Người Trẻ, Người Già – lltran

Người Trẻ, Người Già – lltran

(TVVN.ORG) Người “trẻ” trong bài viết này là những người của thế hệ “Millennial” (1983-2000), thế hệ trưởng thành trong thế kỷ XXI và người “già” là những người trong thế hệ “boomer” hay những người người ra đời trong khoảng 1945-1964. Giữa người “trẻ” và người “già” là những người “sồn sồn” hay “nhỡ nhỡ”, một thế hệ xem ra “thầm lặng”, các nhà xã hội, tâm lý không phân tích, ghi chép nhiều về nhóm này so với hai thế hệ kể trên.

Tương tự, các chương trình thu góp ý kiến (phần lớn tài trợ bởi kỹ nghệ thương mại, thu góp dữ liệu để làm ăn buôn bán theo nhu cầu thị trường) thường xuyên nhắm đến người “già” và người “trẻ”. Người “già” vì túi rủng rỉnh tiền bạc, chịu tiêu xài trước khi về đất. Người “trẻ” là những người túi chưa đầy tiền nhưng chịu mua sắm vì… chưa lo âu cho lắm về tương lai (!?) hoặc chỉ tiêu xài theo tiêu chuẩn đặc biệt nào đó?

Bắt đầu là những mẩu chuyện thú vị về người “trẻ” dưới con mắt của người không còn trẻ như tác giả Dế Mèn đây: Theo trang nhà LinkedIn, một trang nhà trên mạng ảo chuyên “nối kết” những người trên thị trường nhân công, công ty mướn người & chủ nhân và những người tìm việc, trên 30% người trẻ đang tiết kiệm một phần tư lương bổng. Con số này xem ra cao hơn so với những người cùng tuổi trong các thế hệ trước đó. Họ là những người bị bỏ tên ra khỏi chương trình bảo hiểm của cha mẹ khi đủ 26 tuổi và phải tự lo bảo hiểm sức khỏe. Và từ việc xông pha tìm kiếm chương trình bảo hiểm, người trẻ cảm thấy mình bỗng dưng… trưởng thành!

Người trẻ, dù đã đi làm và ra ở riêng hay còn chung sống với cha mẹ, thường có các liên hệ riêng tư với bạn bè, người tình hoặc chó mèo. Sinh con đẻ cái dường như là chuyện hơi xa vời nên việc có một con chó, mèo quanh quẩn bên mình để nâng niu quấn quýt là điều dễ dàng. Người trẻ có thể chụp hình chó mèo đủ kiểu, mọi lúc thức ngủ, ăn chơi… để truyền tay giữa bạn bè hoặc chưng hình liên tục trên các trang mạng xã hội. Chó mèo cũng dễ yêu dễ nựng như… con nít (?) mà không đòi hỏi nhiều sự quan tâm, chăm sóc. Họ có thể để chó mèo ở nhà mình ên khi muốn ra phố uống cà phê tán gẫu với bạn bè mà không sợ cảnh sát đi lùng bắt về tội bỏ phế! Họ có thể chơi đùa với chó mèo để tiêu khiển, bớt thời giờ trống vắng khi rỗng túi, nhất là khi chiếc điện thoại di động bất khiển dụng vì hết tiền trả dịch vụ.

Người trẻ nào rủng rỉnh một chút, có chỗ ở riêng thường muốn mời bạn bè đến ăn uống, được làm “gia chủ” tiếp khách là dấu hiệu của sự trưởng thành dù món ăn thức uống không đáng kể. Họ chụp những tấm hình nâng ly toe toét để khoe với những người không tham dự.

Khi được hỏi về món nợ học phí, 60% người trẻ băn khoăn không chắc rằng họ có thể trang trải món nợ ấy trong suốt cuộc đời làm việc. Theo bộ Giáo Dục Hoa Kỳ, món nợ học phí trung bình của một người trẻ là 41 ngàn Mỹ Kim.

Đối mặt với các món nợ, người “già” đã chắt bóp, tần tiện để trả cho hết trước khi… vay mượn tiếp các món nợ khác. Chuyện kể rằng ngay cả cựu tông tông Obama cũng chỉ trả hết nợ học phí khi đã 43 tuổi. Nôm na là người trẻ trong tuổi 20 sẽ có sương sương hai chục năm để trả hết nợ nần, lo chi cho sớm mà đời mất vui?

