Nhà tù lớn – Chu Tất Tiến

Nhà tù lớn – Chu Tất Tiến

Viết riêng cho Đại Hội 25 năm H.O. sắp tổ chức tại Westminster vào 3 ngày 7,8, và 9 tháng 11 năm 2015

Trời California cuối tháng 9 vẫn còn nóng hừng hực. Vốn đã là tiểu bang ít mưa, nhưng hai năm nay, tình hình thiếu mưa đã đẩy tiểu bang này vào tình trạng “hạn hán”, tuy không thật khô cằn như các nơi bị hạn hán quanh năm, nhưng cũng buộc dân California phải hạn chế sử dụng nước đến mức tối đa. Những cơn nóng tháng 9 làm cho bãi cỏ trước sân nhà, nếu không khô cháy thì cũng mất đi vẻ mịn màng, xanh mướt của những năm trước.

Nhìn những ngọn lá khô trong vườn im không tiếng chim hót, đột nhiên tôi chợt nhớ đến cái không khí nóng bức của các trại tù khổ sai mà tôi đã trải qua, và từ đó, liên tưởng đến những ngày đầu 1981, sau khi được thả ra khỏi cái nhà tù nhỏ ấy để tiếp tục bị giam trong cái nhà tù lớn – nhà tù Việt Nam, nơi giam giữ linh hồn và thân xác của gần 80 triệu dân Việt.

Buổi sáng ngày được nghe tên mình gọi qua loa phóng thanh, tuy tôi mừng đến nỗi muốn chẩy nước mắt, nhưng lại cố giả bộ bình tĩnh bước đi, nhặt nhạnh chút hành lý tùy thân và cuốn nhật ký mà tôi lén dấu ở đáy thứ hai của chiếc ba lô có hai đáy đan bằng bao cát. Tim tôi đập như đánh trống vì tôi sợ tên gác trại khám phá ra cuốn nhật ký của tôi thì thôi, cuộc đời kể như tiêu tùng, vì trong cuốn nhật ký ấy, tôi đã gói ghém bao hình ảnh tang thương của trại tù, và chỉ riêng một tấm hình tôi vẽ lại cái chòi làm bằng vỏ đạn mà chúng tôi đã quầy quật dựng lên để chui vào, tránh mưa, nắng, gió trên nền đường trại Trảng Lớn năm 1975 ấy, khi nhóm tù cải tạo mới đến trại, không có chỗ ngủ, tên lính gác bảo chúng tôi tự làm lấy nhà mà ở, nếu không, chết lạnh ráng chịu.

May mắn thay, sau khi xét đồ sơ xịa, tên quản giáo chỉ nói vài điều lảm nhảm mà chúng thuộc lòng, như “cấm không được tham gia tổ chức phản động, phải lương thiện làm ăn, nhớ ơn Bác, Đảng và Cách Mạng đã khoan hồng cho về nhà…”, phát cho chúng tôi giấy ra trại, rồi hất hàm cho chúng tôi đi. Chân tôi run như sắp gẫy, tôi cố không đi mau, nhưng vừa ra khỏi cửa trại tù, là tôi đi thật nhanh, gần như chạy một mạch qua bên kia đường, không dám ngoái lại vì rút kinh nghiệm có một anh bạn, sau khi ra trại, còn đứng bên đường ngó dáo dác vào trại, thế là tên gác chạy ra, lôi vào: “Anh này, định chụp hình trại rồi tổ chức phá hoại phải không?” Không dám dừng lại một giây nào, tôi đi vút qua chỗ nghĩa trang tù ở đầu trại, nơi xác anh Hai tôi nằm đó, với một miếng gỗ nham nhở, khắc bằng dao, một cái tên trơ trọi: “VĂN”! Tôi không dám vào thăm mộ anh, vì gần trại quá. Anh Hai tôi, Chu Vũ Văn, khóa 4 phụ Thủ Đức, đã vĩnh viễn nằm xuống ở đây, chỉ một năm sau khi đi tù, vì anh uất quá, ói ra máu rồi chết.

Đi một quãng khá xa, tôi nghe tiếng xe Lam lạch xạch phía sau, tôi mới quay đầu lại, vẫy vẫy. Chiếc xe dừng lại. Trên xe có vài người phụ nữ dáng vẻ đi bán rong, ngồi cạnh mấy cái bao cói, và một bà ngồi thu tiền. Bà ta hất hàm hỏi tôi: “Tiền đâu?” Tôi lúng túng, ấp úng: “Thưa chị, tôi… tôi… không… có tiền! Chị cho đi nhờ tới bến xe được không?” Đổi ngay sắc mặt, người đàn bà quát anh tài xế rất lớn: “Ngừng lại! Cho thằng này xuống!”.

