Người Đưa Thư Bất Đắc Dĩ – Cái Bóng Hư Vô

Người Đưa Thư Bất Đắc Dĩ – Cái Bóng Hư Vô

Vượng ngồi im lặng. Chàng muốn ngồi tĩnh tâm đôi phút nhưng không được. Có cái gì ám ảnh trong đầu mà chàng không nhận ra được. “Mình già trước tuổi rồi”, chàng lẩm bẩm một mình. Hình như cái sinh khí ngày nào còn xót lại đến bây giờ bắt đầu biến thái. Có lẽ “lão hóa” thì đúng hơn. Chàng suy nghĩ vẩn vơ: “Để nói về cái già, người ta dùng câu ‘Bạc mầu thời gian’, còn ‘Tiếng thời gian’ thì sao nhỉ ! Nó khan khan, nó nhừa nhựa hay đứt đoạn …” Rồi chàng lại lẩm bẩm: “Thôi, kệ nó, lão hay cụ gì cũng có gì lạ đâu … Chỉ tội nghiệp cho con bé. Phải chi mẹ nó … Biết sao giờ, nhưng mình phải đi gặp Vọng xem sao đã.”
Vượng đứng dậy mặc quần áo, bước ra cửa. Chàng vào xe, nổ máy xe, lái vội ra đường. Vượng quay cửa kính xe xuống khá nhiều. Gió lùa vào lành lạnh. Một cảm giác gờn gợn cờn trên da thịt. Chàng mở nhạc, không phải để nghe mà để phá tan cái trống rỗng đè nặng trong đầu.
Vượng đến quán cà phê, nơi Vọng hẹn, kiếm chỗ đâu xe dễ dàng vì là ngày thường và quán lại ở cách khu thương mại người Việt khá xa. Chàng bước vào quán. Vọng đang ngồi ở một bàn sát góc tường, thấy Vượng vào, vội đứng dậy ra đón Vượng. Sau lời chào hỏi, Vọng nói:
– Thưa bác dùng gì ?
Vượng trả lời:
– Lâu lắm không uống cà phê, giờ uống thử xem có mất ngủ như trước không …
Tiếng Vọng vừa nhỏ, vừa ấp úng:
– Thưa bác, con không biết nói thế nào để bác hiểu cho con …
Vượng ngắt lời:
– Anh cứ nói đi. Đừng ngại. Chúng ta đi thẳng vào vấn đề … anh hiểu ?
Vọng nắm hai tay lại và nói:
– Vâng, con xin vào đề ngay. Như bác biết, Đoan và con thương nhau thật lòng đã gần hai năm rồi. Chúng con ít gặp nhau vì cả hai đều bận bịu, vừa đi làm vừa đi học thêm. Tuần trước, chúng con bàn định về chuyện hôn nhân của chúng con. Trước hết, con sẽ đưa Đoan về nhà để giới thiệu với mẹ con.
Thưa bác, con là con một. Ba con tử trận từ khi con còn nhỏ. Mẹ con ở vậy nuôi con từ đó đến giờ. Con xin nói ngay là mẹ con rất nghiêm khắc. Bà ít nói, lúc nào nét mặt cũng đăm chiêu tư lự. Bà suốt đời hy sinh, lo lắng cho con cho nên con không bao giờ dám trái ý mẹ con cả.
Vọng ngưng giây lát rồi tiếp:
– Cuối tuần trước, con đưa Đoan về nhà giới thiệu với mẹ con. Đoan ít nói như mẹ con, nên trong bữa cơm trưa, câu chuyện vẫn còn trong phạm vi giao tế, dè dặt. Sau bữa cơm, con đề cập tới … vấn đề chính của chúng con và con xin phép đi vào phòng để Đoan có dịp nói chuyện nhiều với mẹ con. Chỉ mươi phút sau đó, mẹ con vào phòng riêng và bảo rằng bị nhức đầu muốn nằm nghỉ. Con bước ra thấy Đoan như người mất hồn và đòi về ngay …
Vọng nét mặt buồn buồn, ngưng lại, đưa tay xoay xoay ly cà phê …
Vượng từ khi nghe Vọng nói về bố mẹ Vọng, chàng hơi bất ngờ vì chưa nghe Đoan, con gái chàng cho chàng biết điều này. Chàng vốn trầm tĩnh nên ngồi yên nghe Vọng nói tiếp. Tiếng Vọng lại vang lên:
– Sau đó, con đưa Đoan về. Trên đường đi, con gặng hỏi Đoan xem chuyện gì xảy ra nhưng Đoan không muốn nói. Mãi đến lúc xuống xe, Đoan mới nói rằng “Khi nghe em nói về gia đình em, mẹ anh biến sắc mặt. Bà im lặng một lát rồi nói rằng bị đau đầu bất chợt nên cáo lui vào phòng nghỉ. Bây giờ tới lượt em nhức đầu. Em cần yên tĩnh. Dầu sao, cũng xin cám ơn anh và nhờ anh tạ lỗi với mẹ anh nếu em có gì sai quấy”.
Thưa bác, con không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Khi về lại nhà, con thấy mẹ con vẫn ở trong phòng, bà không nói năng gì cả. Đến hôm qua, bà nói với con vỏn vẹn một câu: “Cô Đoan không có lỗi gì cả. Mẹ không muốn gặp cô ấy nữa. Không tại sao cả. Con lớn rồi. Con tự quyết lấy”. Con như sét đánh ngang tai. Con nhiếu lần điện thoại đến Đoan như chỉ nghe lời nhắn thôi. Con biết, Đoan tránh né không bắt điện thoại. Theo con hiểu, chắc có chuyện gì liên quan đến hai gia đình … Chuyện người lớn, con không biết và không dám bàn tới. Con khổ quá … Con chỉ biết xin gặp riêng bác để nói thật chuyện mới xảy ra.
Nghe tới đó, Vượng ngắt lời Vọng:
– Cho tôi vô phép hỏi quý danh thân mẫu anh.
Vọng đáp:
– Thưa bác, mẹ con tên là Vũ Thị Bạch Lê.
Vượng như chết sững khi nghe tên đó. Chàng cố làm vẻ im lặng nói chầm chậm:
– Chuyện này để tôi về hỏi lại con gái tôi đã. Anh bình tĩnh, chuyện đâu còn đó. Theo tôi nghĩ, chắc tôi phải đến gặp mẹ anh để hy vọng vấn đề được làm sáng tỏ hơn. Cám ơn anh đã cho tôi biết sự tình.
Vượng uống thêm miếng cà phê trước khi ra về. Chưa bao giờ chàng thấm được vị đắng của cà phê như thế. Trước khi chia tay, Vượng còn nhắc Vọng nếu có chuyện gì lạ thì hãy báo cho chàng biết ngay.

