Nhà Văn, Nhà Võ – Lê Văn Phúc

Nhà Văn, Nhà Võ – Lê Văn Phúc

ĐÔI LỜI PHi LỘ

Trong giới viết lách, nhiều người gọi tôi là nhà văn, nhà báo vì có nhiều mục, nhiều bài xuất hiện đều đặn từ 26 năm qua ở hải ngoại với cả ngàn bài đã đăng khắp các báo ở Mỹ, ở Gia Nã Đại, ở Úc…

Nói cho ngay, từ giữa thập niên 1950 tôi bắt đầu viết cho báo quân đội, rồi các năm sau đó viết cho Chính Luận, Tiền Tuyến, Quân Nhu, Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp…

Những mục tôi viết thời gian ở hải ngoại với nhiều đề tài như: Đố Chơi Để Chọc, Houston có gì lạ không em? Houston – Miền Nắng Ấm, Bóng Thời Gian, Khung Trời Kỷ Niệm, Đời Sống Quanh Ta. Nhưng đề tài ăn khách nhất là cuốn Tôi Làm Tôi Mất Nước in lại tới lần thứ 5, nay đã tuyệt bản.

Với những năm dài viết lách tâm sự nhỏ to như thế với độc giả bốn phương, ít ai biết đến tôi còn là một nhà võ của Vovinam, nhập môn từ đầu thập niên 1950 và là học trò của Võ Sư Sáng Lập Nguyễn Lộc.


Cuối năm 1953, cha tôi chạy cho tôi vào tôi vào Ngự Lâm Quân Đà Lạt vì lúc đó chiến sự miền Bắc sôi động, không muốn tôi gửi xác Điện Biên Phủ.

Tôi được đồng hóa cấp bậc hạ sĩ tức Cai Phúc cánh gà, làm việc tại phòng 5 bộ tham mưu NLQ/Đà Lạt.

Nhờ có thêm chút tài mọn, tôi phụ trách chương trình phát thanh Tiếng Nói Ngự Lâm Quân. mỗi tuần phát thanh 45 phút trên làn sóng điện địa phương. Và tôi dạy Vovinam một đại đội cận vệ của Đức Quốc Trưởng Bảo Đại.

Cũng thời gian này, võ sư Trần Đức Hợp dậy Vovinam tại Trung Tâm Huấn Luyện NLQ, Trạm Hành.

Có thể nói chúng tôi là những người đầu tiên đưa Vovinam vào quân đội, như võ sư Phan Quỳnh đã đề cập đến trong đặc san 2000 tại California.

Thời gian trước sau trong quân đội hay ra ngoải dân sự, đi đâu tôi cũng mở các lớp Vovinam nho nhỏ, dậy cho anh em quân nhân, hành chánh, dân sự, coi như một bổn phận tự đặt cho mình. Vậy, tôi trong nghề võ lâu hơn trong nghề văn đấy chứ! Nhưng ít ai biết nên cái tên nhà võ của tôi bị…lu mờ! Thậm chí có nhiều bạn bè còn lấy làm ngạc nhiên khi tôi tự xưng là nhà võ, góp chuyện về võ thuật!

Và đau khổ nhất là chính người nhà tôi, các con tôi không ai nghĩ rằng tôi biết võ cả. Ra đường gặp môn sinh nào chào võ sư thì các con tôi đều bán tín bán nghi, nhìn nhau cười tủm tỉm.

Thành ra, lắm lúc tôi cũng đâm ra nghi ngờ cả chính tôi! Không biết mình là bướm hóa Trang Sinh hay Trang Sinh hóa bướm?

VĂN ÔN VÕ LUYỆN

Muốn văn hay võ giỏi thì điều trước tiên là phải tập luyện hàng ngày.

Tôi học võ ngay trên gác, trong phòng khách của võ sư Nguyễn Lộc, cạnh đền Hàng Trống HàNội, mỗi tuần 2 lần. Mỗi lớp từ 6 đến 8 người, tập trong khoảng hơn tiếng đồng hồ không nghỉ. Môn sinh mặc quần đùì cởi trần, quăng quật nhau trên sàn xi-măng bóng nhẫy mồ hôi. Tập với nhau đã đau, mà khi thầy sửa đòn, dậy đòn mới thì chúng tôi rất sợ . Sợ vì không biết đòn thế ra sao mà chống đỡ và khi thầy ra đòn thì trò có đề phòng cách mấy cũng là chịu trận.

