Những Bài Thơ Chính Khí – Hữu Loan

Những Bài Thơ Chính Khí – Hữu Loan

Ngày 18 tháng 3 năm 2010 vừa qua, nhà thơ Hữu Loan vừa từ trần. Nhà thơ sống thọ 95 tuổi nhưng thơ của ông lại thọ hơn tuổi tác thực của ông rất nhiều. Ông có những bài thơ, rất nổi tiếng, viết cho người thân của mình nhưng lại có âm điệu chung của số đông những người có những định mệnh đặc biệt trong chiến tranh. Những bài thơ ấy đã sống mãi trong văn học sử và trong lòng những người Việt Nam yêu thi ca.

Bài thơ “Đèo Cả“ của một thời kháng chiến chống Pháp. Thơ có phong vị hùng tráng của những ngày Nam Tiến, đi hành quân qua đèo núi với tấc lòng gìn giữ quê hương. Thế mà, khi Nguyễn Đình Thi nói chuyện với Tố Hữu và tàn thưởng bài thơ này thì ông nhà thơ lãnh đạo văn nghệ chê bai ngay là thơ Hữu Loan của “Đèo Cả“ là tiểu tư sản, làm dáng. Nhưng, bài htơ này vẫn được truyền tụng và được coi là một bài thơ có tính tiêu biểu của thời kỳ đó. Những câu thơ như:

  • “núi cao vút

    mây trời Ai Lao

    sầu

    đại dương

    Dặm về heo hút

    Đá bia mù sương… ”

Đã mang lại một phong vị hùng tráng của buổi ra đi của những người chiến sĩ…

Bài thơ “Màu tím hoa sim” của mối tình vợ chồng thời chiến tranh với nỗi ngậm ngùi đi sâu vào tâm hồn người đọc. Bài thơ làm để khóc người vợ, bà Lê Đỗ Thị Ninh, một mối tình tưởng đẹp trong thời chiến nhưng kết cuộc lại là những nỗi thương tâm. Những câu thơ vời vợi được ngâm, được hát ở cả hai miền. Tự nhiên, hình ảnh của màu tím hoa sim bỗng thành một ảnh tượng thi ca quen thuộc. Nó tượng trưng cho những nỗi buồn chiến tranh, của những phận đời của bi thảm chia ly…

  • “… chiều hành quân

    qua những đồi hoa sim

    những đồi hoa sim

    những đồi hoa sim dài trong chiều không hết

    màu tím hoa sim

    tím chiều hoang biền biệt… ”

bài thơ “màu tím hoa sim“ được nhà thơ Xuân Diệu tán tụng cho rằng là một “Hiện tượng thơ” đặc biệt

Bài thơ ”Hoa Lúa”. Ngôn ngữ đằm thắm để tặng cho người vợ hiền, bà Phạm Thị Nhu, đã cùng với ông có mười người con và chia đắng cay chung nhọc nhằn suốt cả một đời chồng vợ. Bà là con gái của một gia đình địa chủ ở trong huyện, tuy rất yêu nước và có lòng nhân ái với người nghèo nhưng lại bị đấu tố và cha mẹ bà bị chôn sống hở chỉ có cái đầu rồi cho trâu kéo cái bừa đi qua làm đứt đầu. Bà là con gái độc nhất bị đuổi ra khỏi nhà, cấm mọi người liên lạc giúp đỡ nên phải đi xin ăn. Hữu Loan thấy thương cảm, đem về nuôi nấng giúp đỡ rồi lấy làm vợ. Mặc dù lúc ấy ông là Trưởng phòng Tuyên Huấn và Chính Trị Sư Đoàn.

  • “em là con gái đồng xanh

    tóc dài vương hoa lúa

    đôi mát em mang chân trời quê cũ

    giếng ngọt cây đa

    anh khát tình quê ta trong mắt em thăm thẳm

    nhạc quê hương say đắm

    trong lời em từng lời… ”

Trươc năm 1975, có một hiện tượng là cả hai miền Nam Bắc đều truyền tụng thơ của Hữu Loan và đặt cho ông vị thế thi sĩ rất cao. Dù bị trù úm, dù bị cấm viết, và với thái độ cương cường không thỏa hiệp nên bị đầy ải, nhưng thơ của ông ở miền Bắc đã vượt lên tất cả để chiếm một ngôi vị đáng kể. Còn ở miền Nam, thì bài thơ như “Màu Tím Hoa Sim” được đọc, được ngâm và phổ nhạc đến thành một bài thơ quen thuộc của đại chúng. Trong những trang vở sưu tập của tuổi học trò hầu như bài thơ này được chép ở những trang đầu tiên.