Vượng lên xe, thay vì về nhà ngay, chàng chạy tắp vào Safe Way, gần nhà chàng. Chàng kiếm một chỗ vắng đậu xe xong ngồi thừ người ra. Ngay từ khi nghe Vọng nói về bố mẹ Vọng, chàng có linh tính kỳ lạ không biết xấu hay tốt … Bây giờ, chàng cũng không biết được, mà lẩm bẩm trong miệng: “Tại sao lại là Bạch Lê nhỉ? Làm gì có chuyện trùng tên họ!”
Vượng ngồi lặng đi trong xe. Đầu óc chàng rối bung. Cả tiếng tiếng đồng hồ sau mới lái xe về. Khi về tới nhà, Vượng bước ngay vào phòng, mở cửa sổ ra, ngồi xuống bàn và im lặng … Tối hôm đó, giấc ngủ bình thường đã được thay bằng trằn trọc, thao thức … Câu nói của Bạch Lê văng vẳng vang lên trong đầu chàng: “Anh muốn em trả lời ngay ư? Thì đây, với em, Bạch Lê này, để làm giảm đi, hay hủy đi cái quá đau khổ của mình thì em sẽ “lăn” vào cái đau khổ khác mà nó còn ghê gớm, đau khổ hơn cái đau khổ trước nữa … bởi …” Nàng bỏ lửng câu nói ngay sau đó … Vương hiểu Lê muốn nói gì. Câu nói đó vẫn ăn chết trong đầu óc chàng. Bây giờ, nó như ngàn con sóng, đang cuồn cuộn lên, đang đánh vào vùng thâm sâu thầm kín nhất của ký ức chàng. Chàng biết rõ bản tính Lê, và “chuyện này” nếu đến với nàng, cũng không có gì lạ cả … Nhưng tại sao hai chúng ta lại gặp lại nhau vào lúc này ? Vượng không tìm ra câu trả lời.
Ngày hôm sau chàng xin nghỉ việc để đếm gặp mẹ Vọng. Chàng lo sợ cho chuyến đi “gặp gỡ” này. Chàng phải đi. Đi trong hồi hộp, hoang mang.
Đến nhà Vọng, chàng gõ cửa, đứng đợi mà không yên … Một người đàn bà ra mở cửa. Thấy chàng, bà ta nói ngay:
– Xin mời ông vào.
Vượng bước vào trong im lặng. Người đàn bà lại lên tiếng:
– Xin lỗi ông, ông đến đây làm gì ?
Vượng không ngạc nhiên khi nghe Bạch Lê hỏi với giọng điệu y như ngày xưa. Chàng trầm tĩnh trả lời:
– Thưa bà, tôi đến đây vì cả hai chuyện: người lớn và đám trẻ.
Bà Bạch Lê, tức mẹ Vọng, ngắt lời:
– Thưa ông, chuyện đám trẻ hãy để chúng tự giải quyết lấy. Chúng lớn rồi. Chúng tự chủ, tự quyết được. Còn chuyện người lớn thì … thưa ông đây …
Bà Lê đưa tay tát ‘bốp bốp’ vào mặt Vượng không chút đắn đo. Xong, dằn giọng nói:
– Một cái cho người con gái bị ông phụ tình, một cái cho người đàn ông, bố thằng Vọng là thuộc cấp của ông bị tử trận.
Bà Lê uất nghẹn không nói tiếp được. Hai tay nắm lại, rung lên. Còn Vượng bị hai cái tát nảy lửa, không kịp phản ứng gì cả. Chàng như Từ Hải chết đứng. Vài giây sau, đến lượt Vương run lên, hai tay nắm lại, định giơ tay lên thì thấy đau nhói cánh tay trái. Chàng phải đứng yên lặng vài phút sau mới dằn cơn đau xuống. Trong giây phút kích động, Vượng quên mất cánh tay trái chàng đã bị gẫy xương đòn gánh … Không khí im lìm ngột ngạt vây quanh hai người.
Sau hai cái tát … mạnh tay, cái ẩn ức, dồn nén trong người Bà Lê như vụt bung ra, bà thoáng vẻ ngơ ngác và đưa tay ôm đầu. Còn Vượng thấy mình bất lực, chán chường tất cả … Không khí nặng nề chưa tan hết. Biết không thể kéo dài tình trạng đó thêm, Vượng nói:
– Thưa bà, chuyện của ông nhà, quả thật tôi không biết phải giải thích thế nào. Còn chuyện “phụ tình”, tôi không phải là người như bà kết tội. Cho đến ngay bây giờ, tôi vẫn không hiểu và không hề biết gì về hai chuyện trên cả.
Tiếng bà Lê cắt ngang:
– Phải, ông không nói lời bội bạc với tôi. Nhưng tôi làm sao sánh với cô nữ sinh trẻ đẹp con nhà giầu trường Thiên Phước được … Bây giờ ông nhớ chưa ?
Nghe nói thế, Vượng đoán biết được phần nào chuyện “phụ tình”. Chàng cố nén tự ái, nói giọng man mác buồn:
– Oan khiên, định mệnh. Thưa bà, nếu giải thích được, chỉ có hai chữ đó thôi. Dầu sao, chuyện đâu còn đó, nhân chứng còn đây. Tôi mong rằng oan trái sẽ được giải. Cám ơn bà đã cho tôi thật nhiều bất ngờ. Thật nhiều đau đớn xót xa. Xin chào bà.

Vương lái xe về nhà. Chàng hạ cửa kính xe xuống muốn nghe những cảm giác gờn gờn lạnh … Nhưng không, chàng thấy thoải mái, nhẹ nhõm trong người … Về đến nhà, Đoan đang dọn bữa chiều. Hai cha con ngồi ăn cơm, nói chuyện bâng quơ. Vượng biết con mình đang có điều ưu phiền ray rứt trong lòng không muốn nói ra. Chàng nghĩ, có thể con gái chàng không muốn lôi kéo chàng vào vũng lầy làm … sa lầy thêm. Để an ủi Đoan, Vượng nói:
– Con ạ, nếu con muốn có một cuộc sống hạnh phúc bình thường, thì hãy tin và cứ tin. Còn nếu con muốn đi tìm một cái gì đó, có thể mới lạ hay cho riêng mình thì hãy … dấn thân. Cả hai con đường, tuy khác nhau về ‘đường đi’ nhưng về ý nghĩa, nó có một trị giá tuyệt đối như nhau. Mẹ con mất hai năm rồi, ba chưa có dịp tâm sự với con. Đừng buồn ba. Thôi, để mai ba sẽ tâm tình với con. Ba biết con đang gặp chuyện ẩn ức. Cám ơn Thượng đế đã cho ba biết chuyện đó. Con đừng quá phiền muộn làm chi.
Chàng về phòng, ngồi vào cái ghế quen thuộc, im lặng nhìn ra ngoài cửa. Chuyện đời, muốn quên, không thể được; còn muốn nhớ, lại càng xót xa thêm … Thời gian là nguyên nhân của nhiều thay đổi, nhưng khó mà ‘lung lay’ được “bản tính ký quái” của ai đó (?) … và trong tình yêu, những có cái “kỳ quái” đó cũng không khó kiếm lắm (nhất là đối với phái “yếu”). Đâu đó, chuyện ngày xưa lại hiện về ….