Rồi có môn sinh nghỉ học vì dọn nhà đi tỉnh khác, có môn sinh vì không chịu nổi các đòn, hãi quá nên thôi. Không ai vì không đóng nổi học phí mà bỏ học cả. Phần lớn môn sinh đều được thầy cho miễn phí hoặc chỉ lấy tượng trưng hoặc tùy nghi đóng góp.

Chúng tôi lại phải nhập từ vài lớp khác cho đủ sĩ số để tập luyện.

Ngoài những buổi tập ở gác Hàng Trống, chúng tôi thường rủ nhau ra bãi cát sông Hồng Hà gần Viện Bác Cổ, tập với nhau cả buổi chiều.

Thời gian sau, võ sư Nguyễn Lộc dọn nhà tới phố Hàng Vôi, chúng tôi tiếp tục tập trên sàn nhà đá hoa rộng lớn hơn nhưng cũng nguy hiểm hơn vì sàn đá hoa trơn trượt, khó bám chân xuống đất cho vững.

Khi bỏ học vào Dalat đi lính nhưng tôi không bỏ võ, tiếp tục học thêm nhu đạo, nhu thuật và thỉnh ý thầy về phương pháp huấn luyện trong quân đội để dậy cho thực tiễn, có hiệu quả. Võ sư Nguyện Lộc đã dậy tôi những thế chiến thuật, dùng súng có lưỡi lê xáp chiến, những đòn dao, đòn gậy và những thế xáp lá cà…

Năm 1955, Ngự Lâm Quân tan hàng. Chúng tôi được phân tán lên Banmethuôt, Pleiku, Kontum rồi giải ngũ năm 1956.

Liên tiếp sau đó, khi ở bên Cam Bốt làm việc cho Tòa Đại diện Việt Nam, khi bên dân sự, khi trong ngành Quân Nhu..tôi cũng đều dành thời giờ tổ chức những lớp Vovinam. Và suốt mấy chục năm, khi tham gia đóng góp chấn chỉnh môn phái, khi tiếp tay với võ sư Trần huy Phong lập Tổng Đoàn Thanh Niên Việt Võ Đạo Saigon – tôi nhớ võ sư Nguyễn văn Thư là Tổng Đoàn Phó Nội Vụ và tôi là Tổng Đoàn Phó Ngoại Vụ – cùng với những anh em khác đồng trang lứa, chúng tôi đóng góp phần mình cho môn phái.

VÕ THUẬT VÀ VÕ ĐẠO

Một trong những điều tối quan trọng mà người học võ nào cũng phải hiểu thấu đáo để phân biệt: Thế nào là võ thuật và thế nào là võ đạo?

Võ thuật chỉ là những đòn thế tập luyện hàng ngày cho tinh thông để có thể phản ứng, trả đòn mau lẹ, mạnh mẽ hầu tốc hiến tốc thắng. Võ thuật đòi hỏi công phu luyện tập bền bỉ, can đảm, lâu dài để đạt tới một trình độ cao và để truyền lại cho lớp người sau những tinh hoa mà mình đã học hỏi, thu thập được.

Võ thuật là một nghệ thuật, tinh luyện các đòn thế, phát triển các đòn thế để tạo thêm những thế đánh mới đẹp mắt hơn, hữu hiệu hơn, khoa học hơn.

Võ đạo thì khác. Võ đạo ở một trình độ cao hơn, rộng hơn và lý tưởng hơn. Cao hơn vì không chỉ nhắm vào đòn thế. Rộng hơn vì bao trùm nhiều lãnh vực, không những thể chất mà cả tâm hồn. Lý tưởng hơn vì võ đạo đưa con người tới một trình độ vượt thoát khỏi những cái tầm thường, lên một cao độ tinh vi hơn, dùng lời nói, tư tưởng để hướng dẫn, điều khiển kẻ khác làm những việc tốt lành, hữu ích, thánh thiện của Chân, Thiện, Mỹ.

Muốn đạt tới võ đạo, trước tiên người học phải qua giai đoạn võ thuật, có một trình độ hiểu biết để bảo vệ sức khỏe, tự vệ, bênh vực kẻ khác yếu thế. Khi võ sinh tự tin, tự kiểm được mình rồi thì dần dần học về võ đạo, lên một trình độ khác hơn, cao hơn và quý hơn.

Người có võ thuật rồi mới tiến tới võ đạo. Còn người có võ đạo là người đã qua giai đoạn võ thuật.

Khi nào một môn đồ Vovinam trong đời sống hàng ngày còn nóng nẩy, giận dữ , lúc nào cũng chỉ muốn xử dụng đòn tay, đòn chân, đấm đá thì người ấy chưa vượt qua khỏi võ thuật. Khi nào môn đồ còn thách thức này nọ với đồng môn để so tài, so đẳng thì người ấy vẫn còn lẹt đẹt ở cái mức rất thấp.

