Nhớ Cái Nóng Cái Lạnh Xứ Mình – Nguyên Thanh

Nhớ Cái Nóng Cái Lạnh Xứ Mình – Nguyên Thanh

Sài Gòn mùa Giáng Sinh năm nào cũng trở lạnh. Năm nay có đêm nhiệt độ xuống dưới 18oC. Đây là dịp hiếm hoi để dân Sài Gòn khoe áo ấm, đặc biệt là quý cô, quý bà. Bởi sắm được cái áo khoác, áo choàng, áo len thật đẹp mà cứ xếp cất mãi trong tủ thì thật là uổng phí. Đây cũng là cơ hội giúp giới bán buôn tung hàng áo ấm “tồn kho kinh niên” ra để “khuyến mãi” người tiêu dùng. Lại cũng có tay nhạy bén vội ôm hàng từ xứ lạnh Đà Lạt về đáp ứng ngay cho thị trường đang “nóng hổi”! Thôi thì tha hồ mà lựa: Hàng nội, hàng ngoại, đủ cỡ, đủ kiểu, đủ màu, giá “cứng”, giá “mềm” đều có cả.

Sài Gòn mà lạnh phải mặc áo len là chuyện có vẻ lạ lùng. Bởi ai cũng biết đây là vùng đất chỉ có hai mùa mưa nắng – mà dù nắng hay mưa thì nhiệt độ ban ngày cũng thường vượt con số 30 – cao điểm ở mức 37, 38, 39, thậm chí 400C. Bởi vậy mà dân Sài Gòn hễ đi làm về là mong tới nhà để “truốc bỏ” cái lớp “bao che lịch lãm” bên ngoài, nữ thì thay vào đồ bộ ít vải, mỏng mảnh, còn nam thì trần trụi với cái quần xà lõn cho tiện, cho bớt nóng. Và ban ngày thì tư gia hay công sở, máy lạnh và quạt điện cứ phải quay vù vù không ngưng nghỉ.

Nhưng cái nóng hay cái lạnh của Sài Gòn, của miền Nam nói chung, chẳng là “cái thá” gì so với cái nóng bức và cái lạnh buốt của miền Bắc và miền Trung. Đặc biệt ở vùng đất mà khí hậu có tiếng là khắc nghiệt, nguyên là hai châu Ô Lý ngày trước, mùa hè thì nóng như “lửa đốt”, còn mùa đông thì lạnh còn hơn cả …nước đá! Hễ nóng thì đến cây cối cũng “cháy”, con người, con vật cũng “khô” vì ngọn gió Lào cứ hun sấy dai dẵng từ sáng sớm đến tận về khuya và lạnh thì cũng kéo dài thâu đêm suốt sáng, lạnh đến tê buốt, lạnh đến “thấu xương” vì ngọn gió Bấc – mang theo mưa dầm – cứ se sắt triền miên.

§ Nói về cái nóng:

Mùa hè xứ Huế – hay vùng đất Phong Điền nói riêng – thường bắt đầu vào tháng Tư và kết thúc vào cuối tháng Sáu âm lịch. Nó rất khớp với chu kỳ tuần hoàn của bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông với đặc điểm thời tiết khí hậu biến chuyển khá rõ rệt của vùng đất này. Xuân ấm áp, Hạ nóng nực, Thu mát mẻ và Đông lạnh lẽo. Đó là những tính từ phản ảnh khá trung thực đặc điểm về nhiệt độ dành cho mỗi mùa mà người dân miền Trung ai cũng cảm nhận và trải nghiệm được.

Ba tháng hè là mùa mà ta hay cho là “đêm ngắn, ngày dài”, “tháng năm chưa nằm đã dậy”. Ở vùng đồng quê bao quanh xứ Huế, mới 5 giờ sáng, mặt trời đã le lói ở phía đông. Rồi rất nhanh, 8, 9 giờ sáng mặt trời đã lên vượt qua khỏi những đọt tre gai cao nhất trong làng, tỏa ánh nắng chói chang lên vạn vật. Bầu trời thì cao thẵm, xanh ngắt, không một gợn mây. Ở nông thôn, đầu tháng Tư lại rơi vào mùa gặt – vụ lúa Đông Xuân. Khỏi phải nhắc, nông dân ngày trước cũng đã dậy từ sáng sớm và đến ruộng từ lúc tinh mơ.