. . . . . . Tuổi hai mươi, chàng chưa biết yêu. Chàng chưa nghĩ đến chuyện đó. Có một điều chàng nhận rõ hơn cả: không thể học tiếp lên đại học được. Mới ở năm đầu đại học, chàng học hết vô nổi, không giải thích được. Chàng cũng biết không thể thi vào các khóa như Đại học Sư phạm, Bác sĩ, Dược sĩ, Kiến trúc … nên đành quay sang các khóa cán sự. Các khóa này chỉ cần bằng trung học Đệ nhất cấp trở lên được nộp đơn thi tuyển. Trên thực tế, các khóa cán sự như Sư phạm Cấp tốc, cán sự Thương mại, cán sự Bưu Điện, v.v… thí sinh dự thi rất nhiều. Số người nộp đơn thi mỗi khóa cán sự, nói chung, thường lên tới bảy, tám ngàn người nhưng chỉ có khoảng dăm trăm người trúng tuyển thôi. Các thí sinh chỉ có bằng Trung học Đệ nhất cấp rất ít, mà đa số là có bằng tú tài. Lý do chính cho hiện tượng đó là những thí sinh tốt nghiệp các khóa Cán sự đến tuổi động viên sẽ theo học Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức và sau hai năm phục vụ trong quân đội sẽ được biệt phái trở về làm việc với ngành nghề gốc của mình.
Với chàng, các khóa cán sự tuy thế, cũng con một chút mong manh hy vọng. Chàng đã nộp đơn thi rất nhiều khóa cán sự, như cán sự Điện, Kiến Trúc, Nông Lâm Súc, Thương Mại, Bưu Điện … Chàng nghĩ, cứ thi đại đi, nếu đậu vào trường nào, học trường đó. Tuy thế, trong thâm tâm, chàng cũng mơ được trúng tuyển cán sự Thương Mại vì ngành thương mại công việc nhẹ nhàng và đặc biệt … nữ công chức nhiều hơn (!) Hôm đi nộp đơn, chàng đã thấy hàng chục cô nộp đơn, còn đấng mày râu, chỉ có vài, ba … mống thôi.
Kết quả kỳ thi mang cho chàng một nhiều bất ngờ: “chó ngáp phải ruồi” vì đã trúng tuyển và lại trúng tuyển vào lớp cán sự Bưu Điện. Một lớp cán sự chàng không có chút thiện cảm nào … Thế mà lại “dính chấu”. Cái viễn tượng tà áo thướt tha của các cô thư ký “đánh móng” (đánh máy), kế toán ngành thương mai được thay thế bằng mấy … “chàng đưa thư” hay những bà công chức “ôm bưu phẩm, đóng dấu tem thư” … Nghĩ tới đó, chàng mỉm cười vu vơ …
Trường Quốc Gia Bưu Điện ở đường Phan Đình Phùng trong một khu phố rất yên tĩnh, cây cao, bóng mát rợp hai bên đường. Quanh đó gồm nhiều cơ sở, trường học như Trường Quốc Gia Thương Mại, Đài Phát Thanh, Tổng Cuộc Thực Phẩm Quốc Gia … Khung cảnh thật nên thơ đó đã làm mờ đi hình ảnh về “người đưa thư” – một ám chỉ dành cho mấy chàng học cán sự Bưu Điện – và chàng thấy niềm vui mới ngay trong tuần lễ đầu mới nhập học.
Hai năm trôi qua, chàng tốt nghiệp trong kỳ thi ra trường với hạng trung bình. Các khóa sinh tới trường để nhận kết quả mãn khóa. Chàng được bổ nhiệm về Ty Bưu Điện Tây Ninh. Đang đứng trước văn phòng nhà trường để chờ vào làm thủ tục và nhận giấy bổ nhiệm bỗng có cô bạn học đi đến hỏi:
– Anh được về đâu ?
Chàng trả lời:
– Tôi về Tây Ninh.
Cô bạn hớn hở ra mặt, vừa cười vừa nói:
– Tôi được về Diên Khánh, Nha Trang. Diên Khánh tức Thành (Diên Khánh) ở cách Nha Trang khoảng mươi cây số … À, anh cho tôi hỏi điều này nhe ?
Chàng gật đầu. Cô bạn nói tiếp:
– Thú thật, tôi nguyên quán ở Tây Ninh, tất cả gia đình nội ngoại tôi ở ngay Tòa Thánh … Anh có thể hoán đổi cho tôi được không ? Chúng ta chỉ cần vào văn phòng đổi tên qua lại cho nhau là xong thôi … Anh giúp tôi đi nhe.
Chàng ngây người ra, trong bụng thấy vui vui vì … Nha Trang “ngon lành” hơn Tây Ninh nhiều ! Tuy thế, chàng vẫn làm bộ không biết gì, nói chậm rãi:
– Gia đình tôi ở Sài Gòn, tôi không có ai quen ở cả Nha Trang và Tây Ninh cả. Xong, ở Tây Ninh, có đi về Sài Gòn cũng chỉ và ba giờ đường xe đò thôi … Còn Nha Trang … quá xa xôi …
Cô bạn học lại cất tiếng nỉ non:
– Anh một mình, đi đâu chẳng được. Còn tôi, tội nghiệp ba má tôi chỉ mong tôi được bổ về mấy tỉnh quanh Sài Gòn thôi. Anh giúp tôi đi nhe. Anh gật đầu đi …
Chàng làm bộ nói giỡn:
– Tôi bằng lòng thì chẳng hóa ra phải tốn thêm tiền xe đi xa hay sao !!
Cô bạn học nói ngay:
– Chúng tôi không để anh thiệt đâu … Lộ phí xe cộ, gia đình tôi xin gánh chịu hết.
Tới lúc đó chàng mới cười:
– Nói thế thôi chứ ai lại làm thế. Thôi được, tôi bằng lòng.
Cô bạn cùng trường mừng quá, nhảy lên, cười nói vui vẻ và kéo chàng vào văn phòng làm thủ tục hoán đổi.
Ngày nhận giấy bổ nhiệm đó, chàng được cô bạn … đền ơn bằng một bữa ăn thật vui vẻ và thân mật không ngờ được.
Cuộc sống công chức “sáng vác ô đi, tối vác về”, mở màn cho những bước đầu vào đời của chàng, thật êm đềm như cuộc sống hiền hòa ở Thành Diên Khánh, nơi chàng làm việc. Khi mới nhận nhiệm sở, các công nhân viên chức ở Ty Bưu Điện Diên Khánh giới thiệu cho chàng mướn một phòng nhỏ ở gần chợ và gần chỗ làm. Chàng không ngờ cuộc sống ở Thành lại trầm lắng hiền hòa và cảnh đồng quê đẹp vô cùng.
Hơn nửa năm sau, chàng lại may mắn được chuyển ra Nha Trang làm việc. May mắn vì trưởng phòng Nhân viên Ty Bưu Điện Nha Trang bị bệnh bất ngờ phải nhập viện chữa trị nên chàng được chọn thay thế. Không những chàng được chuyển ra Ty Bưu Điện Nha Trang, mà còn được xử lý thường vụ chức trưởng phòng nữa. Chàng ở thuê một phòng nhỏ ở đường Huỳnh Thúc Kháng, gần chợ Xóm Mới, và mua một chiếc xe gắn máy cũ để đi làm.

Cuộc sống bình thường lặng lẽ trôi đi. Chàng vẫn thản nhiên lập đi lập lại cái nếp sống quen thuộc tẻ nhạt hàng ngày. Cho đến một hôm, chàng chợt bắt gặp có một cái hoàn toàn không quen thuộc hàng ngày: bóng dáng một nữ sinh đạp xe đi học mỗi buổi sáng, ngang qua phòng trọ chàng đang ở và đặc biệt không “tẻ nhạt”, mà ngược lại ! Hình ảnh đó, đập vào mắt chàng rồi khựng lại … Cái khựng lại gây ra một tác động rất mãnh liệt: cái xa lạ đã nhảy vọt qua giai đoạn quen thuộc để đột nhập vào “bến tương tư” của chàng.
Rồi cứ thế, sáng sáng, chàng ra đứng trước cửa để … bắt chộp cái bóng dáng – đã thành quen thuộc – vút qua nhanh trong giây phút. Chàng muốn xua đuổi đi nhiều lần mà vẫn chẳng được. Không xua đuổi được, chàng lẩn tránh. Hôm sau đi làm trễ hơn vài phút để né … Thế sao ông trời oái oăm thiệt, mấy lần né thì “người ta” cũng đi học trễ dăm phút. Thành ra lại … bắt gặp … Không xua đuổi được. Cố tránh né cũng không được, vậy thì chỉ còn cách … lăn vào, phải lăn vào ! Chàng lẩm bẩm một mình như thế.

