Nghĩ vụn… TIẾNG NÔM, TIẾNG HÁN – Nguyễn Hữu Nghĩa

Nghĩ vụn… TIẾNG NÔM, TIẾNG HÁN –  Nguyễn Hữu Nghĩa

Hai miền Nam Bắc Việt Nam chia cách có 21 năm (1954-1975) mà cách dùng chữ đã khác nhau khá nhiều. Sự khác biệt về dụng ngữ đôi khi trở thành xa lạ, nhất là khi nhuốm chút màu sắc chính trị, từ đó thành ra “tiếng ta, tiếng nó”, “tiếng Sài Gòn, tiếng Hà Nội”. Và đôi khi, từ ngữ đã bị “vu oan” là “tiếng bộ đội” trong khi thực nó đã nằm ngoan ngoãn trong tự điển miền Nam (VNCH) từ  lâu lắm rồi, nhưng lại chỉ thông dụng ở miền Bắc XHCN nên bị coi là “tiếng VC”.

Thí dụ động từ “đăng ký”, nghĩa là “ghi danh”, “ghi tên” “đăng bộ”, “đăng bạ”, là tiếng của cả hai miền.

  • Tự điển Việt Anh của Nguyễn Văn Tạo (miền Nam), giải thích là “to make a note of”, “to record”, “to register”.
  • Việt Nam Tự Điển của Lê Văn Đức (miền Nam), giải thích là “vô sổ”, “ghi vào nhật ký”.
  • Tự điển Anh-Việt Việt-Anh Chính Trị Hành Chánh Kinh Tế Chính Trị Pháp Luật của Quỳnh Lâm (miền Nam) giải thích là “to register”, “registration”.
  • Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh (miền Nam), giải thích là “biên chép vào sổ” (noter enregistrer).
  • Hán Việt Từ Điển của Nguyễn Văn Khôn (miền Nam) giải thích: “Ghi chép vào sổ”.

Vậy thì, “đăng ký” rõ ràng là tiếng chung của người Việt Nam, thế sao chúng ta lại ruồng rẫy, khai trừ nó sau khi phát cho nó cái nón cối? Làm thế chẳng khác gì kẻ cướp vào nhà ta, bắt cóc con cháu ta rồi chúng ta “từ” nó, gọi nó là con của …kẻ cướp?

Thiết nghĩ, chữ nghĩa chẳng tội tình gì. Tội là tội của những kẻ ngu dốt nhưng có quyền bính, đã dùng sai, dùng chữ “lớn” vào chuyện “nhỏ”: khẩn trương lên xe, khẩn trương đi… ị! Hoặc ngược lại, dùng chữ nôm trong trường hợp cần trang trọng: “Nhà Trắng” thay vì “Bạch Cung”, hay “tòa Bạch Ốc”, biển Đen thay vì Hắc Hải.

Phản ứng đúng nhất của chúng ta là nên tìm hiểu tận gốc để dùng cho đúng. “Tiếng ta tiếng nó” không quan trọng bằng nói đúng, viết đúng.

Có một chuyện không mấy thú vị mà tôi đọc thấy trên Internet, là ai đó nói rằng 90% tiếng Việt là tiếng Tàu do đó người Việt là …người Tàu.

Về chuyện người Việt là người Tàu, xin miễn cãi vì nó quá sức ngớ ngẩn. Người Việt xưa sống ở hai bên bờ sông Dương Tử, phụ nữ rất xinh đẹp và nam nhân có tài đúc kiếm lừng danh,.. ngay cả sử sách Tàu, truyện Tàu cũng đã nói rõ. Người Tàu đánh đuổi người Việt, chiếm nước Việt và ở đó luôn cho tới bây giờ. Không thể bảo vì tổ tiên Việt xưa sống trên đất-Tàu-bây-giờ nên người Việt là người… Tàu. Nói vậy là nói ngược. Người Tàu hủy diệt được phần lớn văn hóa Việt, xóa mất dấu tích chữ Việt (bây giờ còn dấu vết trên trống đồng nhưng không mấy ai hiểu), khiến người Việt phải dùng chữ Tàu, và sau này từ đó mà biến chế ra chữ Nôm, nhưng không vì thế mà người Việt là người Tàu. May mắn thay, người Việt còn giữ được tiếng nói riêng, và cái nền “văn hóa khạc nhổ” của người Tàu không thâm nhập được vào văn hóa Việt!

Riêng phân suất tỉ lệ tiếng Hán Việt so với với tiếng Nôm, cần phải coi lại. Tôi không biết con số 90% hay ngay cả 60% đó từ đâu ra? Có được thống kê cẩn thận không hay là nhắm chừng mà nói bừa?