Nhất là một võ sư, tức người đã học võ cả chục năm trở lên mà chưa tiến được vào giai đoạn võ đạo, vẫn ham danh ham lợi, vẫn dễ nổi giận khi bất bình, không tự kiềm chế được lòng mình, không nhìn thấy cái ta, coi cái ta là quá lớn, mục hạ vô nhân thì người ấy chưa ngộ đạo.

Võ đạo giúp ta khiêm tốn hơn, nhún nhường hơn, yêu người hơn, tha thứ hơn, cao cả hơn để cùng nhau an vui hạnh phúc, chung hưởng cuộc đời, yêu thương, gắn bó với nhau như anh em bốn bể một nhà.

Có được một tinh thần võ đạo lành mạnh, tốt đẹp như thế chúng ta mới xứng đáng là người hữu ích trong xã hội.

CÓ LÚC PHẢI VUNG GƯƠM…

Những điều nói trên mới chỉ là lý thuyết. Có áp dụng được hay không lại là chuyện khác. Nó đòi hỏi công phu tu dưỡng, luyện tập hàng ngày để thăng tiến.

Nhưng con người cũng không phải là thần tiên phật thánh nên dù muốn cư xử đàng hoàng cũng có khi không thoát khỏi cái lẽ thường tình là có lúc vui, có lúc buồn, có lúc cần phải nổi giận khi bị xúc phạm đến danh dự cá nhân, danh dự gia đình, danh dự tập thể hoặc xúc phạm đến quốc thể.

Có những lúc ta nhịn được, ngồi uống một ly trà, bất động để hóa giải cơn giận trong lòng. Nhưng cũng có khi không thể ngồi uống trà mà phải đứng dậy vung gươm. Ta có thể tha thứ cho kẻ nhần lẫn, vô tình nhưng ta không cho phép kẻ khác làm nhục. Và đó là lúc ta biểu lộ cái dũng cả về tinh thần lẫn võ thuật của con nhà võ.

Như chuyện kể dưới đây:

Mấy năm trước, một buổi tôi ghé tiệm gà quay ăn trưa.

Tiệm không đông, tôi xếp hàng đến lượt gọi mấy món ăn, một ly nước và trả tiền, chờ đưa thức ăn. Chờ một lát, thấy mấy người đứng sau lại có thức ăn trước, nhân có ông quản lý từ đằng sau bếp bước ra, tôi hỏi:

  • Tôi chờ thức ăn, chưa ai đưa cho tôi cả?

Ông quản lý hỏi:

  • You số mấy?
  • Tôi không có. Không ai đưa tôi cả!
  • Thế you mua những món gì nào?
  • Tôi mua 3 miếng, một ly nước…

Ông quản lý lật mấy tờ giấy, nói:

  • À, đây rồi! Xin lỗi ông nhá!

Tôi chờ lấy thức ăn xong, cười vui nói với ông quản lý:

  • Ông phải huấn luyện nhận viên của ông mới được! ( Vì quên không đưa phiếu cho tôi!)

CÁI CAN ĐẢM CẦN PHẢI CÓ TRƯỚC TIÊN LÀ…

Một anh chàng Mỹ trắng to lớn hơn tôi cả cái đầu, lực lưỡng đứng cạnh, ngứa miệng sao đó chõ mõm vào tôi nói:

  • Mày không được làm phiền ông già! (You cannot bother the old man!)

Tôi sủa ngay lập tức:

  • Không phải chuyện mày! Ông ấy không phải là ông già. Ông ấy là quản lý nhà hàng. (Mind your business. He’s not an old man. He is the manager of the restaurant).

Thằng cha này chơi luôn:

  • Tao phải bảo vệ ông già!

Tôi nghĩ bụng, nó sai đứt đuôi con nòng nọc rồi. Nó cậy là Mỹ, cậy to lớn, kỳ thị dân Á Đông nhỏ bé, tính áp đảo tôi thì tôi phải dậy cho nó một bài học mới được. Vững tinh thần, tôi phản pháo:

  • Ai cho phép mày bảo vệ ông già? Lập pháp, hành pháp hay tư pháp?

Chắc hắn hơi nhột, hỏi lại:

  • Mày có phải luật sư không?
  • Tao không cần trả lời mày câu này, nhưng ông ấy là manager chứ không phải ông già.

Hắn xoay qua ngả khác:

  • Mày về nước mày đi!