Tôi xấu hổ quá, dợm đứng dậy, thì một bà ngồi đối diện, trông dáng hiền lành vội chặn tôi lại: “Trông anh không phải là dân cà chớn! Anh ở đâu về?”.

Tôi đỏ mặt, nói nhỏ: “Tôi mới ở tù cải tạo ra!”. Vừa nghe đến chữ “cải tạo” là thái độ của bà thu tiền thay đổi liền, niềm nở: “Sao không nói sớm! Tù cải tạo thì ai mà lấy tiền! Ngồi luôn đi!”.

Hai người phụ nữ trên xe vội vã thò tay vào túi, móc ra một nắm tiền, dúi vào tay tôi:

“Anh cầm lấy, ra ngoài kia ăn tô phở cho lại sức nhé!” Cảm động quá, không nói lên lời, tôi chỉ lí nhí cảm ơn. Cả ba người đều thăm hỏi tôi, ở trại nào, những đâu, tính về đâu… Trước cảm tình của người dân miền Nam đó, tôi cứ lắp bắp nói không ra hơi, cho đến khi xe ngừng lại tại bến xe lôi Biên Hòa. Ba người kia xuống xe, nắm lấy tay tôi, lắc lắc và chúc tôi bình an. Một bà ghé tai tôi, nói nhỏ: “Về nhà, cẩn thận mồm miệng nhé. Vách đất có tai đấy!”. Tôi cúi đầu cảm ơn và quay lưng đi, trong lòng tràn đầy xúc động.

Tiến đến một anh xe lôi, tôi hỏi giá về Sài Gòn, về Phú Nhuận bao nhiêu. Anh ta hất hàm nhìn thằng rách rưới như tôi, nói tưng tửng: “60 đồng”. Trời đất! Sau khi đổi tiền, mỗi gia đình chỉ được giữ 100 đồng mới mà thôi, tiền đâu mà trả? Tôi thất vọng, tính đường đi bộ, thì anh ta gọi giật lại, gây sự: “Ê! Đ.M. Sao không trả giá! Bộ… cho là thằng này cắt cổ sao!”

Tôi mỉm cười méo mó: “Tù cải tạo mới về, tiền đâu ra mà trả giá?”.

Cũng y như bà lơ xe lam, nghe xong chữ “tù cải tạo”, anh chàng bặm trợn kia đổi thái độ nhanh như chớp: “Tù cải tạo mà không nói ngay! Lên xe đi! Tôi chở về nhà. Có tiền thì trả, không có thì thôi”. Rồi anh rồ máy xe, hất hàm cho tôi bước lên. Sau khi hỏi địa chỉ, anh ta phóng như bay, thỉnh thoảng quay lại, nói vài câu, đại khái như “Tui người Sài Gòn… Tui hiểu và thương mấy ông chế độ cũ quá trời… Người ta chiến đấu bảo vệ đất nước chứ có làm gì đâu mà chúng nó nhốt như trâu chó…” Nghe anh ta nói, tôi cứ mê đi, không ngờ người dân mình chưa quên mình!

Về đến nhà, tôi chạy bổ vào trong, gõ cửa mãi, mới thấy bà Nhạc Mẫu run run ra mở cửa. Xúc động quá, tôi ôm bà và hỏi “Vợ con đâu?”. Mẹ tôi cho biết là đi làm chưa về. Tôi quay qua anh tài xế, xin lỗi là không có ai ở nhà, nên không có tiền. Anh ta cười hề hề: “Thôi, khỏi! Nói vậy thôi, chứ tôi đãi ông một chầu đi xe miễn phí! Ông đã làm nhiều quá rồi, ai nỡ lấy tiền ông. Thôi! Chào nhé!”.

Rồi anh ta rồ máy đi một lèo! Tôi ngơ ngẩn nhìn theo anh ta mà lòng muốn khóc.