Điểm khác biệt lớn nhất giữa người trẻ và người già có lẽ là món… xăm (xâm) mình. Ngày chưa mấy xa xưa, chỉ có mấy tay [chịu] chơi (?) mới xăm mình và họ là thiểu số ít ỏi. Dế Mèn còn nhớ hồi nọ, khi còn thường trú tại một bệnh viện thành phố với khu Cấp Cứu nườm nượp ngày đêm người ra kẻ vào; phe ta gặp một phụ huynh lôi đứa con trai 15 tuổi vào bệnh viện, nhất định đòi bác sĩ phải …lột da đứa trẻ lấy cho hết mẩu xăm hình một phụ nữ trần truồng trên cánh tay. Ông bố nằn nì kể lể… nếu không xóa cho hết tấm hình tội lỗi kia thì bà mẹ không cho đứa nhỏ về nhà! Ôi chao là nhiêu khê, thủa ấy đâu đã có laser như ngày nay? Đâu bác sĩ nào dám… lột da đứa trẻ dù bị cha mẹ bệnh nhân thúc ép. Cù cưa mãi vẫn không thuyết phục được người cha thì bóng đèn trong đầu bỗng chớp nháy. À há! Phe ta đề nghị với ông bố là đưa đứa trẻ đến chỗ xăm để … mặc thêm quần áo đầy đủ cho người đẹp thì chắc bà mẹ sẽ bớt giận dữ. Không biết tấm hình trên cánh tay đứa trẻ năm xưa bây giờ ra sao? Đã biến mất hay trở thành một tấm hình khác? Mẩu vụn của trí nhớ nhắc Dế Mèn phản ứng của xã hội chung quanh về việc xăm mình thủa ấy. Nhưng ngày nay thì quan niệm ấy dường như đã mất dấu, nhìn đâu cũng thấy hình xăm, từ nghệ sĩ trình diễn đến những người lanh quanh trên bãi biển, già trẻ nam nữ chi cũng xăm mình, có người thì cả thân thể từ cổ đến chân đều chi chít hình ảnh.

Theo the Pew Research Center, 36% người trẻ xăm mình, ít nhất là một tấm hình, tỷ lệ xăm mình cao nhất so với các thế hệ trước! Đây là điều mà thế hệ cha mẹ không thể hiểu được, tại sao lại phải chịu đâm kim vào da thịt cho một hình ảnh mà sau này có thể ân hận, hối tiếc? Nhưng, nhưng hình như việc xăm mình chỉ là… hình thức (diện)? Người trẻ không khác người già bao nhiêu về việc bày tỏ ý kiến, chưng ra cái tôi với người chung quanh? Người già bày tỏ “cái tôi” (điểm), khác biệt với cha mẹ họ, qua việc để tóc dài thậm thượt, râu ria không cắt không cạo, diện mốt quần ống loe theo kiểu hippy trong khi người trẻ vẽ rồng rắn chim cò trên thân thể? Nghĩa là người trẻ cũng như người già, cả hai thế hệ đều ước muốn và hành động từa tựa như nhau khi muốn tách rời, ra khỏi khuôn thước của những người đi trước.

Ở một khía cạnh khác, vào kỷ nguyên 2,000, bá tánh xem ra ưa chuộng việc pha trộn giữa cái cũ và cái mới hoặc sử dụng những thứ cũ với cái nhìn đương đại. Người trẻ dung cái cũ để bày tỏ ‘cái tôi’ mới keng: Xăm mình là một nghệ thuật cũ rích tuổi tác trên dưới vài ngàn năm, mỗi ngày một… già nhưng chẳng hề mất dấu, sống “âm thầm” để thời nay chỗi dậy, phát triển vô cùng rầm rộ với các biểu tượng phức tạp nhiều màu sắc.

Người trẻ bày tỏ ‘cái tôi’ rõ ràng, mạnh mẽ và dứt khoát với những hình xăm, chùi không sạch, rửa không phai trong khi người già theo mốt hippy thì vẫn có thể thay quần đổi áo, cắt tóc cạo râu, dễ dàng… hóa thân. Sự khác biệt nhỏ xíu này có thể xuất phát từ phản ứng của xã hội đương thời? Trong khi kỹ nghệ tài chánh cổ điển vẫn giữ nguyên nếp sinh hoạt cổ cồn cà vạt, biểu tượng của sự nề nếp, bền vững thì người trẻ thường ưa làm ăn, sinh sống trong các môi trường mới mẻ, khuyến khích sự đột phá, khác biệt như kỹ nghệ truyền thông, điện tử… Thu hút khách hàng với những món không mới thì phải…lạ, đầu óc tư tưởng có thể chưa mới nhưng quần áo, tóc tai bề ngoài chắc chắn là lạ, dễ dàng nhất là dùng những món thời trang và hình xăm? Chưa hết, những người trẻ sinh hoạt trong kỹ nghệ dịch vụ và làm việc tại nhà qua dụng cụ máy móc điện toán thì lại càng dễ dãi thoải mái với bề ngoài hơn nữa, áo thun quần ngắn cũng xong, thêm đôi dép lẹt quẹt nữa cho đủ bộ. Và họ phây phây kiếm tiền, đôi khi dễ dàng và nhiều hơn cả lương bổng cha mẹ. Nghĩa là người trẻ không chịu ràng buộc bởi khuôn thước công sở như cha mẹ nên ăn mặc dễ dãi thoải mái, vẽ mặt vẽ thân mình theo ý muốn?