Tôi phạng liền:

  • Đây cũng không phải là nước của mày! Đây là hợp chủng quốc!

Hắn biết gặp phải chứ không vừa, đành cãi chầy cãi cối. Đôi bên cùng chỉ trỏ, sỉa sói, la lối om sòm. Tôi tuy chữ nghĩa ăn đong nhưng lúc nổi cơn lên, đâu có ngán. Bao nhiêu chữ nghĩa ăn đong, tôi tuôn ra hết!

Những người trong tiệm đứng cả dậy theo dõi hoặc chuẩn bị di tản kẻo tai bay vạ gió. Cuối cùng tên Mỹ rời khỏi tiệm, lầm bầm những gì tôi không hiểu..

Còn ông quản lý thì cứ năn nỉ xin lỗi, mời ăn bất cứ món gì, bao nhiêu cũng được, không dám tính tiền.

Tôi nói:

  • Cám ơn ông, tôi không thưa gửi gì lên hãng của ông đâu, ông yên tâm. Nhưng người khách hàng này lố lăng, thấy tôi dân Á Đông nhỏ bé nên kỳ thị chủng tộc tính áp đảo nên tôi phải dậy cho hắn một bài học mới được.

Sau đó, tôi ngồi ăn không ngon, uống ly nước mà nghẹn cổ. Đầu nhức, chắc mạch máu cao.

Tôi rất buồn vì thái độ trịch thượng, kỳ thị của tên Mỹ vừa rồi. Nhưng có một điều rất yên tâm là tôi có lý. Tôi nhớ câu danh ngôn Cái can đảm cần phải có trước tiên là tư tưởng đúng. Tư tưởng đúng thì dù gươm kề cổ cũng không sợ hãi gì. Hai nữa – điều này không ai biết – tôi là người biết võ, có thể tự vệ dễ dàng. Cái thứ bị thịt như tên đó mà chạm đến người tôi là tôi cho hắn một đòn . dễ như ăn…ớt!

Bề ngoài, ai cũng tưởng tên Mỹ búng một cái là tôi quay cu lơ.

Tôi vững lý, vững tâm và dư sức trả đòn, cớ chi tôi lại chịu cho tên đó hạ nhục? Nên tôi chơi tới cùng, không sợ gì cả.

Câu chuyện nhỏ vừa kể cho các bạn nghe để thấy học võ cũng có cái lợi là nó hỗ trợ cho tinh thần. Và khi mình ở thế mạnh có thể áp đảo đối phương về tinh thần thì ta khỏi phải dùng đến võ thuật, đến tay chân để giải quyết.

Hỏi bạn, như thế có thú vị không?


Như đã thưa với bạn, hầu như cả đời tôi chưa bao giờ đánh lớn, ra chiêu nào gọi là nặng tay với ai cảø.

Đôi lúc bị người khác hiểu lầm – hay hiểu đúng ra sao không biết – xông vào tính gây sự với tôi. Tôi đều hóa giải chứ không phản đòn, hay chỉ ngồi uống ly nước trà cho nguôi cơn giận.

Cũng có khi bị bạn chơi xấu, đáng lý tôi phanh phui, làm cho rõ trắng đen rồi nghỉ chơi. Nhưng tôi đã nén lòng bỏ qua không chấp. Thái độ ấy tôi cho là thái độ của kẻ cả. Chỉ khi nào thấy thật cần thiết phải nói với nhau thì tôi nói thẳng, nói đàng hoàng cho bạn hiểu. Không để cho bạn mất mặt, xấu hổ. Không phải là tôi thiếu chữ nghĩa, thiếu báo bênh vực để trả đòn. Nhưng tôi bỏ qua, nhường nhịn , vì vẫn nhớ câu một sự nhịn, chín sự lành.

Tôi nghĩ mình còn sống là còn nhìn thấy nhau. Tôi không muốn ai phải cúi đầu lánh mặt hay nhìn nhau bằng con mắt hận thùø.
Tôi rộng lượng và dễ tha thứ. Tha thứ chứ không quên:

“Ơn ai một chút chẳng quên,
Buồn ai một chút, để bên dạ này…”

Cuộc đời viết văn và học võ của tôi đi song song với nhau. Tôi yêu văn chương thì tôi cũng mê võ thuật. Hai thứ ấy hòa nhập vào máu vào tim tôi từ thuở đôi mươi.

Để bây giờ đây – nói bạn thương – bỗng dưng tôi lại được gọi là Dzăng, dzõ soong toòng!

Chẳng cũng sướng ru!

Lê Văn Phúc

Share this post