Làm sao để lăn vào ! Điều này còn khó hơn cả thi vào lớp cán sự trước đây. Làm quen cách nào bây giờ ? Chàng tự an ủi: “Mèo mù thường hay vớ cá rán. Biết đâu đấy, mình gặp hên hai lần rồi … Quá tam ba bận mà …” Trong lúc đầu óc lung bung chưa tìm ra kế thì một hôm chàng nhìn thấy người đưa thư đi ngang qua … Chàng phá lên cười vì một ý nghĩ kỳ lạ chợt lóe lên trong đầu
Buổi chiều hôm đó khi hết giờ làm việc, chàng mời người đưa thư đi uống cà phê. Anh chàng đưa thư kia ngạc nhiên hỏi:
– Có chuyện gì không thưa “xếp” ?
Chàng cười tủm tỉm:
– Bí mật, cứ theo ta ắt biêt !
Hai người vào một quán cà phê gần chợ Đầm. Vừa kêu cà phê xong, chàng nói ngay:
– Số chẳng là tôi muốn làm quen với một người, mà chỉ có anh mới giúp tôi được thôi. Thế này nhé, khi nào có thư của gia đình “người ấy”, anh giữ lại để tôi được làm công việc … đưa thư thay anh. Đây là địa chỉ của “người ấy”.
Chàng đưa mẩu giấy có ghi địa chỉ “người ấy”. Anh chàng đưa thư chính tông mỉm cười hóm hỉnh hỏi nhỏ:
– Thế mỗi lá thư ông “xếp” tính bao nhiêu ?
Chàng cũng hóm hỉnh trả lời:
– Không tính bằng tiền giấy mà tính bằng … giấy tờ. Một thứ giấy tờ có hàng chữ “đề nghị khen tưởng”. Tuy nhiên nếu có trường hợp ngoại lệ, hay đặc biệt, sẽ được tính thêm “phụ trội” bằng cách này.
Chàng đưa tay chỉ vào ly cà phê và nói tiếp:
– Giao kèo như vậy được chưa ?
Cả hai cùng cười. Họ ngồi nói chuyện thêm mươi lăm phút rồi ra về.
Kế đó thật hay. Chàng được … diện kiến cô nữ sinh, một người lạ chưa bao giờ được tiếp chuyện nhưng rất quen thuộc trong “bộ nhớ”. Sau vài lần đưa thư cho gia đình … người ấy, chàng chỉ dám trao đổi vài câu xã giao bình thường và được biết tên nàng là Bạch Lê, nữ sinh đệ nhị cấp trường Lê Quý Đôn. Bước đầu làm quen đã qua. Chàng nghĩ đến bước thứ hai, một bước gay go, đầy khó khăn đang chờ …
Sau cả tháng trời, chàng nảy ra một quyết định táo bạo: tìm cách gặp riêng Bạch Lê để thú thật !
Buổi trưa hôm đó, chàng đến cổng trường L.Q. Đôn đợi Bạch Lê tan học sẽ xin gặp để nói thật. Khi Bạch Lê ra khỏi cổng trường thoáng thấy “người đưa thư” đứng bên kia đường, nàng vội dắt xe đạp đi theo mấy cô bạn học. Chàng thu hết can đảm đi đến gần Bạch Lê xin phép nói chuyện riêng. Mấy cô bạn học thấy vậy bấm tay nhau tách ra đi riêng để nhường chỗ … Bạch Lê đành phải dắt xe đạp đi theo chàng. Nàng nói:
– Thưa ông, xin ông nói nhanh đi vì tôi không thể về trễ được.
Chàng ấp a ấp úng mãi mới thú tôi “người đưa thư bất đắc dĩ” chỉ vì muốn được làm quen … Bạch Lê nghe xong, dừng lại ngay và nói giọng đanh thép:
– Xin ông chấm dứt chuyện này, tôi không phải trò đùa của ông. Ông đừng theo tôi nữa.
Nói xong nàng lên xe, đạp vội về nhà. Chàng mặt buồn thiu, lẳng lặng bước đi mà chẳng biết đi đâu ! Sau lần gặp gỡ thất bại đó, chàng vẫn tiếp tục ra đứng cửa mỗi buổi sáng chờ dáng ai vút qua rồi mới chuẩn bị đi làm. Chàng rơi vào cái thế tiến thoái lưỡng nan, không biết giải quyết cách nào.
Gần hai tháng trôi qua, vào một buổi xế trưa, chàng đang ngồi làm việc, một nhân viên bên phòng Bưu kiện và Thư bảo đảm gõ cửa rồi bước vào. Anh ta nói ngay:
– Thưa ông, có người muốn hỏi về bưu kiện thất lạc.
Chàng bảo:
– Xin mời vào.
Nhân viên bên phòng Bưu kiện bước ra mời người khiếu nại vào rồi về lại phòng. Chàng đứng nhổm người lên khi thấy B. Lê bước vào. Chàng nắm hai tay lại và nói:
– Xin Lê bớt giận. Tôi luôn luôn kính trọng Lê. Mong Lê hiểu cho. Sự thực tôi không nén được lòng mình mới mạo muội làm như thế. Vâng, tôi không biết diễn đạt tình cảm mình thế nào … Nhưng tôi biết chắc là rất thành thật và trân trọng. Lê còn giận tôi nữa không. Giá mà tôi còn được làm người đưa thư như trước nhỉ !! Ước mơ lồng lộng trước mặt mà sao với mãi không tới.
Chàng nói một mạch không nghỉ, vì sợ rằng nếu ngưng lại sẽ không dám nói nữa. Chàng hỏi thầm chính mình: “Thánh nhập vào mình sao mà nói được như thế … Lần đầu trong đời, làm một việc ngoài sức tưởng tượng”. Chàng đưa mắt nhìn lên, thấy B. Lê im lặng, đầu hơi cúi xuống. Nàng có vẻ muốn tránh cái nhìn của chàng. Hơn nữa, đã lỡ rơi vào cảnh bất ngờ chẳng đặng đừng như thế này, biết làm gì hơn ngoài im lặng.
Thấy chiều hướng có phần lắng dịu, chàng lại thu hết can đảm năn nỉ ỉ ôi thêm lần nữa. Dăm phút sau Bạch Lê mới tiếng nặng, tiếng nhẹ, trách móc đủ điều. Thấy thái độ của B. Lê dịu xuống, chàng vội “nhận tội” thêm lần nữa. Thật không ngờ, thay vì giải quyết bưu kiện thất lạc, chàng lại trần tình … uẩn khúc riêng của mình. Và hơn cả thế, lại thêm một lần nữa, may mắn đã đến với chàng. Đúng là “quá tam ba bận”, chàng nghĩ thầm.
Cuộc gặp gỡ vô tình này đã đưa hai người lại gần nhau hơn.
Tuần sau đó, người trưởng phòng Bưu kiện và Thư bảo đảm xong công tác trở về, chàng mời anh ta đi ăn cơm trưa tại nhà hang Fregate, một nhà hàng nổi tiếng, sang trọng ở bên kia đường với Ty Bưu Điện Nha Trang. Chàng nói ngay lý do của bữa “chiêu đãi” là chàng nhờ tạm “gánh vác” công việc của anh bạn trưởng phòng trong thời gian anh ta đi công tác nên mới được gặp lại Bạch Lê.
Từ đó, mỗi buổi sáng, trước giờ đi làm dăm mười phút, chàng đứng trước cửa chờ bóng dáng người yêu. Có nhiều hôm B. Lê cố tình đi trễ, khi đi qua thấy chàng nhấp nhỏm ngong ngóng nhìn, nàng còn dơ tay chỉ chỏ bâng quơ làm chàng ngẩn người ra, không hiểu gì cả …
Họ yêu nhau từ đó. Nhà Bạch Lê ở cùng đường với chàng nhưng về phía Nhà Thờ Núi, còn chàng ở gần Chợ Xóm Mới. Thỉnh thoảng, có những buổi sáng, chàng đã sẵng sàng đứng trước cửa đợi nàng đi qua, chàng cũng đi theo. Hai người, một xe đạp, một xe gắn máy, đi bên nhau từ nhà trọ chàng ở đến trường L.Q. Đôn. Con đường quá ngắn mà đáng yêu làm sao … Lê Quý Đôn là trường Trung học Công lập có cả nam và nữ học chung. Bạn học nam nữ của Bạch Lê đã biết chuyện tình hai người. Mỗi khi thấy hai người xuất hiện gần trường, bạn học nàng đã chỉ chỏ, to nhỏ với nhau. Lúc đầu, Lê mắc cở, sau thấy vui vui. Khi Lê vào trường học, chàng thường đi ở những nhỏ, vắng vẻ đề đến Ty Bưu Điện. Hình ảnh Lê cứ lảng vảng trong đầu. Đôi mắt nàng, không biết tả làm sao … Ánh mắt, có lúc toát ra vẻ long lanh, đanh thép, lạnh lùng; lại có lúc trông thật chìm lắng, man mác buồn. Mỗi lần nhớ đến lời nàng tâm tình: “ . . . . để làm giảm đi, hay hủy đi cái quá đau khổ của mình thì em sẽ “lăn” vào cái đau khổ khác mà nó còn ghê gớm, đau khổ hơn cái đau khổ trước nữa … bởi …”, chàng cảm thấy “gờn gợn gai ốc”, hoang mang lo sợ vẩn vơ …

Ngày tháng trôi qua, chàng đã đi làm được hơn một năm. Chuyện lập gia đình, ở những người hoàn cảnh như chàng, không ai mà không nghĩ tới. Chàng cũng vậy. Một giấc mộng thật bình thường đang trải ra trước mắt..

Rồi một hôm, người đưa thư mang đến đưa chàng một lá thư. Cầm thư trong tay, một thiệp hồng, chàng giật mình khi thấy nét chữ quen thuộc của Lê. Bóc thư ra, chàng nghe một cảm giác khác thường. Thì ra một thiệp cưới. Thoạt đầu chàng tưởng mình hoa mắt, nhưng không, trước mắt chàng, một thiệp hồng, một chứng tích của tình yêu sao bỗng đổi thành chứng tích của hận tình. Thiệp hồng báo người yêu … đi lấy chồng !
Thư mời đám cưới. Chữ viết thật nắn nót, quen thuộc. Lời lẽ rất trân trọng. Tại sao thế nhỉ ? Chàng tự hỏi và tự trả lời ngay: “Chẳng tại sao cả !” Những tiếng lao xao chuyện trò của nhân viên Ty Bưu điện kéo chàng ra khỏi cơn chấn động. Một ngày làm việc như người mất hồn, chàng ngồi chết cứng trước bàn làm việc, đưa tay bóp trán.

Ngày “người ta” lên xe hoa cũng là ngày “người đưa thư bất đắc dĩ” từ giã Ty Bưu Điện Nha Trang. Người ta chỉ biết chàng xin thôi việc. Chàng đi đâu không ai biết. Cô nữ sinh trường Lê Quý Đôn cũng không còn ở quê hương miền cát trắng. Sự ra đi của hai người có nhiều trùng hợp: Đột ngộ, lặng lẽ, thản nhiên. Có một “người đưa thư chính tông” trong Ty Bưu điện Nha Trang, mỗi lần đi qua đường Huỳnh Thúc Kháng, thường khựng lại nhìn đăm đăm đâu đó, rồi buông tiếng thở dài. Người đó, một nhân chứng thầm lặng của một cuộc tình.