Hay là người trẻ chọn việc xăm mình để …nhớ như ta ghi nhận một biến cố lớn trong đời sống? Vả lại giữa các chương trình truyền thanh, truyền hình, mạng xã hội và các chương trình ca nhạc xuất hiện đều đều, lúc nào tai mắt con người cũng chịu đựng hàng loạt cả trăm âm thanh hình ảnh, đầu óc nào lưu trữ được dữ kiện? Tiện nhất là xăm trên mình để khỏi quên một sự kiện đáng ghi nhớ nào đó cho chắc ăn?

Người trẻ nghĩ gì về tương lai, những chặng đường quan trọng trong đời người như gia đình và hôn nhân? Không mấy người muốn ràng buộc nên dễ dàng chấp nhận việc chung sống và nếu có con cái bên ngoài hôn nhân cũng chẳng sao, không nhất thiết theo thứ tự lập gia đình rồi sinh con như cha mẹ. Họ không tin rằng hôn nhân và có con cái là những trách nhiệm giúp con người trưởng thành. Do đó chỉ kết hôn khi đã vào tuổi… sồn sồn: 80% người “trẻ” lập gia đình khi không còn trẻ (tuổi 45) so với thế hệ trước, 80% những người lập gia đình khi vào tuổi 30.
Không thích ra ở riêng nên 30% người trẻ trong tuổi 18-34 (khoảng 24 triệu người trẻ Huê Kỳ) vẫ tiếp tục sống với cha mẹ.

Không mấy tin tưởng vào kỹ nghệ tài chánh vì đã nhìn tận mắt sự sụp đổ của những công ty tín dụng, ngân hàng…, người trẻ để dành tiền cho ngày mưa và để… mua (trải nghiệm) những kinh nghiệm mới mẻ như du lịch. The tài liệu của Bank of America, 61% người trẻ để dành tiền nhưng chỉ 35% số người này dùng tiền tiết kiệm cho ngày về hưu.

Khác với cha mẹ, người trẻ thích bay nhảy, không ngần ngại khi bỏ việc cũ qua việc mới, họ không mấy tin tưởng vào việc “sống lâu lên lão làng” và sẵn sàng chọn công việc ưa thích dù lương ít hơn so với việc không mấy ưa thích.

Với các con số thống kê kể trên, ta có thể tạm kết luận rằng quan niệm sống của người trẻ ngày nay khác xa với thế hệ trước, từ việc học hành, đi làm đến hôn nhân và gia đình.

Hết chuyện người ‘trẻ” thì phe ta quay sang “nhìn” người “già” và nhớ lại nhiều lần ngày trước Dế Mèn cũng từng ngẫm nghĩ chê bai người lớn tuổi hơn mình là “già” lẩm cẩm qua cung cách làm việc và nhân sinh quan của họ. Bây giờ không còn trẻ nữa thì lại tò mò tẩn mẩn tìm hiểu, học hỏi về người “già”.

Người già nhìn ngắm và ngẫm nghĩ những gì? Sách báo ghi chép rằng dưới cái nhìn của người già, người trẻ là những người được cưng chiều quá mức nên kém sức chịu đựng, chỉ thích hưởng thụ ngay túyt suỵt (?), ít chịu hy sinh cho mục đích lâu dài… Họ bĩu môi so sánh người trẻ với nhi đồng hai tuổi (“terrible two”, khi đứa trẻ biết nói và bắt đầu biết đòi hỏi, quấy quả, phản đối cha mẹ) là “terrible twenty-two”, đòi “độc lập” (làm theo ý muốn) nhưng không đủ khả năng vượt qua những khó khăn thường nhật. Dè bỉu như thế nhưng phụ huynh lại quên khuấy mất rằng chính những kiểm soát, theo dõi, chỉ dẫn quá mức của người già khiến người trẻ vụng về, không dễ dàng xoải cánh mà bay vào đời. Cách dạy dỗ mà các nhà giáo dục như Tiến Sĩ Julie Lythcott-Haims gọi là “overparenting”, cha mẹ “dòm dỏ” (tạm dịch chữ “hovering”), từa tựa như máy bay trực thăng quần trên đầu, con cái.