Và thế là tôi đã về nhà với vợ, với con. Căn nhà xưa giờ đen nhẻm khói lò nấu bếp vì hồi đó, không có than, phải đun bằng trấu trên bếp gạch, mỗi lần nhóm lửa, vợ tôi phải lấy ống thổi, dùng hết hơi sức mới thổi được ngọn lửa le lói lên dần… Nhìn căn nhà 3 tầng mà ngày xưa láng bóng, giờ đây như lò than, tôi không khỏi rùng mình, nhưng cái ghê và dơ nhất là cái hầm cầu bao năm, không người hút, đã đầy ngập, lênh láng, và trào lên sàn bếp mỗi khi có người đi cầu! Vợ tôi vừa lo cho hai đứa con nhỏ, làm phải đi làm công nhân để giữ nhà, lại phải bương chải đi kiếm sống bằng đủ mọi nghề mới có đủ tiền mà đi thăm nuôi chồng, nên nhà cửa long lay, ngập ngụa cũng ráng chịu. Nhìn nước dơ ngập sàn nước, tôi đau đầu dự tính phải sửa ngay, nhưng tiền đâu? Thật ra, trên những khó khăn về vật chất mà tên tù mới về phải đối diện là phương diện khác: Phường, Khóm, Công An Phường, Công An Khu Vực và chính sách dành cho tù cải tạo mới về. Ngay sau khi vất cái ba lô bao cát xuống đất, tôi phải vội tới đồn Công An Phường, trình diện. Tên công an trực nhìn tôi lom lom và bắt tôi ký vào một cuốn sổ lớn, viết tên tuổi, nhà ở, và dự định tương lai làm gì. Sau đó, hắn ra lệnh cho tôi mỗi buổi sáng, phải trình diện đồn, ký tên vào sổ rồi buổi chiều, trước 5 giờ, phải trở lại, ký tên nữa, và phải làm như vậy, mỗi ngày cho đến.. thiên thu.

Đã tưởng cuộc đời khốn khổ như vậy mãi, may mắn, cậu em vợ tôi ở gần đó, nghe tin tôi về, chạy sang, lôi tôi đi đến gặp tên phường đội trưởng là tên có máu mặt trong khu đó, rồi qua nhà tên công an khu vực, kéo hắn đi nhậu một chầu cho đến khi cả hai tên kia “ngoắc cần câu” vừa đi vừa ói mửa mới thôi. Tên công an khu vực, trước khi bước vào nhà, còn nhớ một điều, hắn lè nhè nói trong hơi rượu: “Nè.. è.. mai.. mai.. khỏi.. khỏi có phải.. đến.. đồn.. trình trình… diện diện….Em trách .. trách nhiệm cho!”

Hắn xưng “em” với tôi ngọt sớt vì hơi rượu đó thôi. Nhưng khi hơi rượu tan đi rồi, thì cứ vài tuần, chờ cho đến 11 giờ đêm, khi nhà tôi đang ngủ, hắn đập cửa ầm ầm. Tôi phải vội chạy xuống lầu, mở cửa cho hắn vào. Tên công an không nói gì hơn một câu: “Xét hộ khẩu! Nhà này có ai mới đến không?”. Rồi phom phom đi lên lầu 2 rồi 3, rồi đi xuống.. mặt hầm hầm như sắp ăn thịt ai. Tôi đợi cho đến khi hắn xuống hết thang, thì lại vỗ vai hắn, nói: “Thôi, dẹp đi! Xét con mẹ gì! Nhà có bấy nhiêu người! Ngày mai, 5 giờ, chờ tôi ở quán ông già nghe!”. Thế là như một ngọn đèn có điện bật sáng lên, hắn nhe răng cười: “Mai, em chờ anh 5 giờ nghe!”. Cái bản mặt cô hồn nhường lại ngay cho một thanh niên lễ phép! Tôi chỉ muốn chửi thề!

Ngày mai, tới quán ông già gần nhà, đã thấy hắn ngồi đó, với… 5, 6 mạng rồi! Toàn là lũ công an đầu trâu mặt ngựa, nếu không có rượu có mồi nhậu thì mặt như thằng bị trĩ nội, trĩ ngoại, mà khi rượu và mồi trôi vào mồm rồi, thì tươi như gái ế vớ được chồng! Có buổi sáng, hắn xẹt qua nhà tôi, mời tôi đi ăn sáng. Khi đi thì chỉ có một mình hắn, nhưng một lúc sau, thấy có toán người đi qua, hắn ngoắc tay: “Ê! Mầy đi đâu dậy, cha nội! Dô đây làm một chầu, mầy!” và thế là khi mời, chỉ có một người, mà khi trả tiền, không bao giờ dưới 5 mạng. Người trả tiền, dĩ nhiên là tôi, đau thắt ruột, nhưng thoát nạn trình báo mỗi ngày.