Đến giờ Ngọ – 11,12 giờ trưa – mặt trời lúc này như một khối lửa khổng lồ đã ở ngay trên đỉnh đầu. Người ta nói lúc này, ông mặt trời “sà xuống” gần mặt đất hơn, điều đó đúng với cảm nhận thực tế của con người mà cũng vừa đúng với khoa học về sự chuyển vận của trái đất xung quanh mặt trời. Ngoại trừ những nông dân đang buộc phải làm việc ở ngoài đồng, với những cái nón lá xứ Huế rộng vành trên đầu mà vẫn không che hết cái nắng nóng rực lửa từ trên cao; trừ những lúc buộc phải nhảy vội ra “cươi” cào lúa, trang lúa cho “khén”, thì không một ai muốn gồng mình soi bóng dưới cái nắng gay gắt ban trưa của mùa hạ xứ Huế.

Ấy vậy mà tuổi thơ của người dân làng Kế quê tôi trước đây vẫn quen với những buổi trưa hè đổ lửa như vậy. Đơm “giôn” trong “độn” cát thì phải đặt ống bẫy từ lúc sáng sớm, và phải chờ đến lúc mặt trời lên, có khi tới trưa mới “thu hoạch được chiến lợi phẩm”. Câu cá trong các khe bàu ở Rú thì cũng phải tới trưa mới có thể “lưng oi” để quay về. Mà lúc này thì cát dưới chân lại bị ông mặt trời hun nóng lên như người ta bỏ vào chảo lửa mà rang với đậu phộng! Cát trắng còn đỡ, gặp cát vàng hoặc hơi đen thì phỏng da là cái chắc!

Mà bọn con nít xưa ở quê thì lại quen với “đầu trần, chân đất”. Vậy chỉ còn một cách duy nhất là nhờ mấy nhánh lá “trâm bù”. Bẻ vài nhánh gom lại như cái chổi, chạy một đoạn thấy bắt đầu nóng chân lại bỏ bó lá xuống và giẫm lên trên. Nghỉ vài giây lại chạy tiếp, cứ thế, chạy mãi, dừng nghỉ mãi, hằng chục bận mới tới được nhà thì bó lá trâm bù trên tay cũng vừa khô khốc và đổi từ màu xanh sang màu xám! Đó là chưa nói đến những tình huống có “thằng” may mắn bắt được tổ chim, lấy được trứng, thế là chỉ cần mang trứng chôn vùi trong cát nóng chừng năm ba phút là trứng có thể ăn được ở dạng “hồng đào”!

Thật ra, nếu nóng mà chỉ có vậy thôi thì chưa phải là cái nóng của xứ Huế. Bởi từ đầu tháng Năm âm lịch trở đi, nơi đây bắt đầu hứng lấy những đợt gió Lào – là loại gió nóng ẩm từ hướng Tây Nam thổi qua, bị dãy Trường Sơn và Hải Vân chặn “hút hết” cái ẩm và …nhường cái khô khốc lại cho vùng đất dọc duyên hải nơi đây, đặc biệt là Quảng Trị và bắc Thừa Thiên Huế – tức Phong Điền. Gió Lào thổi càng làm tăng thêm cái nóng gay gắt của ánh mặt trời vốn có, làm cho con người và cây cỏ càng thêm khô khốc, rát bỏng. Mặt trời ví như cái lò lửa trong khi gió Lào tợ như cái quạt: Quạt và lửa cấu thành hai yếu tố quyết định của một lò sấy!

Từ xế trưa cho đến tận khuya, gió Lào thổi liên tục, làm cho mọi vật như bị nung lên dữ dội, trở nên xác xơ, rã rời. Bàn ghế , giường phản, mọi thứ đều nóng ran và con người không thể ngồi hay nằm lên trên đó. Ban trưa người ta không thể ở trong nhà, dù là nhà rường mái ngói hay nhà tranh vách đất. Chỉ còn những bóng tre xanh hiếm hoi bên những dòng khe, mương nước đã cạn là nơi trú ẩn tạm bợ cho con người và cả cho gia súc. Nước sông ngòi và ao hồ đang tới hồi cạn kiệt, còn nước giếng cũng không làm cho con người đã khát và mát dịu lại chút nào, bởi bản thân nguồn nước lúc này cũng đang bị hâm nóng lên!