So sánh cách dạy dỗ huấn luyện của thế hệ “Great Generation”, phụ huynh của người già ngày nay, sách vở kết luận rằng cha mẹ thủa ấy khá thoải mái với con cái, người “già” thủa xưa khi còn trẻ có thể xông pha với rất ít sự kiểm soát, theo dõi của cha mẹ. Và cũng chẳng có mấy phụ huynh tham gia kỹ lưỡng cẩn thận trong việc hò hẹn riêng tư của con cái trừ những gia tộc lớn như câu chuyện Love Story. Cũng có những Boomer du lịch kiểu ba lô lang thang nhưng không có chương trình nhất định và cũng không cần gửi tin nhắn hình ảnh về gia đình đều đặn như ngày nay. Ta có thể giải thích rằng thủa ấy điện thoại viễn liên đắt quá xá, mấy ai dám xài trừ khi cần thiết cấp kỳ? Môi trường truyền thông bây giờ rẻ rề và dễ dàng nên người trẻ có thể vào InstaGram đăng hình ảnh hoặt lên Chuồng Chim mà hót (tweet) bất kể ngày đêm về chuyến đi xa để cha mẹ yên lòng và bạn bè tha hồ xì xào ao ước?!

Boomer được tự xông xáo như thế thì tại sao khi trở thành cha mẹ, thế hệ này lại theo dõi, xem xét hoạt động của con cái chặt chẽ kiểu “overparenting”?

Theo giả thuyết của hai tác giả Richard Settersten & Barbara E. Ray (qua cuốn sách “Not Quite Adults: Why 20-Somethings Are Choosing a Slower Path to Adulthood, and Why It’s Good for Everyone”) thì người già chuộng sự quan tâm từ con cái, họ thích sinh hoạt với con em, đi ăn, đi chơi… nhất nhất đều muốn có con cái tham dự và quý các chi tiết dù nhỏ nhặt về đời sống con cái. Không lạ là trong các mẩu chuyện với bạn bè, vị phu huynh nào cũng nhắc đến con cái họ, không nhiều thì ít; kể lể về công việc của con, chuyện hẹn hò, người tình của con cái … Ngay cả khi không vừa ý với con cái trong các lãnh vực rất riêng tư ấy.

Dù có thể khó chịu về sự dìu dắt xem ra “quá đáng” hay không cần thiết của cha mẹ, người trẻ ngày nay dường như chấp nhận sự liên hệ chặt chẽ ấy. Ngoại trừ một thiểu số tách rời khỏi gia đình, chọn việc sinh sống nơi xa, thỉnh thoảng về thăm cha mẹ, phần lớn thế hệ Millennial xem cha mẹ như người dẫn đường tín cẩn và đồng hành, tìm thấy nơi cha mẹ một chỗ nương tựa tinh thần cũng như vật chất. Không lạ là người trẻ vẫn tiếp tục sống với cha mẹ dù đã trưởng thành, có công ăn việc làm.

Sách báo gọi những người trẻ sau khi học hành xong, tuổi ngoài 20, thay vì ra ở riêng, trở về nhà sống chung với cha mẹ là “Boomerang Kids”, lý do chính là để tiết kiệm tiền bạc. Ngoài ra, thống kê cho thấy các chi tiết như sau:

96% người trẻ phụ giúp làm việc nhà
75% phụ giúp trang trải chi phí sinh hoạt
34% thân cận hơn với cha mẹ
21% có thể ở riêng nhưng chọn việc sống chung với cha mẹ

Các chi tiết kể trên cho thấy rằng người trẻ trở về mái gia đình không chỉ vì lý do tài chánh.