Thật ra, đời người tù đâu có đơn giản như vậy. Về nhà được vài ngày, là tôi phải lo đi kiếm việc làm liền, đâu có thể ngồi nhà ăn bám vợ. Một anh bạn, sĩ quan Quân Y, về trước tôi, đến rủ tôi đi “thồ” sô đa! Hai thằng hai xe đạp, 3 giờ sáng, phóng đến nhà hàng Continental gần Quốc Hội, bấy giờ là cơ quan phân phối sô đa nước ngọt cho toàn thành phố. Đứng xếp hàng đợi lệnh gọi, nói là muốn mua 4 két sô đa mỗi người, trả tiền mặt ngay, rồi lê mấy két sô đa ra ngoài, cột phía sau 3 két, cao linh chinh, còn 1 két, cho vào túi cói, treo đằng trước, hai thằng tù lên đường. Lóc cóc, leng keng… 3 két sô đa cao nghệu, cứ va chạm xô đẩy nhau phía sau, nhắc bọn tôi phải chạy cẩn thận, lạc tay lái một chút là tiêu đời trai, mấy két ấy mắc tiền không phải là nước sô đa mà là vỏ chai. Vỡ chai, phải đền tắc thở luôn! Vừa lái xe, lách tránh hầm hố, bẫy sập trên đường phố, vừa lo ôm giữ mấy cái chai cho chúng khỏi xô đẩy nhau, mới ngày đầu, tôi hãi quá, bảo bạn: “Thôi! Thôi! Ông ơi! Tôi chào thua! Điệu này chết như chơi!”. Anh bạn cười, an ủi tôi mãi, tôi mới hoàn thành vai làm xiếc này, là đạp mãi tới mũi tầu Phú Lâm, vào các nhà hàng, nơi nhậu, quán cóc, mời chào mua sô đa. Được ông chủ nào dễ tính, thì hất hàm nói: “Để đấy, mai lại lấy chai và lấy tiền!”. Trự nào khó tính, thì bảo: “Tôi phải uống thử vài chai, nếu ngon, thì mốt giao, mốt nữa, lấy tiền!”. Cho dù là ông chủ khó tính hay dễ tính, chúng tôi cũng phải đạp xe từ nhà, đi tuốt tới mũi tầu, Phú Lâm rồi qua Bà Quẹo, Bà Hom… trung bình môt ngày đạp cả trăm cây số vừa đi vừa về, tính lời được từ 40 đến 50 đồng, đổi bằng mấy ký lô mồ hôi.

Mệt quá, hai thằng cứ phải… nhậu đế cho quên đời, nghĩa là đến tối, trước khi về nhà, là tấp vào quán cóc nào đó, có treo cái dồi chó, hay đùi gà, thì ngồi xệp xuống cái ghế con, kêu mỗi thằng một xị (một chai xá xị đầy rượu được gọi là một xị) … và một đĩa hoặc gà, hoặc lòng, hoặc vịt… Uống xong, ngà ngà, gật gù, lên xe đạp về nhà là nằm vật ra, ngủ như chết, sau một ngày lao động không vinh quang chi cả.

Đôi khi lại đổi ra thồ bia la de. Thay vì 4 két sô đa, chỉ chở được 3 két bia thôi, vì chai bia la de lớn hơn, nặng hơn, và nhiều tiền hơn.

Những tưởng như thế, cũng tạm sống qua đời, ai dè một hôm, vừa qua chỗ quẹo của chợ Bến Thành, một tên công an đứng bến, giơ tay ngoắc lại. Hai tên thồ đứng lại. Tên công an nói tỉnh bơ: “Ế! Để 1 két bia lại, chiều về lấy chai!”. Thằng tôi ngơ ngác: “Còn tiền thì sao?”. Tên kia cười hăng hắc: “Đ.M. Lần đầu đạp xe qua đây hả! Cha nội! Muốn để lại một két, hay mất cả 3 két?”. Thấy thái độ của tên này, tôi biết là không để lại, thì không xong, thôi đành ca bài Hận Đồ Bàn, để két bia lại mà nước mắt chàm ngoàm. Ngày hôm sau, đi lối xa hơn, tránh tên khốn kia. Nhưng ai mà ngờ! Tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa. Đang cắm đầu đạp xe trên đường Hồng Thập Tự, bỗng một tên mặc sơ mi trắng, đeo băng đỏ, ở trong lề đường nhẩy ra cái vù, tay vung cây súng lục: “Ngừng! Ngừng lại! đóng thuế!”. Hai tay thồ ngơ ngác, cho dù thấy cái mặt nó cũng chỉ nhỉnh hơn con mình vài tuổi thôi, vẫn phải lễ độ: “Thuế? Thuế gì vậy anh?”. Một đứa con gái, khoảng 17 tuổi, cũng đeo băng đỏ, mặt rỗ như tổ ong, nhẩy ra, văng tục luôn: “Đ.M. Thuế đi đường chứ còn thuế gì?”. Tôi nhướng mắt, nhưng vẫn cố lễ độ: “Chúng tôi lấy hàng từ cửa hàng nhà nước, đóng thuế rồi, chúng tôi làm ngựa thồ, đi trao hàng cho các quán, cũng đóng thuế rồi, làm sao còn đóng thuế nữa? Đóng thuế hai lần à?”. Con nặc nô mặt rỗ kia, giọng 75, gầm lên: “Đ.M. cứ mang hàng đi đường nhà lước nà phải đóng thuế, nghe chửa?”. Một câu chửi thề, hai câu cũng chửi thề. Bố mẹ con này chắc là dân chuyên rửa chuồng ngựa! Tôi hỏi: “Vậy bao nhiêu hả chị?”. Tên này hét lên một tiếng làm tôi muốn té ngửa: “150 đồng!”. Trời! Hai thằng đạp xe đổ máu mắt ra được có 40, 50, mà bây giờ phải trả 150! Đúng là bọn cắt cổ!

