doạ đến sự tồn vong của chế độ CS. Vì vậy, muốn sống còn, VC phải tiếp tục đánh phá người Việt hải ngoại, ngay tại hải ngoại. Đó là lý do, VC đã nặn lên Mặt Trận, nhằm thu hút để thủ tiêu, những người Việt yêu nước chống Cộng tại các quốc gia và các trại tị nạn.

Thứ hai, thừa hưởng kinh nghiệm “kiểm soát kiều bào” của CS Nga, CS Tàu, cộng với kinh nghiệm nhuộm đỏ “Việt kiều” suốt mấy chục năm từ 1920 đến 1975, CSVN hiểu rõ sức mạnh to lớn về kinh tế, chính trị, ngoại giao… của người Việt hải ngoại. Vì vậy, bằng mọi giá, VC phải giành quyền kiểm soát người Việt hải ngoại.

Thứ ba, qua mạng lưới đảng CS quốc tế và các thế lực thân cộng tại các quốc gia Âu, Mỹ, Úc… VC đã có cơ hội thâm nhập, lũng đoạn và nhuộm đỏ người Việt hải ngoại, nhằm biến cộng đồng người Việt thành lực lượng chính trị, hậu thuẫn cho VC và các thế lực thân Cộng tại địa phương.

Thứ tư, đặc biệt tại Mỹ, Đảng CS Mỹ (Communist Party of the United States of America – CPUSA) là con đẻ của CS Nga. Ngay từ trước khi thành lập vào ngày 1 tháng 5 năm 1919, CS Nga đã hậu thuẫn Đảng CS Mỹ về tài chánh, đường lối, huấn luyện nhân sự… Sự hậu thuẫn này kéo dài suốt 70 năm, đến năm 1989 mới chấm dứt, sau khi Đảng CS Mỹ phản đối chính sách cải cách và khai phóng của CS Nga. Vì vậy, có thể nói, trong suốt cuộc chiến tranh VN, Đảng CS Mỹ, qua sự giật dây của CS Nga, đã thường xuyên, liên tục tiếp tay VC đánh Mỹ và VNCH. Sau 1975, VC là đồng minh chiến lược của CS Nga trong cuộc chiến chống CS Tàu, nên VC đã được CS Nga huấn luyện và tận tình giúp đỡ, móc nối được Đảng CS Mỹ và các tổ chức, cá nhân phản chiến tại Mỹ…

Thứ năm, trước năm 1975, VC đã có mạng lưới nằm vùng và thân Cộng trong số “Việt kiều” đặc biệt, những người Việt du học hoặc định cư tại Pháp, Mỹ, Úc và các quốc gia CS Đông Âu. Vì thế, sau 1975, VC tiếp tục nuôi dưỡng và phát triển mạng lưới VC nằm vùng và thân cộng tại hải ngoại.

Từ 5 nguyên do quan trọng trên, ngay năm 1986, VC đã xảo quyệt dùng chiêu bài “giao lưu văn hoá” che đậy âm mưu “giao lưu chính trị”, mời cựu chiến binh phản chiến Mỹ Kevin Bowen, giám đốc Trung Tâm William Joiner, sang thăm VN với chiêu bài, “dùng văn thơ và thiện chí hoà bình, hàn gắn những hoang tàn đổ nát tại VN chiến tranh do Mỹ gây ra”.

Năm sau, 1987, Lê Lựu, “bộ đội phục viên kiêm đặc công văn hoá” VC, trong vỏ bọc nhà văn, đã đến Mỹ dưới vỏ bọc “giao lưu văn hoá Hoa Kỳ”. Vì vậy, năm 1987 được VC chính thức ghi nhận là năm khởi đầu của “giao lưu văn học Việt–Mỹ”.

Tiếp theo, với công sức của những văn nô, ký nô, trong đó có Nguyễn Bá Chung, (1) hàng chục tác phẩm thơ văn của các văn thi sĩ VC và phản chiến Mỹ được dịch ra tiếng Anh, Việt, hàng trăm chuyến viếng thăm giữa hai nước được diễn ra, dưới sự giật dây của VC và bè lũ phản chiến, thân cộng tại Mỹ.

Đặc biệt, trong thời gian này, VC đã nguỵ tạo hàng chục cuốn nhật ký dzỏm, hoặc thư từ dzỏm chưa gửi, của bộ đội, thanh niên xung phong đã chết trên chiến trường miền Nam, trong đó có hàng trăm bài thơ, hình vẽ chim hoà bình… Để che giấu bản chất hiếu chiến và hiếu sát, những bài thơ này được VC nguỵ tạo với cùng nội dung, “yêu hoà bình, ghét chiến tranh, ước mơ cầy cấy, lấy vợ đẻ con…”. Sau đó, văn thi sĩ VC đem những cuốn nhật ký dzỏm sang Trung Tâm William Joiner, biến chúng thành những “di vật của người lính giải phóng quân đã hy sinh”, được lính Mỹ lưu giữ trong chiến tranh VN.