Thí dụ như trong câu này: “Tiếng nôm được dùng rất nhiều trong câu chuyện hàng ngày, đi làm, chơi giỡn, ngủ nghê, ăn uống…” thì 100% là tiếng nôm, chẳng có tiếng Hán Việt nào chen vô; nhưng khi nói, “trong văn chương, nhất là các bài nghị luận, phê bình, chính trị,.. thì tiếng hán việt chiếm ưu thế” chỉ có 6 tiếng nôm (30%), 14 tiếng Hán Việt. Hay khi kiểm lại tên họ người Việt, thì hầu hết là tiếng Hán Việt: Nguyễn Văn Thiệu, Ngô Đình Diệm, Hoàng Cao Khải, Nguyễn Tường Tam, đều là Hán Việt. Người ta cũng dùng tiếng nôm để đặt tên con, nhưng ít hơn: Ồi, Mít, Xoài, Cọp, Rồng, Được, Giàu, Mạnh, Khỏe, Lượm, Cho,..

Nói chung, lợi thế của tiếng Hán Việt là súc tích, ngắn gọn. Chúng ta phải dùng bao nhiêu tiếng nôm để làm rõ nghĩa và thay thế được các chữ: “tự do”, “độc lập”, “hạnh phúc”, “tàn ác”, “kiêu dũng”, “văn chương”? Có cần thiết phải thay cho bằng hết bằng tiếng nôm? Và tại sao lại phải thay?

Bạn có thể nói là vì ghét Tàu, vì để “thoát Trung”? E rằng chỉ thoát về hình thức nhưng không thực tế. Nói cách khác, việc giao lưu văn hóa là hiện tượng tự nhiên về nhân văn, nó xảy ra hàng mấy ngàn năm và đều khắp mặt địa cầu. Bạn có biết có bao nhiêu tiếng cổ La Mã, Hi Lạp, Pháp, Á Rập, Pháp, Đức trong tiếng Anh không? Và người Anh không hề có một xu mặc cảm thua kém về sự vay mượn (hay nói cách khác: Chiếm hữu) đó!

Người Hàn, người Nhật đều dùng khá nhiều tiếng Hán, chữ Hán như người Việt chúng ta, không vì thế mà họ kém hơn người Tàu. Tương tự, người Việt miền Trung và miền Nam dùng một số tiếng Chàm và Miên, không vì thế mà nên cho rằng ai kém hơn ai.

Nhân đây, xin nói ra bên lề câu chuyện một tí: Nhiều bạn trẻ hỏi, “làm sao phân biệt được tiếng nôm và tiếng Hán Việt?” Dễ mà khó! Tôi e chỉ có một cách là nhớ nằm lòng. Mua một cuốn tự điển Hán Việt để tra cứu, chữ nào có trong đó là tiếng Hán Việt! Một cách nữa là “tụng” cuốn “Nhất Thiên Tự” của ta, viết bằng thơ lục bát, và nhớ lấy 1015 chữ Hán Việt trong đó, bắt đầu bằng:

“Thiên: Trời — Địa: Đất – vân: Mây

Vũ: Mưa – phong: Gió – chú: Ngày – dạ: Đêm

Tinh: Sao – lộ: Móc – tường: Điềm

Hưu: Lành – khánh: Phúc – tăng: Thêm – đa: Nhiều

…”

Biết nhiều từ ngữ Hán Việt, vốn là một điều hay, giống như người học Anh, Pháp ngữ mà biết nhiều tiếng La Tinh vậy. Tuy nhiên, đã hiểu nghĩa, chưa đủ, còn phải biết cách dùng vào trường hợp cho thích hợp. Không nên “sợ” tiếng hán việt, mà cũng không nên coi thường tiếng nôm. Muốn “thoát Trung” mà sửa “thủy quân lục chiến” thành “lính thủy đánh bộ” nửa nạc nửa mỡ thì chẳng ra làm sao, mà sửa nốt thành “lính nước đánh cạn” lại càng kỳ cục!

Tóm lại, về ngôn ngữ, không nên có mặc cảm tự tôn hay tự ti hoặc cảm xúc chính trị chen vô. Điều quan trọng là phải hiểu đúng và dùng đúng. Trong nước, người ta đang từng ngày phá hoại chữ Việt, trên đài phát thanh, phát hình, báo chí và cả mạng thông tin xã hội. Dân Việt, muốn giữ nước, song song với việc giữ đất, giữ biển, cần phải bảo vệ sự trong sáng và chính xác của chữ Việt.

Share this post