Cùng lúc đó, một chiếc xích lô chở thịt heo, giò chả chi đó vừa đi qua, mấy tên lau nhau này ào ra chặn lại. Tôi liếc bạn tôi: “Dọt lẹ!” Nhưng không ngờ khi hai thằng vừa đụng tay vào chiếc xe của mình, tính chuồn, thì con nặc nô mặt tổ ong kia quay lại, hét lớn: “Đ.M. Muốn chạy hả! Chạy thì để xe nại”. Biết là không thể thoát lũ cướp đường này, tôi phải bảo anh bạn ngồi canh xe, tôi đi bộ về nhà cô cháu cách đấy chừng vài cây số, mượn tiền, mà nước mắt lưng tròng. Đem tiền tới nộp mạng, chuộc xe, mà không có biên nhận, hai tên tù già bỏ cuộc luôn, vì làm hộc máu rồi cũng nộp cho chúng ăn!

Ngày hôm sau, lại lóc cóc lên Imex, cơ quan chuyên bán đồ hộp ngoại. Dành nhau mới mua được một lô đồ hộp, đạp vào khu chợ Tạ thu Thâu, tính mời chào bà con, ai dè vừa tới cửa chợ, tên an ninh chợt chỉ tay vào mặt mình, gào lớn:

“Đ.M. thằng này bán đồ dỏm! Bà con ơi! đánh chết mẹ nó đi!”. Lập tức một lũ lộc ngộc chạy ra bao vây. Lần này, tự dưng cơn điên nổi lên, nhẫn nhịn lâu quá, như nồi nước sôi rồi, tôi muốn giết người, muốn móc mắt, moi ruột bọn khốn này! Tôi đứng thẳng dậy, dựng xe vào lề, sắn tay áo lên. Bao nhiêu nhịn nhục bấy lâu giờ bùng nổ, tôi sẵn sàng “phanh thây, uống máu quân thù”… Định bụng thằng nào, con nào nhào dô là tôi quật thẳng cẳng bằng các đòn Judo tử mạng, không nhân nhượng nữa. Cũng may cho tôi không có số giết người, nên lũ kia nhìn thấy mắt tôi đỏ lửa, thấy thái độ của tôi phẫn nộ, và có lẽ nhìn thấy cặp kính trắng của tôi (lúc đó, còn đeo kính cận), biết là kính của người trí thức lỡ thời, nên chúng lẳng lặng kéo nhau bỏ đi. Thằng khốn nạn kêu gào đầu tiên cũng nhột, từ từ rút lui về phía sau.

Tôi thở ra, chẩy nước mắt, ê chề…

Chưa hết tang thương, những đứa vô lương tâm trong cái nhà tù lớn này lúc nào cũng muốn ăn thịt người chế độ cũ cho hả dạ. Một buổi sáng, tôi được gọi lên phường. Chủ tịch phường vốn là một con bé, ngày trước 75, vẫn chạy quanh nhà tôi, mũi dãi lòng thòng, chìa tay xin kẹo. Tôi vẫn cho kẹo và xoa đầu nó. Bây giờ, bố bảo tôi dám xoa đầu nó, vì nó là chủ tịch phường, với khuôn mặt hầm hầm, chị ta tuyên bố môt câu xanh rờn: “Anh (không còn gọi bằng chú như xưa) về sửa soạn đi lao động xã hội chủ nghĩa 3 năm nữa. Tuần sau lên trình diện tôi, lên đường!”.