Thời gian đã hơn ba năm trôi qua. Vào một ngày đầu Xuân ở Sài Gòn, một buổi lễ gắn huy chương và choàng vòng hoa chiến thắng cho các chiến sĩ xuất sắc trở về từ bốn Vùng Chiến Thuật. Sau đó, họ sẽ được đi du ngoạn hai tuần lễ ở Đài Loan. Những “em gái hậu phương”, thường là các nữ sinh trung học mỗi người một bó hoa, tập trung ở một địa điểm gần khán đài. Trong những chàng chiến sĩ xuất sắc được gắn huy chương và choàng vòng hoa chiến thắng đó có người “ đưa thư bất đắc dĩ” ngày nào. Bây giờ anh trong bộ áo hoa bèo, mang cấp bậc đại úy.
Buổi lễ khai mạc trong tiếng vỗ tay reo hò vang dậy. Sau phần tuyên dương công trạng và gắn huy chương, các “em gái hậu phương” mang vòng hoa lên choàng cho các quân nhân xuất sắc. Một thiếu nữ mang vòng hoa đến trước một chiến sĩ, cũng là “người đưa thư bất đắc dĩ”. Người “em gái hậu phương” reo lên:
– Anh Vượng, Trang nè. Trời ơi, anh đây hả ! Cả nhà không biết tin tức gì về anh cả . Bây giờ biết chắc mừng lắm ….
Vượng, “người đưa thư bất đắc dĩ”, giật mình nhìn Trang, cười nói:
– Thật không ngờ lại là Trang. Đợi anh ở sau khán đài. Xong lễ, anh ra sẽ gặp.
Sau đó, Vượng và Trang cùng về nhà Trang. Gia đình Trang không ngờ gặp lại Vương sau mấy năm vắng bóng. Vương và Lâm là bạn học cùng lớp từ thời trung học. Lên đại học, Vương bỏ ngang đi học Cán sự Bưu Điện. Lâm học Kỹ sư Điện và đã ra trường được gần hai năm. Trang, em gái Lâm, ngày đó mới tuổi mười lăm. Nàng học trường Nữ Trung Học lê Văn Duyệt. Cô bé thích mặc áo vàng và tóc để ngang vai, bây giờ cũng sắp ra trường khóa Sư phạm hai năm.
Thời gian sáu năm qua, thay đổi nhiều quá, Vượng không nhận ra Trang. Còn Trang thì không thể không nhận ra Vượng. Bởi có một cái gì đó, như gió thoảng mơn trớn, trên má, trên vành tai khi cô bé Trang, ngày đó, mới tuổi mười lăm, ngồi trước mặt Vượng chuyện trò vu vơ. Vượng vô tình đâu để ý đến giọng nói đôi khi ấp úng, ngượng nghịu của cô bé … Nhất là mỗi lần cô bé … quay đi để dấu cái thẹn thùng hừng lên đôi má. Trang cố dấu cái cảm giác ngượng ngùng, e ấp, lâng lâng … không muốn bạn bè biết. Càng dấu bao nhiêu, bạn bè Trang càng tìm cách chọc ghẹo Trang bấy nhiêu. Tâm tình sâu kín của Trang chỉ có thế. Nó bùng lên trong lòng. Rồi nó âm ỷ trong lòng. Sáu năm rồi, tưởng “lòng” đã yên, sao “tình” lại hiện về !
Để rồi, buổi đầu gặp lại, Trang thấy mình khó hiểu. Vượng, vốn ít nói, sau “biến cố” ấy, lại càng ít nói hơn. Có điều, sau những năm tháng lăn vào đời, chàng cũng học hỏi thêm được vài điều, gọi là “căn bản vỡ lòng” trong tình cảm trai gái. Mặc dù gia đình Lâm coi Vượng như người nhà, thế sao lần này, ngồi chuyện trò với Trang, Vượng thấy Trang lạ lắm. Chàng làm bộ nhìn thẳng vào mắt Trang, Trang tránh né. Chàng đoán được cái “ tránh né” kia, tránh né để bắt người khác (?) mở lời !
Lâm, hiểu được nỗi lòng em mình nên “mở lời” trước:
– Trang ơi, em sửa soạn đi, khoảng một giờ nữa tất cả anh em mình đi dạo phố chơi. À, em nhớ rủ bạn em đi chung cho vui nhe. Mấy năm trời nay mới có dịp đi với Vượng đấy em biết không ?
Nói xong, Lâm nheo nheo mắt ngầm ra dấu cho Trang biết … Trang cũng không vừa, trả miếng liền:
– Thế em có phải rủ “người ấy” đi không. Lỡ “người ấy” nói bận thì sao ?
Lâm hạ giọng làm hòa:
– Thôi, chịu thua cô rồi. Hôm nay tôi … đầu tầu, bao hết …
Những tiếng cười vang lên nhè nhẹ. Hơn một giờ sau, “nhóm trẻ” bốn người, hai nam: Lâm, Vượng, hai nữ: Trang, Ngọc bạn Trang. Ngọc là người Lâm đang … ngấm nghé ! Họ cùng nhau đi dạo phố Lê Lợi và các khu Thương xá Eden và Rex. Họ vào quán bún “Bà Ba Bủng” ở trong hẻm Casino (hẻm nhỏ cạnh rạp Casino, đường Pasteur). Trong hẻm nhỏ này có mấy quán ăn bình dân rất ngon và khá nổi tiếng. Xong họ tạt vào quán Mai Hương uống cà phê để ngắm cảnh “dập dìu tài tử giai nhân” trên đường Lê Lợi.
Sau khi kêu nước uống xong, Lâm khơi mào:
– Này Vượng, tụi mình, bạn nối khố, như người trong nhà, mày nói cho biết tại sao mày “ra nông nỗi” này ??
Vượng trả lời:
– Chuyện không có gì gay cấn cả. Tao có quen một cô gái, chuyện tình chúng tao cũng như trăm ngàn chuyện tình khác. Rồi tao được “hát tặng” bản nhạc” “Không” mà không biết lý do. Dĩ nhiên tao buồn. Chuyện chỉ có thế, không tại sao cả. Rồi tao thấy hết “duyên nợ” với ngành Bưu điện nên vào lính. Còn chuyện khoác áo “Cọp ba đầu rằn” thì nó như thế này …
Vượng ngưng giây lát rồi tiếp:
– Một hôm tao đến thăm câu tao, một sĩ quan Biệt Động Quân ở Liên đoàn III/BĐQ đóng tại Biên Hòa. Tao chứng kiến một toán lính vai ba lô, súng đạn cầm tay, vừa chậy vừa đếm, và còn hô lớn: “Biệt Động Quân … Sát”. Tao hỏi cậu tao và được biết rằng toán lính kia là những người đi phép quá ngày, về trễ bị phạt chậy hai mươi vòng sân liên đoàn. Người dẫn đầu là sĩ quan trực. Tao khâm phục vị sĩ quan trực kia, họ cho thi hành án phạt và cũng chạy theo luôn để nói lên tinh thần trách nhiệm “con dại cái mang”. Những tiếng “Sát” vang lên thể hiện tinh thần bất khuất, không chùn bước, không nản lòng trước bất cư khó khăn nào. Thể xác có khụy xuống nhưng tinh thần vẫn sừng sững, vẫn ngạo nghễ, vẫn bất diệt … Bất giác, nghĩ lại mình, tao thấy xấu hổ ! Hà cớ gì ta lại “xuống sắc” vì một chuyện tình … Âm thanh tiếng “Sát” đó thức tỉnh tao.
Tao lên đường nhập ngũ, tao lại nhập cuộc …
Còn chuyện lên lon nhanh, đánh đấm lì lợm … có nhiều lý do, trong đó phải nói đến “may mắn”. Tao chẳng gan lì, cũng chẳng có bùa phép gì cả. Lúc lâm trận không thể “gài số de”, phải lăn vào cái chết tìm cái sống. Có điều tao may mắn … chưa chết. Người ta có số cả. “Đạn” kêu ai, người nấy dạ. Đạn tránh tao chứ tao không tránh đạn được. Tụi mày nhớ câu tục ngữ này: “Đi đêm có ngày gặp ma”. Cái ngày đó có thể đến với tao bất cứ lúc nào. Nó đến, ta sẽ … dạ, có tôi đây !!
Lâm ngắt lời:
– Thế mày tính mặc áo “người hùng cô độc” mãi sao đây ?
Vượng cười thật to bảo:
– Mày xúi tao thì tao xúi lại mày được không ?
Được, nói đi, tao làm liền. Lâm trả lời.
Vượng nói nhỏ:
– Mày làm “ bà mai” đi … Ngay bây giờ càng tốt …
Cả bàn phá lên cười. Còn Lâm bị hỏi ngược lại bất ngờ, đâm ra lúng túng. Lâm gật gật đầu ậm ừ định nói gì đó, rồi lại thôi. Trang cúi gầm xuống dấu cái thẹn đỏ bừng mặt lên. Ngọc, bạn Trang, khẽ bấm tay Trang, ghé sát tai nói nhỏ cho riêng Trang nghe: “coi chừng tim nhảy ra ngoài …”. Lâm thấy vậy, đánh trống lảng hỏi:
– Hai cô nhỏ to gì đó ?
Ngọc nói ngay:
– Em bảo ở đây chỉ có hai cô (?) thôi, thành ra … khó xử cho anh Lâm quá. Thôi, người nhà cả, để em gánh “ngà voi” cho anh Lâm được không ?
Trang nghe tới đó vội đưa tay ngắt lời vì sợ Ngọc nói thêm:
– Đã là người nhà thì để về nhà tính sau …
Mọi người cùng cười. Những câu chuyện tâm tình tàn dần theo khói thuốc … Họ ra về trong niềm vui lâng lâng, riêng tư dấu kín.