Kết quả của trò bịp bợm này, năm 1994, Đại học Massachusetts cho xuất bản tập thơ tiếng Anh mang tên “Thơ từ những tài liệu bị bắt giữ” (Poems from the Captured doccument) do Bruce Weigl và Kim Thanh dịch.

Văn nô, thi nô VC cấu kết với bè lũ “phản chiến Mỹ”, nguỵ tạo hàng chục cuốn nhật ký dzỏm, trong đó có hàng trăm bài thơ dzỏm, mệnh danh là “di vật của người lính giải phóng quân đã hy sinh”, được lính Mỹ lưu giữ trong chiến tranh VN, in thành tập thơ Anh – Việt mang tên bịp bợm “Thơ từ những tài liệu bị bắt giữ” (Poems from the Captured doccument).

Giới thiệu tập thơ nguỵ tạo này, Nguyễn Quang Thiều (2) đã viết những dòng tung hứng, điêu ngoa, dối trá: “Đó là những bài thơ ghi chép trong sổ tay hoặc trong những giấy tờ khác của những người lính giải phóng Việt Nam bị quân đội Mỹ thu giữ trong chiến tranh. Khi đọc những tài liệu này, các nhà thơ của Trung Tâm William Joiner phát hiện ra một điều kỳ lạ là: Một hình ảnh mà chủ nhân của những cuốn sổ tay hay giấy tờ ấy đều vẽ là những con chim hòa bình và một loại căn bản được ghi chép trong hầu hết các cuốn sổ tay và giấy tờ ấy là bài thơ về đất nước, về mẹ, về vợ, về những người yêu và giấc mơ trở về cấy cày, gieo hạt, lấy vợ sinh con đẻ cái sau khi chiến tranh kết thúc. Phát hiện ấy đối với những cựu binh Mỹ và người Mỹ có lẽ là một trong những phát hiện lớn nhất về chiến tranh Việt Nam và con người Việt Nam…”.

Trên đây là những SỰ THẬT, chứng tỏ âm mưu thâm độc của VC đã được thực hiện từ lâu, trước khi Nghị Quyết 36 được công bố năm 2004. Và để một lần nữa, thấy rõ âm mưu thâm độc của VC đã ảnh hưởng đến cộng đồng người Việt hải ngoại như thế nào, trong suốt thời gian trước và sau Nghị Quyết 36, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cùng quý vị, bài viết “NGHỊ QUYẾT 36 VÀ KẾ HOẠCH VĂN HÓA VẬN”, của tác giả Nguyễn Thiếu Nhẫn (Lão Móc). Hy vọng, bài viết với giá trị tiên đoán về âm mưu, thủ đoạn của VC, cùng hàng loạt bằng chứng cụ thể về những kẻ chạy theo bưng bô cho VC, sẽ được sự quan tâm, chia sẻ và phổ biến. Nếu Quý vị nhận email này hơn một lần, xin thông cảm; nếu phiền lòng, xin thứ lỗi và email về huunguyen@saigontimes.org.

Trân trọng,
Hữu Nguyên

(1) Nguyễn Bá Chung, sinh năm 1948 tại Bắc Việt, di cư vào Nam năm 1954, được du học tại Mỹ, trở thành tay sai VC, tác giả nhiều bài viết đầy hận thù đối với VNCH, trong đó có bài thơ Di Tản mô tả người Việt tỵ nạn với những lời đầy ác ý:

Là mảnh vụn của sỏi đá
là giọt nước của ao tù
là tia nắng cuối cùng mong manh
là viên đạn lép
cuối nòng súng rỉ
là ngôn ngữ bất lực
của tháng ngày bất lực
là vết bầm cuối cùng
của cuộc nội thương
là vết rêu của sỏi đá
là hơi sương trên ao tù
là tia nắng cuối đời mong manh
là viên đạn lép
không bao giờ bắn nữa
là ngôn ngữ khởi đầu
khi tiếng bom chấm dứt
là những gì đọng lại
sau cơn động đất cuối mùa.

(2) Nguyễn Quang Thiều, nhà thơ, nhà văn, hiện là phó chủ tịch Hội Nhà Văn VC, tác giả “Mùa Hoa Cải Bên Sông”, một truyện ngắn nổi tiếng thâm độc, bôi nhọ người Việt tị nạn. Hơn 20 năm trước, SGT đã có bài viết phân tích dụng ý dung thâm độc của tác giả, sau khi báo VL đăng truyện.

Share this post