Trời! Mới tù khổ sai gần 6 năm về lại đi lao động 3 năm nữa, chắc không còn đường về nhà. Tôi vội đạp xe lên anh bạn, từng làm lớn thời trước, nhờ giới thiệu vào công ty Đại Dương, nghe nói nhận tù cải tạo nhiều lắm. Anh bạn tôi, vốn cùng đồng môn với một người bây giờ làm khá lớn trong công ty, dẫn tôi vào trình diện. Ngay lập tức, tôi được bổ đi làm thợ đập đá xanh. Tưởng là đi làm như mọi công nhân khác, nhưng không phải. Tù mới về như tôi được nhận làm với điều kiện là “không lãnh lương”, ngoài ra còn phải nộp 1 đồng và 1 lon gạo cũng giá 1 đồng, tổng cộng 2 đồng để ăn bữa cơm trưa! Nghĩa là làm thợ đập đá không những không có lương mà phải nộp lại sở 52 đồng một tháng để ăn cơm “thông tầm” không phải về nhà! Điều kiện này chỉ có trong Xã Hội Chủ Nghĩa thôi, nhưng vì không còn chọn lựa nào khác, tôi đành chấp nhận làm tên nô lệ đập đá, đập thép nguội thế kỷ 20, chỉ để có một tờ giấy khỏi phải đi lao động khổ sai tít mù dương thế… (đập thép nguội là vác búa Tài Xồi nặng 10 ký lô gram, dùng hết sức mạnh, đập những thanh thép cầu hình chữ I có ba cạnh, cho thẳng ra! Hãy tưởng tượng thanh thép cứng như thế, mà không được đốt nóng lên, thì cái vai của mình cũng phải bằng thép cứng mới đập cho nó thẳng ra được. Chỉ cần quai chừng 5 búa là muốn té xỉu…)

Đáng lẽ tôi tiếp tục làm trâu kéo cầy mãi, nếu không có một ngày, công ty xây dựng nơi tôi làm trâu, tập họp công nhân lại để nói ba điều bốn chuyện. Công nhân ngồi xệp xuống đất nghe “thằng” quản lý công trường lảm nhảm. Sở dĩ, tôi gọi nó là “thằng” vì nó vốn nguyên là đại úy Công Binh khi trước, có bà con làm “cách mạng” nên được bổ làm trưởng công trường. Tôi khinh bỉ những thứ dòi bọ như thế này. Thằng khốn kia cũng khinh tôi, nó chỉ tay vào mặt tôi mà nói: “Đ.M.” (Xã Hội Chủ Nghĩa, đứa nào cũng thích chửi thề, trai hay gái, già trẻ lớn bé, cứ mở miệng ra là chửi thề!). Nó nói: “Đ.M. mày! Tao thấy chú mày đéo biết làm gì, tao cho chú mày làm tạm thôi, nếu làm không được, là tao đuổi chú mày, nghe chưa?”.

Nghe những lời của thằng “chó đẻ” này (lúc đó, óc tôi nghĩ thế!) máu uất tôi xông lên đầu, tôi muốn cắn họng nó, hút máu nó cho hả dạ. Tôi dợm đứng dậy… Nhưng thằng kia, có lẽ thấy mắt tôi đỏ lên, nó biết là không nên dồn ai vào đường cùng, nên nó vội vàng đứng dậy, phủi đít và bỏ đi.

Ngay sau hôm đó, tôi bỏ việc làm nô lệ ấy và đến Trung Tâm Nghiên Cứu Dịch Thuật Thành Phố để xin dậy học. Sau khi tôi nộp giấy ra trại, và bằng cấp, xin dậy Anh Văn, tay giám đốc Trung Tâm kiêm hiệu trưởng Trung Tâm Phú Nhuận (Trường Saint Thomas cũ), Đinh Văn Đệ, bảo tôi đến dậy thử một tối. Đinh Văn Đệ là một tên đáng khinh hơn mọi tên đáng khinh khác, vì hắn chính là một cựu Trung Tá Quân Lực VNCH, từng là chủ tịch Ủy Ban Quốc Phòng Hạ Viện ngày xưa, sau 75, lòi mặt ra là tên nằm vùng (thảo nào mà miền Nam bại trận!).