Kỹ thuật truyền thông ngày nay đã giúp người già “tham dự” vào đời sống con cái dù xa hoặc gần. Chẳng những gửi các mẩu tin nhắn hàng ngày, nhiều phụ huynh còn xông pha vào Facebook, Instagram, Twitter để xem con cái kể lể, ghi chép những gì về sinh hoạt thường nhật… Hôm nay ăn bún bò ở ABC, ngon lắm…, cay quá … Và sự việc ăn bún bò của người trẻ nghiễm nhiên trở thành một mẩu chuyện để kể với bạn bè của cha mẹ. Hoặc giả, qua các “app”, cha mẹ có thể biết con cái đang ở đâu, đi đến nơi nào… để dễ bề trợ giúp khi cần thiết. Có vị còn hân hoan nói với bạn bè rằng khi đọc InstaGram của đứa con, thấy tấm ảnh chiếc xe bị xe cào tuyết đụng móp, bà ấy vội vàng gửi tin nhắn chỉ dẫn đứa con phải làm gì, và góp luôn ý kiến rằng con đường bị xe đụng kia không phải là nơi an toàn… Tất nhiên vị phụ huynh kia cho rằng mình là một bà mẹ tốt, quan tâm đến sự an nguy của con cái và sẵn sàng giúp đỡ, nhưng người trẻ kia thì ngẫm nghĩ những gì? Và sẽ “hót” những gì trên trương mục Tweeter riêng tư (mà phụ huynh không thể xem)? Những người trẻ khác sẽ gật gù mà biểu rằng đó là một “helicopter parent”, vị phụ huynh không chịu buông tay để đứa trẻ xoải cánh mà khôn lớn?

Dế Mèn rẽ ngang để nói nhỏ với các phụ huynh rằng khi theo đọc các trang Facebook mà chẳng bao giờ thấy mấy lời góp ý của bạn bè đứa con thì xin hiểu rằng người trẻ đã có trương mục riêng tư khác và ông/bà đã nghiễm nhiên trở thành …cái “bè” đứt dây ràng, không còn là “bạn” nữa (“unfriended”).

Kết “bạn” với con cái trên mạng xã hội chưa hẳn là dấu hiệu của sự thân thiết gần gũi giữa cha mẹ và con cái mà có thể là hình ảnh của nếp sống ngày nay, mạng xã hội và dụng cụ điện tử kè kè bên mình là những thứ “bất ly thân”, nhất là khi chung quanh ta, ai cũng chúi đầu ngó chiếc điện thoại di động. Đọc báo, nghe nhạc xem phim trên mạng riết rồi cũng chán mấy chuyện xa xôi, thế thì ta làm gì cho hết ngày giờ? Chi bằng [tò mò] theo chân XYZ những người ta quen (nhưng chưa hẳn là biết) xem họ ăn uống sinh hoạt ra sao …, “gần gũi” quen thuộc hơn biết bao?

Người “già” hẳn nhìn người trẻ như những con chim non, chưa ra ràng và vẫn còn cần sự quan tâm, trợ giúp của cha mẹ? Và tự đó tiếp tục giữ vai trò phụ mẫu bất kể con cái đã khôn lớn? Quan niệm ấy giúp cha mẹ tiếp tục tham dự vào đời sống con cái mà không áy náy băn khoăn? Ngược lại, người trẻ dù thích độc lập nhưng vẫn muốn có người đồng hành tín cẩn để hỏi ý kiến hoặc nhờ vả khi cần thiết?

Khi người già và người trẻ đều cảm nhận được sự cần thiết của mối liên quan mật thiết kia thì những khác biệt trong tuổi tác xem ra không đáng kể nữa? Nói một cách khác, người trẻ hay người già không khác nhau là mấy, ai cũng muốn có người thân kề cận và để chung sống hòa bình, duy trì tình thân, nhân sinh quan, lối làm việc… đều phải được trung hòa.

Đọc sách báo ghi chép, phân tích về các thế hệ già trẻ xong, sau các giây phút “à há” thì cười cười nhìn lại chính mình. Ngày xưa khi mới vào đời, Dế Mèn đã nhiều lần thở dài… sao người già lẩn thẩn chậm chạp thế… Ôi chao, con đường nọ thì chính mình cũng đang dần dần bước đến. Và cũng phe ta khi ngắm nhìn người trẻ tính toán bàn soạn công việc đã có lần ngỡ ngàng tự hỏi… chẳng biết chúng nghĩ ngợi những gì… Con người qua thời gian có phần khác nhau nhưng tựu trung vẫn giống nhau ở những điểm căn bản. Thì ra chiếc bánh xe thời gian tiếp tục quay đều, người đến, người đi như xuân hạ thu đông. Vòng tròn nhân sinh sinh lão bệnh tử; trẻ rồi già; hay/dở chi rồi cũng …hết, hôm nay ‘mới’ ngày mai sẽ trở thành ‘cũ’ theo luật đà0 thải của thời gian, chẳng có gì là mãi mãi?!

Share this post