Vượng trở lại chiến trường sau chuyến đi du ngoạn Đài Loan. Hôm từ giã gia đình Lâm, vì sợ phải mặt đối mặt với Trang, chàng lấy cớ phải về trình diện đơn vị sớm nên chỉ ngồi nói chuyện mươi lăm phút rồi đi ngay.
Tháng sau đó, Vượng nhận lệnh đi hành quân ở vùng thôn xóm chậy dài từ Bến Thế, Búng, đến Tân Uyên, thuộc tỉnh Bình Dương, giáp Biên Hòa. Lần hành quân này, Vượng không hiểu tại sao đầu óc mình cứ nghĩ quẩn đến mấy chữ “… có tôi đây”. Điềm gở chăng ? Tin hay không tin, Vượng vẫn ba lô súng đạn vào vùng hành quân. Tiếng súng xen lẫn tiến đạn pháo binh, vẫn vang quanh vùng chàng vừa đặt chân tới, đã xua đuổi cái ám ảnh “… có tôi đây” đi. Đại đội chàng dù thiếu một sĩ quan trung đội trưởng nhưng vẫn nhận lệnh hành quân như thường. Người đại đội phó sẽ kiêm chức vụ trung đội trưởng khiếm khuyết đó. Vào rừng sau hai ngày, đại đội chàng được bổ xung một sĩ quan mới đổi về và được thả xuống ngay vùng hành quân. Sáng ngày hôm sau đó, trung đội của người sĩ quan mới bổ xung đụng địch bất ngờ. Địch đông, chàng phải cho lệnh dốc toàn lực đánh tiếp cứu. Rồi chàng bị thương, mê man bất tỉnh.

Khi tỉnh dậy, chàng thấy cảnh vật trước mắt lờ mờ mầu trắng. Tay tê buốt. Chàng cố mở mắt ra nhìn lại mình … Tay trái chàng bó bột cứng ngắc lên tận vài. Đầu óc lung bung, chàng cố nhớ lại mà chỉ biết sau tiếng nổ lớn ngay trước mặt, tất cả cảnh vật mờ đi … Có tiếng một giọng nói nữ vang lên nhè nhẹ:
– Ô, đại úy tỉnh rồi. Xin đại úy nằm yên, đừng gượng dậy, vì đại úy đã bất tỉnh từ chiều hôm qua. Để tôi đi gọi bác sĩ ngay.
Một phút sau, vị bác sĩ đến bên giường chàng nằm nói:
– Đại úy bị mất máu quá nhiều. Vết thương tuy nặng nhưng không vào chỗ phạm. Vì tình trạng vết thươngra máu nhiều không cho phép đưa đại úy về Tổng Y Viện Cộng Hòa nên được tải thương về Bệnh việnh 4 Dã chiến này để giải phẩu cấp thời ngay. Bây giờ, nguy hiểm đã qua, đại úy yên tâm. Thôi đại úy cứ nằm nghỉ. Ngay trưa nay, đại úy sẽ được đưa về Tổng Y Viện Cộng Hòa để điều trị. Có nhân viên y tá thường xuyên ở phòng này để theo dõi tình trạng bệnh nhân. Thôi đại úy cứ nằm nghỉ. Tình trạng của đại úy bây giờ …
Chàng không muốn nghe tiếp nữa mà sao lời bác sĩ cứ lùng bùng trong tay: “… xương đòn gánh bên trái bị gẫy và nập nát thành ra hậu quả … chưa biết rõ được. Phải đợi một thời gian nữa …” Chàng đưa tay nói thều thào:
– Cám ơn bác sĩ cứu mạng. Tôi biết … xin bác sĩ đừng nói nữa …
Vượng nằm yên, nhắm mắt lai, không muốn nghĩ thêm gì nữa. Chàng thiếp đi hồi nào không hay. Chàng được chích mũi thuốc ngủ để không cảm thấy khó chịu trong lúc chuyển chàng về Tổng Y Viện.
Chiều hôm đó, Vương tỉnh lại. Thấy Lâm và Trang đang ngồi cạnh giường, chàng gượng dậy nhưng không nổi. Lâm bước tới nói:
– Không được ngồi dậy. Mày phải nằm nghỉ.
Nói rồi Lâm quay sang bảo em gái:
– Trang, em ở đây với Vượng. Anh phải chậy đi báo cho mấy thằng bạn biết. Thôi tao đi nhe Vượng.
Lâm bước vội ra ngoài đi ngay để Vượng và Trang có dịp nói chuyện riêng. Lâm vừa đi, Trang bật lên khóc. Vượng đưa tay phải lên nắm lấy tay Trang và nói:
– Đừng khóc nữa. Người bị thương không khóc, sao người khỏe lại khóc !
Trang vẫn khóc. Vượng lại nói:
– Em đến thăm anh hay đến để khóc ! Anh còn sống mà, em không thấy sao !
Chàng nói giọng bình thường mà sao nghe đắng cay, chua chát quá. Vượng vẫn nắm tay Trang trong im lặng. Trang thấy hơi ấm từ tay Vượng truyền vào nàng. Giọng nàng rung lên:
– Em vô phép anh cho em thú thật … Em đã yêu anh từ ngày ấy, từ ngày anh còn ở năm cuối trung học. Em yêu sớm phải không anh, mới mười bốn … đã biết yêu anh rồi … Anh có khinh em không ?
Nghe nói vậy, Vượng không biết nói thế nào. Sự thực, chàng cũng hiểu được nỗi lòng thầm kín của Trang ngay sau lần về gắn huy chương và vòng hoa chiến thắng … Giây sau chàng nói:
– Em thật đáng quý. Anh bây giờ tàn phế rồi. Lấy gì đáp lại tình em …
Trang đưa tay bịt miệng Vượng lại:
– Anh không được nói thế. Em lớn rồi, thành cô giáo rồi. Em tự lập được rồi. Em không muốn anh với tay cao …
Vượng nghe nói đến với tay …, nghe đau nhói, chàng biết, gãy xương đòn gánh sẽ không thể dơ tay lên được. Bác sĩ không muốn nói ra ngay vì lương tâm nghề nghiệp. Chàng biết điều này vì chính bạn chàng đã bị gãy xương đòn gánh. Vương hiểu ý Trang nói, một cô gái thật hiền hòa, mộng thật thầm thường, thật dễ thương. Sao lại đến với nhau lúc này ! Tiếng Trang lại vang lên thật xúc động:
– Hạnh phúc với em là sự êm ả bình thường. Đôi lúc mang âm điệu trầm buồn nhưng nó rất khó vỡ bể.
Vượng không biết nói gì. Im lặng lúc này đồng nghĩa với an phận, buông xuôi, chấp nhận ? Thôi thì cứ bảo là định mệnh đi … Chàng xiết chặt tay Trang hơn như muốn ngầm bảo rằng: “Cám ơn em đã mang lại ngọn lửa ấm …” Chuyện tình buồn miền cát trắng đã rẽ sang một khúc quanh dĩ vãng. Còn con đường trước mặt chàng phải đứng dậy đi tiếp.
Trang, cô giáo mới ra trường, đóng thêm một vai trò khác: y tá riêng cho bệnh nhân Vượng sau một tháng chữa thương tại Tổng Y Viện Cộng Hòa, đã xuất viện.

Năm sau đó, Vượng giải ngũ. Cô giáo Trang có thêm một tên gọi: bà Vượng … Hạnh phúc êm đềm đến với Trang, còn Vượng vẫn còn bị ám ảnh hai chữ “phế nhân” ! Cánh tay trái của chàng không dơ lên được. Nó chỉ đu đưa để làm cảnh cho đẹp … Chàng phải mất cả năm trời mới trời mới tìm lại được sinh khí cuộc đời.
Trở lại cuộc sống dân sự, chàng nộp đơn xin làm việc tại Ty Bưu Điện Bình Dương. Chàng được chấp thuận ngay vì nhiều lý do: xuất thân khóa Cán Sự Bưu Điện, thương phế binh, gia cảnh có vợ dậy học ngay tại Bình Dương.
Cuộc sống êm ả trôi qua chẳng bao lâu, ngày định mệnh đất nước ập xuống. Lúc đó, đứa con gái đầu lòng của vợ chồng Vượng Trang, mới biết bò, đã phải nếm mùi đói khát, thống khổ.
Vượng phải đi cải tạo, sau một tháng, được thả về để đi vùng kinh tế mới ở Long Khánh. Hơn năm năm trôi qua trong thiếu thốn chật vật, vợ chồng Vượng nghĩ đến một lối thoát – một lối thoát trả bằng sinh tử mà sinh một, tử chín: Vượt biên – một lối thoát cuối cùng phải chấp nhận. Họ lén lút tìm “đường giây đi chui” và liều mạng. Sau hai lần thất bại, họ kiệt quệ cả tiền bạc và cá sức sống. Bỗng một hôm Liên, cô cháu gọi Vượng bằng cậu đến nói với chàng:
– Cậu ơi, ngày trước cậu đã từng chở cháu đến trường Thánh Tâm với nhiều kỷ niệm tuổi học trò, không bao giờ quên được. Bây giờ cháu lại … nhờ cậu mợ đưa cháu đi … thêm một lần. Chả nói dấu gì cậu, có người đang đeo đuổi cháu, anh ta có thuyền đánh cá đã rủ cháu đi vượt biên. Anh ta muốn vào Mỹ nếu chuyến vượt biên thành công. Cháu biết chỉ có cậu mới gíup chúng cháu được thôi. Cả gia đình cậu đi cùng với tụi cháu. Cậu còn giấy tờ thương phế binh QLVNCH nên sẽ được vào Mỹ. Cậu chỉ khai cháu là em cậu thì tụi cháu được ăn theo ngay.
Vợ chồng Vượng quyết định đồng ý ngay. Được ăn cả, ngã vào tù. Biết sao, cũng đành để trời quyết định.