Nhà thơ Chế Lan Viên từng chứng kiến “thảm họa” gió Lào ở Miền Trung và ông đã van xin ngọn gió độc: “Ôi! Gió Lào ôi! Ngươi đừng thổi nữa!” Nhưng trời đất thì vẫn dửng dưng, ngọn gió thì vẫn vô tình, không nghe không thấy, cứ mùa hè “đến hẹn lại lên”, thổi mãi, thổi mãi; thổi hàng ngàn, hàng trăm năm qua, làm khốn đốn biết bao thế hệ con người, từ người Chăm xa xưa cho đến người Việt hiện tại, từ thế hệ khai hoang lập ấp ban sơ cho đến thế hệ hậu sinh bây giờ.

§ Nói về cái lạnh:

Mùa Đông xứ Huế bao gồm ba tháng cuối năm âm lịch: tháng Mười, tháng Mười Một và tháng Chạp. Nhưng cái lạnh nơi vùng đất này thường chỉ bắt đầu từ tháng Mười Một, và cao điểm là tháng Chạp, có khi kéo tới tháng Giêng, tháng Hai năm sau. Dân gian có câu: “Tháng Ba bà già cũng tốt, tháng Mười Một con gái tốt cũng hư”. Bởi tháng Mười Một là tháng mưa lạnh, da thịt con người trở nên nhăn nheo, úa héo.

Nhưng ở đồng quê bao quanh kinh kỳ, thì đây chính là mùa cấy cho vụ Đông Xuân. Đàn bà con gái đều phải ra ruộng và suốt ngày hai tay cứ phải nhúng vào bùn nước, “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”. Xấu tốt ở đây có lẽ cũng không còn là vấn đề nữa, mà chỉ còn là khả năng chịu đựng và giỏi giang. Ai cũng phải cố cấy thật nhanh cho kịp mùa vụ – nghĩa là phải xong trước Tết Nguyên Đán – thì dù có lạnh cỡ nào cũng phải cố mà vượt qua.

Mùa Đông xứ Huế là mùa mà khí hậu đối nghịch với mùa hè: “ngày ngắn, đêm dài”, “tháng Mười chưa cười đã tối”! Bầu trời mùa Đông bao phủ mây mù xám xịt, ướt át, ẩm thấp và lạnh lẽo. Đường sá, nhà cửa, cây cỏ, ruộng vườn như chìm trong một màu u ám, ảm đạm. Cũng giống như mùa Hè với cái nóng được nhân lên gấp bội vì ngọn gió Lào, thì mùa Đông, cái lạnh cũng được khoét sâu thêm bằng ngọn gió Bấc. Đây là loại gió mùa Đông Băc, mạnh dần lên từ tháng Mười Một âm lịch, lại bị địa hình đặc thù của vùng đất Huế, bao bọc bởi dãy Trường Sơn phía Tậy và Hải Vân phía Nam ách lại, khiến hơi nước trong mây tích tụ gây mưa: một loại mưa phùn hạt nhỏ giăng đều và trùm kín không gian mà người ta hay gọi là mưa dầm. “Mưa dầm thấm lâu” là câu tục ngữ chỉ loại mưa này. Nó không ào ạt, đổ xuống từng chặp, từng trận dữ dội như mưa giông mùa Hè hay mưa rào ở miền Nam – gặp mưa này dù có “ướt như chuột lột” thì cũng chỉ ướt áo, ướt da bên ngoài – còn mưa phùn cứ rơi lất phất, nhẹ nhàng, đều đều, giăng mắc suốt ngày đêm, thấm dần, thấm dần vào từng thớ thịt và thấm vào cả xương cốt mà không hay!