Tối đó, tôi đến, thì tên Đệ muốn thử xem bản lãnh tôi như thế nào, nên bảo tôi dậy thử một lớp cao cấp gồm nhiều thầy, cô giáo dậy Anh Văn của thành phố, rồi kéo cả ban giám đốc vào lớp, ngồi nguyên một dẫy cuối lớp, xem tôi dậy. Tôi tỉnh bơ, giảng bài tiếng Anh bằng Anh Văn mà không dùng một chữ Việt nào. Tên Đệ mừng quá, gọi tôi xuống văn phòng và nói tôi lấy luôn cái lớp đó! Tôi không chịu, nói: “Không được! Thế còn thầy đang dậy lớp đó, thì sao? Không lẽ tôi cướp mất lớp của ông ấy à! Tôi thà là không có việc làm, nhưng không muốn làm ai mất việc!”. Đệ năn nỉ: “Thầy đừng lo! Tôi đã bố trí cho thầy ấy đi làm hiệu trưởng một trường khác rồi. Thầy ấy đã chuẩn bị từ lâu rồi!”. Nghe nói thế, tôi tưởng thật, nên nhận lời dậy lớp đó, mà mãi sau mới biết rằng, tên Đệ lưu manh, cho thầy kia nghỉ việc vì thầy đó nói tiếng Anh nặng “accent” quá, phát âm theo kiểu Tây nhiều hơn, học trò không thích. Nghe được tin đó, tôi ân hận quá! Chẳng biết đời Thầy ra sao? Que sera, sera! Con người trong xã hội Cộng Sản thật như những chiếc lá lìa cành.

Việc dậy học của tôi cũng không bền. Trong khi dậy, lòng tôi vẫn luôn bực bội. Lũ học trò này, mang tiếng là “thầy, cô giáo, tốt nghiệp sư phạm đàng hoàng” mà trình độ tiếng Anh của chúng như học ở Ma Rốc về! Chẳng hiểu ai dậy cho chúng một loại văn phạm quái đản như thế! Thí dụ như chữ “before”, theo chúng, chỉ dùng cho thời gian, không được cho không gian! Chấm, phẩy thì được đặt loạn cào cào. Những liên đại danh tự “who, which, that” muốn để chỗ nào thì để.. Trong một câu ngắn ngủi mà chủ nhân xài đủ 3 thì: Past, Present, và Future luôn! Đôi khi tôi muốn phát điên với những câu hỏi quá ngu của mấy đứa “thầy, cô” này. “Thưa thầy, em nghe nói.. thế này.. thế nọ! mà Thầy lại giảng thế nọ.. thế này..” Tôi hỉ mũi: “À, nếu chị nghe như thế, mà làm theo như thế, thì chỉ một tháng nữa, chị sẽ nói giỏi tiếng Mỹ.. Tho lắm đấy!”. Ngoài ra, tôi bực vì một lý do khác nữa: Tên trưởng lớp cũng là công an. Tên này khoảng độ gần 40, đi học bằng Vespa, áo bỏ ngoài quần, xách cặp táp đen đi học. Cứ mỗi thứ Hai, giữa hai tiết học, nó lên bàn tôi, tửng tửng gõ gõ vào bàn tôi, nói: “Ông thầy! Tui đi giao ban nhe! Ông Thầy có gì đệ đạt lên Ban Giám Hiệu không?”.

Thấy thái độ trịch thượng của một thằng học trò Xã Hội Chủ Nghĩa coi ông Thầy không ra gì, mà còn có kiểu hăm dọa, tôi bực quá, trong đầu tôi chỉ muốn chửi thề, nhưng miệng tôi thì kềm lại: “Anh đi báo cáo thì cứ đi đi, tôi có gì đâu mà đệ với đạt!”. Thế là tên kia hầm hầm ra đi, tìm cách chơi tôi.

Chỉ hơn hai tháng sau, đang giờ giải lao, tôi nghe tiếng loa phóng thanh gọi lớn tiếng: “Thầy Chu Tất Tiến xuống văn phòng làm việc! Thầy Chu Tất Tiến xuống văn phòng làm việc!”

Tôi biết ngay là thằng khốn đó báo cáo cái gì đây. Đi từ tầng ba xuống đất, vừa nhìn thấy tôi, tên Đệ xài xể ngay: “Thầy dậy kiểu gì mà kỳ quá! Thì “present perfect” mà lại dùng chung với ngày tháng là sao?”. Đột nhiên tôi đùng đùng nổi cơn, “quạt” hắn liền: “Thế thì Thầy làm ơn dịch cho tôi câu này nhé: Kể từ sáng ngày mồng 3 tháng 8, tức thứ Sáu tuần trước, cho tới hôm nay là 3 ngày rồi, tôi không đánh răng, nên mở miệng ra là thối hoắc! Thưa Thầy, dùng thì nào? Present? Past? Continuos? Thầy dùng thì nào nếu Thầy không dùng thì Present Perfect?”.