Họ đã thoát trong chuyến đi ấy. Trong đời, Vượng đã khóc lần đầu khi nghe Trang thổ lộ tình yêu thầm kín và lần thứ hai: khi vừa đặt chân tới đảo Pulau Bidong. Anh chàng chủ thuyền “đánh cá vượt biên” đóng vai cháu rể chàng rất hiền lành, dễ thương. Tất cả họ được vào Mỹ sau hơn bốn tháng làm thủ tục ở đảo. Họ được một gia đình người Mỹ ở Washington bảo trợ và họ bắt đầu cuộc sống mới ở thành phố Kent, một thành phố nhỏ nhưng khá yên tĩnh của tiểu bang Cao nguyên tình xanh.
Liên và anh chàng chủ thuyền đã kết hôn thật sự với nhau, họ sống rất hạnh phúc. Vai trò đã xong, Liên trở lại là cô cháu bé bỏng của Vượng như ngày nào. Vợ chồng Vượng cũng xin được việc làm trong một hãng lắp ráp đồ điện tử ngay thành phố Kent.
Cuộc đời u tối đã qua. Nguồn vui của vợ chồng Vượng: Đoan, cô con gái duy nhất. Đoan tuy là con gái nhưng lại giống Vượng ở điểm lầm lỳ và cục tính và nét đẹp thùy mị kín đáo giống mẹ.
Thời gian đã đổi mầu tóc Vượng thành muối tiêu. Một hôm sau buổi đi làm về, Vượng chở vợ đi chợ, bỗng Trang nói:
Em thấy đau bụng quá, chắc không đi chợ được. Anh chở em về nhà đi …
Vượng quay xe về nhà. Chưa kịp vào nhà, chàng thấy Trang đang gục xuống, quẹo hẳn người đi ngay trong ghế xe. Chàng vội chở ngay vào bệnh viện. Sóng gió bão tố ập đến với Vượng khi nghe tin Trang vừa đưa vào phòng cấp cứu khám bệnh thì bác sĩ cho biết vợ chàng phải giải phẫu ngay. Họ chờ chàng ký vào giấy chấp thuận của người hôn phối.
Đoan, nửa tiếng sau trở về College đã cùng bố ngồi đợi kết quả ngoài phòng đợi. Đoan khóc đỏ cả mắt, Vượng cũng không ngăn khóc được.
Sau cuộc giải phẫu, bác sĩ cho biết vì phám phá bịnh ung thư trễ nên cần phải qua cuộc giải phẫu thứ hai. Bây giờ về nhà nghỉ dưỡng bệnh, uống thuốc, ba tháng sau trở lại để chữa trị tiếp.
Ba tháng sau, cái tang đã đến với hai bố con Vượng. Trang không thoát khỏi tay tử thần. Lời đầu của Trang còn nguyên đó: “… em yêu anh ngay từ thuở mới mười bốn mười lăm …” rồi bây giờ lời cuối của Trang: “… em mãi mãi ở bên anh và con …” Vượng gục xuống. Chung quanh một mầu u tối đen đặc …
. . . . . . . .

Vượng giật mình bừng tỉnh. Đã gần ba giờ sáng rồi, chàng uể oải đứng dậy lên giường nằm để còn có sức ngày mai đi làm.
Sáng hôm sau Vượng ngủ quên. Đoan gõ cửa đánh thức bố dậy. Chàng bật dậy, hấp tấp đánh răng rửa mặt, xong đi làm ngay. Ra tới cửa, chàng quay lại nói với Đoan:
– Chiều nay con đừng nấu nướng gì cả. Đợi ba về rồi đi ăm cơm tiệm.
Buổi chiều đi làm về, hai cha con đến một quán ăn Việt Nam. Trước đây, gia đình Vượng có đến ăn cơm phần với những món quen thuộc canh chua, cá kho tộ … Bây giờ, chỉ còn hai cha con. Họ bước vào bàn trong cùng ngồi cho yên tĩnh. Vượng kêu nước uống và gọi món ăn, rồi nói với con:
– Con ạ, ba biết mẹ con chỉ kể chuyện về ba từ khi ba và mẹ gặp nhau thôi. Ba có một chuyện riêng tư, dĩ nhiên ba có kể cho mẹ nghe, nhưng ba biết mẹ con không nói cho con nghe. Bây giờ, đã đến lúc ba kể chuyện riêng tư “người đưa thư bất đắc dĩ” cho con nghe.
Nói xong, chàng kể cho Đoan nghe chuyện vĩ vãng của mình. Chàng cũng kể luôn chuyện Vọng gặp riêng chàng và chàng cũng đã đến gặp mẹ Vọng. Đoan nghe chuyện, nét mặt đanh lại, nói:
– Trời ơi, sao bà ấy hồ đồ thế. Con xin ba đừng bao giờ nói đến bà ấy nữa. Ba không cần giải thích hay cải chính gì cả. Ba cũng không cần phải nói với cô Liên nữa. Con luôn luôn hãnh diện về ba mẹ.
Nói tới đó Đoan nắm tay Vượng, lắc mạnh và nói:
– Ba hứa với con đi, không cần để tâm đến họ nữa nhe. Ba hứa đi …
Vượng biết tính con, chàng nói:
– Ba hứa … nhưng còn
Đoan ngắt lời:
– Không có nhưng nữa ba ơi … Con lớn rồi, từ giờ trở đi con sẽ không lo nghĩ hay buồn phiền gì nữa đâu.
Hai cha con nói chuyện thật lâu về cả chuyện cuộc sống hàng ngày. Vượng rất thương vợ con, và thấy con mình nói có lý. Tại sao ngày đó, bà ấy không nói một câu nào. Ngay chuyện chồng bà ấy nữa. Vô lý thật.
Vượng nhớ lại lần hành quân cuối cùng (!) đó, chàng chỉ gặp chuẩn úy Hùng, người sĩ quan mới được bổ xung, và thả xuống ngay trong rừng, rồi hai người nói chuyện được dăm phút. Đại đội đang hành quân trong rừng nên chàng đâu có thì giờ hỏi chuyện gia đình riêng tư. Hôm sau đó, trung đội của chuẩn úy Hùng bị lọt ổ phục kích, chàng ra lệnh tiếp cứu ngay và chỉ nửa giờ sau khi đụng độ lớn, chàng bị thương, mê man đi.
Khi được chuyển về Tổng Y Viện Cộng Hòa Vượng mới được biết kết quả cuộc hành quân đó. Chuẩn úy Hùng chết, đại đội phó chàng bị thương nhẹ, còn chàng … Vượng không muốn nghĩ tới nữa. Với chuẩn úy Hùng, mới đây chàng mới biết là chồng Bạch Lê vì sau cuộc hành quân đó, Vượng rời khỏi đơn vị nên không biết thêm về chuyện chuẩn úy Hùng. Người đại phó chàng lên thay thế coi đại đội.
Bây giờ, bỗng đâu chuyện cũ lại được khơi lại. Như bếp lửa chiều hôm, tro tàn than lạnh, khơi lên đống tro tàn để làm gì ! Có phải oan khiên đâu đó lại lởn vởn đâu đây?