Mưa dầm và gió bấc kết hợp làm cho cái lạnh của xứ Huế và vùng đất nông thôn bao quanh của Thừa Thiên càng trở nên tê tái, lạnh lẽo. Đây là thời điểm mà đêm về, hình ảnh bếp lửa le lói với tổ ấm gia đình đoàn tụ vây quanh trở thành hình ảnh sống động trong ký ức của nhiều người khi nhớ về những kỷ niệm của thời xưa cũ. Rồi khi mà lửa tàn, chỉ còn lại vài mẫu than hồng dưới đáy cái trách bằng gốm, cũng là lúc ai nấy phải lên giường, và bếp lửa tàn kia cũng ưu tiên được đút dưới gầm giường nơi bà mẹ và đứa con út đang ngủ! Vậy mà vẫn cứ run, cứ lạnh và giấc ngủ thật không dễ dàng tới, dù đã nằm quấn quýt bên nhau và đủ cả chăn màn. Người ta nói vì cái lạnh đã “thấu xương”, thậm chí lạnh “không phải từ ngoài vào, mà lạnh từ trong lạnh ra”!

Đặc biệt, cái lạnh mùa Đông ở thời điểm giáp Tết cũng mang lại ít nhiều thú vị. Hãy hình dung hình ảnh nồi bánh tày, bánh tét giữa đêm 29 Tết sôi sùng sục và “bốc khói” trên bếp lửa hồng. Hơi nóng và tiếng reo vui của lửa hồng đã làm tỉnh giấc và sưởi ấm cho cả gia đình giữa cái lạnh tê buốt và tối đen bên ngoài của đêm đông. Chính cái lạnh lúc này lại đang làm ấm áp thêm tình người, tình cốt nhục, làm ấm áp thêm một mùa Xuân đang về ở phía trước…

Để rồi có lúc, sáng dậy lại “làm biếng rửa mặt” vì thọc tay vào nước cứ như là vào nước đá, như bị dao cắt! Thảng có việc phải ra đồng, đi trên con đường làng trống trãi, ngược với hướng gió, hướng mưa thì không gì ấm cho bằng loại “tơi” lá mang ngược và nón lá trùm kín cả đầu lẫn cổ. “Tơi” là một loại áo đi mưa của người nông dân xứ Huế xưa, được “chằm” bằng loại lá tợ như lá “chằm” nón. Nó vừa tránh mưa, tránh gió, lại vừa giữ được hơi ấm, rất phù hợp để mang trong mùa mưa lạnh. Hình ảnh người mang tơi đội nón lá cũng là hình ảnh khá sống động, tiêu biểu cho người nông dân nghèo trong bối cảnh của mùa đông lạnh giá miền Trung xưa. Có điều hình ảnh ấy đôi lúc cũng mang dáng vẻ khá buồn cười khi nhìn từ xa vì nó hao hao giống như một …chú dế nhũi đang lướt đi trong mưa gió, thậm chí tợ như hình ảnh một chú lính đang ra trận với chiếc áo giáp thời Trung Cổ!!

§ Thay lời kết:

Thời đại mà chúng ta đang sống, đang phải chịu ảnh hưởng nặng nề bởi “biến đổi khí hậu toàn cầu”. Thời tiết rõ ràng ngày càng có những đổi thay khác thường không lường trước được. Có thể do hậu quả “nóng lên toàn cầu” mà nhiệt độ nhiều địa phương, cụ thể là xứ Huế, đang có khuynh hướng tăng lên và kéo dài trong mùa Hè, song song với nhiệt độ hạ thấp và cũng giản ra trong mùa Đông như đã thấy trong năm 2014. Trong lúc đó, quá trình phát triển về mọi mặt cả về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của đất nước nói chung và địa phương nói riêng, hiện cũng đang làm thay đổi ít nhiều bộ mặt của xứ Huế, địa hình xứ Huế, đặc biệt ở vùng đồi núi và đồng bằng bao quanh. Ở đó, các công trình thủy điện, thủy lợi, đường sá, nhà xưởng đang có chiều hướng tăng lên trong khi mảng thực vật, cây cối, rừng tự nhiên có xu hướng ngày càng suy giảm.

Phải chăng hiện trạng “cộng hưởng” ấy cũng sẽ là nguyên nhân khiến cái nóng và cái lạnh của xứ Huế ngày càng có điều kiện “gia tăng cách biệt“ thêm lên, làm cho môi trường sống của vùng “Ô châu”, vốn đã từng là “ác địa”, lại càng quái ác, độc địa hơn nữa trong tương lai với các thế hệ mai sau?…

Nguyên Thanh

Xuất xứ: http://www.donghuongphongdien.com/nong-va-lanh-que-minh-news/view-206.html

Share this post