Tên Đệ đứng ngẩn người ra, nghĩ một lúc rồi ú ớ: “Ừ nhỉ, có vậy mà không nghĩ ra. Thôi, Thầy tha lỗi. Tôi, formation Francaise!”. Tôi vẫn điên: “Tôi không có formation Francaise gì cả chỉ biết thi Tú Tài vẫn phải làm luận bằng Pháp văn! Trắc nghiệm cũng bằng Pháp văn! Tôi nói cho thầy hay: “Tri vi Tri, bất tri vi bất tri, thị tri dã”. Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe! Nếu Thầy không hiểu điều gì về văn phạm Anh Văn, thì Thầy hỏi tôi, đừng có mà bố lếu bố láo như thế! Tôi nói cho Thầy biết luôn, kể từ hôm nay, tôi nghỉ việc”. Tên Đệ quýnh lên: “Thế.. thế thì contract của Thầy thì sao?” (theo lệ của lũ chó ở trên, thì không trao giao kèo cho các Thầy, Cô giáo để kìm họ lại, không bỏ đi đâu kiếm việc được.) Tôi sửng cồ: “Để thầy giữ làm kỷ niệm!”. Đệ cố vớt vát: “Thế.. thì tiền lương hai tháng nay thì sao?” Tôi đáp luôn: “Tặng cho vợ thầy đó!”. Rồi tôi leo lên lầu, vào lớp, đập bảng đen, mắng cho bọn công an kia một tăng, rồi hầm hầm bỏ về. Nghe tôi kể là “tặng vợ tên Đệ hai tháng lương”, vợ tôi khóc ròng.

Sau đó, tôi bắt đầu dậy “chui”, bà chị tôi giới thiệu cho tôi một lô các gia đình muốn đi Mỹ, rồi nhà nọ giới thiệu nhà kia, tôi có vài chục học trò, đa số là nữ, từ 15, 18 tuổi đến 30, một số là người Cam Bốt gốc Hoa, còn lại là người miền Nam. Tất cả đều duy trì truyền thống “tôn sư, trọng đạo”, “không Thầy, đố mày làm nên!” (Không Thầy, đố mày đi Mỹ!), từ đó, đời sống tôi thoải mái. Tiền bạc thì không nhiều lắm, nhưng đời sống thì không lo. Trong và sau giờ học, học trò mời Thầy ăn mệt không nghỉ. Cứ đến Trung Thu, Tết, Giáng Sinh là nhà tôi đầy đồ biếu tràn ngập. Có năm, dưa hấu chất cao cả một góc nhà, như người nhà chợ vậy. Có nhóm học trò nữ người Hoa, thỉnh thoảng lại đến nhà tôi, bầy ra nấu nướng um sùm. Rồi Thầy trò thỉnh thoảng rủ nhau đi pic nic, núi Bửu Long, Sở Thú, Lái Thiêu… Cứ thế mà đời sống một ông Thầy dậy Anh Văn chui như tôi tàn tàn trôi qua cho đến ngày có tin đi được bốc đi Mỹ theo diện H.O. Nghe nói ở quận Phú Nhuận, nơi tôi ở, ngày hôm sau, nhận đơn đi Mỹ, tôi thức sớm, 3 giờ sáng mò tới quận, tưởng là sớm lắm, nhưng đã thấy mấy anh căng võng nằm đó từ 11 giờ đêm hôm trước! Do đó, tên tôi được gọi thứ 50. Vào trong phòng, tên công an hỏi cho có lệ: “Tại sao anh xin đi Mỹ?”. Tôi trả lời: “Vì tôi ở đây, không có việc làm, con tôi không có tương lai”. Tên công an bảo tôi viết vào giấy “cam kết không chống đối cách mạng, sau khi qua Mỹ”, tôi tỉnh bơ điền vào câu đó, nhưng bụng thì lẩm bẩm: “Sang đấy, chúng ông cứ chống Cộng, mày làm gì chúng ông?”

Và như thế, tôi đã sang Mỹ dưới diện H.O.1, đi ngày đầu tiên và chuyến thứ 2, ngày 5 tháng 1 năm 1990. Ở Thái Lan 10 ngày, đặt chân đến phi trường Los Angeles là ngày 16 tháng 1 năm 1990. Giờ đã 25 năm. Tóc đã bạc, nhưng tâm hồn chống Cộng vẫn còn nguyên như ngày làm giấy ở Đồn Công An Phú Nhuận: “Chúng ông cứ chống Cộng, mày làm gì chúng ông?”

Chu Tất Tiến. 30 tháng 9 năm 2015.

Share this post