Hơn hai tháng trôi qua mau, cha con Vượng không ai nhắc đến chuyện kia nữa. Không khí bình thường trở lại họ.
Bà Lê, làm nghề uốn tóc, từ tiều bang Idaho mới chuyển sang Wasghington được hơn ba năm. Bà mở Hair Salon ở gần nhà và khá đông khách. Cuộc sống hai mẹ con bà khá vững. Sau dăm ngày bận việc gia đình, Bà Lê đóng cửa tiêm và mới đi làm trở lại. Một người khách bước vào. Bà Lê thấy khách người Việt vội chào đón:
– Mời chị vào. Chắc chị mới đến đây lần đầu.
Khách trả lời:
– Vâng. Tôi ở Olympia có việc lên thành phố này dự đám hỏi người cháu, nhân tiện đi ngang qua đây, ghé vào sửa soạn lại đôi chút.
Sau đôi câu xã giao, bà Lê bắt đầu làm tóc cho khách. Hai người trạc tuổi nhau, mới gặp nhau, chuyện trò cũng chỉ bâng quơ về cuộc sống hàng ngày. Sau hơn một tiếng làm tóc mới xong, bà khách chào ra về. Bà Lê lấy chổi quét tóc rải rác dưới sàn nhà, thu gọn đồ đạc trên bàn. Bà vào phòng tắm rửa tay và chải tóc lại, xong, trở ra bàn ngồi. Bỗng bà thấy ở cạnh mấy cuốn tạp chí về tóc và mấy cuốn sách Hair Styles để làm mẫu cho khách, có một gói nho nhỏ để giữa một cuốn tạp chí. Bà tới cầm lên coi. Bà đoán chắc của bà khách mới vào để quên. Bà Lê chậy ra ngoài cửa đưa mắt tìm bà khách nhưng bà ta đã đi lâu rồi. Bà cầm cái gói lên coi vài ba lần nữa, rồi lại để xuống. Bà Lê ngong ngóng chờ bà khách trở lại lấy. Đến chiều tối, lúc đóng cửa, cũng không thấy bà khách trở lại. Bà đành mang về nhà.
Ngày hôm sau, bà Lê mang cái hộ nho nhỏ ra tiệm để chờ khách trở lại lấy. Hai ngày trôi qua, bà khách cũng không trở lại. Bà Lê thắc mắc không hiểu cái gói kia là gói gì ? Cuối cùng, bà mở gói ra coi. Bà thấy dưới cái hộp nhỏ có một lá thư gấp tư lại. Bà cầm thư coi, bà giật mình lo sợ khi thấy tờ giấy đề tên mình. Tay run run, bà bóc ra coi:

Ngày … tháng …
Gửi chị Bạch Lê.
Không biết phải xưng hô thế nào với chị, xin phép chị được viết như thế này. Tôi đi thẳng vào chuyện. Ngày còn ở tuổi học trò, cậu tôi thỉnh thoảng có đưa tôi đi học. Có một lần cậu tôi rủ tôi đi phố Độc Lập mua một món quà tặng cho bạn gái cậu tôi. Cậu tôi bảo món quà đó tuy bé nhỏ nhưng bạn gái cậu tôi rất thích vì có chữ tắt tên mình trên đó. Vài ngày sau, cậu tôi đến trường gặp tôi nói rằng “người ấy” đã bỏ đi rồi, bây giờ cháu giữ lấy vì chữ (viết tắt) trên “món quà” cũng là chữ viết tắt tên cháu.
Mới đây tôi nghe cậu tôi nói đã gặp lại “người xưa”. Thưa chị, tôi đã giữ “món quà” đó từ ngày đó, bây giờ xin gửi lại cho “người mà cậu tôi muốn trao tặng”. Tôi tên là Liên, trước học trường Thánh Tâm, Nha Trang. Kính chào chị. Liên.


Bà Lê buông rơi tờ thư, cầm cái hộp nhỏ mở ra, một chiếc nhẫn vàng Tây nhỏ nhắn, có khắc chữ L trong mặt nhẫn hình trái tim. Bà Lê lại buông cái hộp xuống, đưa hai tay ôm mặt cùng với những tiếng nấc dâng trào … Bà ngồi gục xuống. Lát sau, bà gượng dậy, đầu óc tê cóng … Ai mà ngờ, lời nói ngày xưa đã chứng nghiệm vào ngay đời mình: “Để làm giảm đi, hay hủy đi cái quá đau khổ của mình thì em sẽ “lăn” vào cái đau khổ khác mà nó còn ghê gớm, đau khổ hơn cái đau khổ trước nữa …”
Ngồi chết cứng như thế cả tiếng đồng hồ, điện thoại reo bà cũng vẫn ngồi im. Bà lẩm bẩm “Định mệnh. Hết rồi. Đã quá già rồi. Già đến độ tên trường Thánh Tâm mà cứ nhớ là Thiên Phước …”

Vọng như người mất hồn kể từ sau ngày đưa Đoan về nhà gặp mẹ mình. Bây giờ Đoan hầu như muốn cắt đứt quan hệ với Vọng. Giận mẹ không được, trách Đoan lại càng không, Vọng đành ôm đau đớn, u uẩn trong lòng. Một buổi chiều cuối tuần, bà Lê gọi Vọng vào phòng nói nhỏ một vài câu. Vọng nghe xong thay vội quần áo, lên xe phóng đi ngay.
Vọng đột ngột đến nhà Đoan, gõ cửa, cửa vừa mở, Vọng bước ngay vào phòng. Đoan muốn lánh mặt, Vượng thấy vậy vội nói:
– Đoan, ngồi xuống đi con, chuyện gì cũng phải bình tĩnh giải quyết ….
Vọng chen vào nói ngay:
– Dạ vâng, thưa bác, cho con được nói. Xin Đoan ngồi xuống để anh phân giải cho sáng tỏ … Vâng, lẽ ra mẹ anh phải gặp em nhưng xin em hiểu cho tâm trạng mẹ anh lúc này. Mẹ anh bảo anh thay mẹ anh mang thư tạ lỗi này đến em. Mẹ anh còn dặn kỹ rằng hãy làm tròn việc của “người đưa thư bất đắc dĩ”. Bây giờ anh chỉ chờ em … và xin em hãy nhận thư này của mẹ anh.
Vọng đứng dậy đưa thư cho Đoan. Vượng nghe đến câu “người đưa thư bất đắc dĩ” vội quay đi chỗ khác. Rồi chàng đứng dậy nói:
– A, ba có hẹn đi với bác Tuân bây giờ. Đoan, con ngồi tiếp chuyện anh Vọng nhe con. Ba đi đây.
Đoan biết ba mình đi để hai người tâm sự với nhau. Đoan mở thư đọc, nàng không hiểu chuyện gì khi mẹ Vọng gửi lời xin lỗi thái độ khiếm nhã vừa qua của bà. Còn Vọng cũng không ngớt lời năn nỉ ỉ ôi … xin Đoan đừng giận hơn nữa. Đoan ngẩn người ra, và chẳng biết xử trí thế nào !

Vượng lái xe ra công viên kiếm chỗ vắng ngồi. Hình ảnh ngày gặp lại nhau sau mấy chục năm … hiện ra trước mắt Vượng. Lê vẫn nóng nảy, cố chấp như ngày nào. Chàng biết, cái tát hôm đó chỉ là một bộc phát của u uất dồn nén lâu dài. Bao nhiêu câu hỏi bùng lên trong đầu óc chàng …
Phải chăng lời nàng nói “để làm giảm đi, hay hủy đi cái quá đau khổ của mình thì em sẽ “lăn” vào cái đau khổ khác mà nó còn ghê gớm, đau khổ hơn cái đau khổ trước nữa …” đã trở thành hiện thực?
Định mệnh cho một tình hận dính liền với cá tính cố chấp của nàng?
Nàng tự chôn mình trong cái vỏ bọc … thản nhiên?
Cái giá nàng đã trả quá đắt ?
Tại sao Vọng, Đoan lại bị dính líu tới?
Có nên vin vào cái cớ dị đoan, mê tín mà bảo rằng tên hai người, Vượng Lê hay Lê Vượng nói lái là “Vương Lệ, Lệ Vương” …
Chàng bỗng nghĩ tới tên Vọng và Đoan … Chẳng lẽ … Chàng không muốn nghĩ tiếp nữa.
Và tại sao B. Lê lại thay đổi ý nghĩ, gửi thư tạ lỗi ?
Tất cả không có câu trả lời.
Có trời biết !
Dĩ vãng đã qua. Chuyện hai người vẫn còn đó.
Ở một góc công viên nào đó, một người đàn ông ngồi im lặng cúi đầu, không gian nhạt nhòa trước mặt.
Ở trong một phòng vắng lặng, một người đàn bà cúi đầu, tóc xỏa che kín cả đôi mắt, trước mặt, không gian mờ ảo.
Ở trong phòng nào đó, đứng bên cửa sổ, một người đàn bà bâng khuâng nhìn bầu trời, rồi vang lên một giọng nhè nhẹ: “Cháu không được đóng vai người đưa thư bất đắc dĩ … nhưng cháu đã thể hiện được vai trò “người chuyển quà” bất đắc dĩ đúng nghĩa trọn vẹn phải không cậu ơi ?”
Có tiếng gió nhẹ hay tiếng thở dài văng vẳng loãng tan !

Share this post