Hữu Loan, một nhà thơ trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, người đã phê bình sự dốt nát của các quan “văn nghệ Cộng Sản” bằng hình ảnh ví von thật ác : “Những mắt lợn thưởng tranh. Những tai trâu huấn nhạc.” Và cũng chính Hữu Loan, tác giả của bài thơ “Mầu tím hoa sim”, người đã không thèm cầm bút theo sự chỉ huy của chính quyền chuyên chế, về cày ruộng thồ đá, lao động như một nông dân chính hiệu.

Nhà thơ Hà Thượng Nhân, một người đã có thời gần gũi với Hữu Loan đã có những câu thơ phác họa chân dung thiệt sống động như:

  • “… Nguyễn Hữu Loan

    hồn nhiên như con trẻ

    đơn sơ như miệng cười

    dám chân thành làm một con người

    giữa bão tố quyết không là cây sậy

    chỉ biết cúi đầu vâng lời lẽ phải.

    Với bạn bè gìn giữ thủy chung

    Đỗ Phủ xưa dù lớn vô cùng

    Nguyễn Hữu Loan không chịu là Đỗ Phủ

    Ba mươi mấy năm chân trần lam lũ.

    – Đói khôngLoan?

    Khổ không Loan?

    Tao chẳng khổ bao giờ

    Tao đi cày như tao làm thơ

    – Mày đi cày vì mày dám làm thơ.

    Thơ vĩ đại vì thơ không đánh đĩ

    Bọn dối trá chẳng thể là thi sĩ

    Kiệt Trụ đừng nói chuyện thi ca.

    Nhớ nguyễn Du xưa rau cháo xanh da

    Nửa tháng ốm không có tiền mua thuốc.

    Không cần thép thơ vẫn thành bó đuốc.

    Thơ nâng người cao sát với thần linh…”

Thơ, đối với Hữu Loan cũng như một số người, là cứu cánh để tồn tại và sống còn trong những hoàn cảnh bi đát nhất. Tương tự như, những người bị giam hãm trong phòng biệt giam, chung quanh là không khí u trệ hắc ám, nhìn đời sống toàn màu đen, nếu không có óc tưởng tượng để vượt trên những chấn song của những tâm hồn thi nhân thì có lẽ khó sống còn nổi trong những điều kiện sinh hoạt vô cùng ngặt nghèo. Hay, những người bị cả một chế độ khủng bố, bao vây kinh tế, theo dõi tư tưởng, cả đời lao đao. Không những chỉ một cá nhân cam chịu riêng mình mà còn cả gia đình thân quyến cũng chịu ảnh hưởng lây. Có những người vẫn an nhiên sống bất chấp đày ải. Nhưng cũng có những người không gượng dậy nổi trước những đè nén đôi khi vượt khỏi sức chịu đựng của con người. Thơ, như ví von của Phùng Quán, là gậy chống để gượng đứng dậy và tiếp tục đi…

Nhìn lại những biến cố văn học Việt Nam, từ xưa đến nay, có những người vì án văn tự mà bị chu di tam tộc. Đó là thời quân chủ phong kiến. Chế độ Cộng Sản có những cái án mà không thành án, suốt đời đeo đẳng. Thí dụ, vụ án “Xét lại”, vụ án “Nhân Văn Giai Phẩm“…Sự tàn bạo, khốc liệt không thua gì đời phong kiến, nếu không nói là thâm độc hơn.

Thời kháng chiến hay khi vào tiếp thu miền Bắc, Đảng Cộng sản vẫn một chủ trương văn nghệ chỉ huy, văn chương phục vụ chính trị. Từ đề cương văn hóa “Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt nam” của Trường Chinh Đặng Xuân Khu đọc trước Hội Nghị Văn hóa ở chiến khu Việt Bắc năm 1948 trở về sau, một đường lối cực đoan bảo thủ được thi hành với tất cả những biện pháp khắc nghiệt dành cho những ai muốn đi ra ngoài cương lĩnh ấy.

Năm 1955, nội tình miền Bắc nhiều rối ren. Phong trào cải cách ruộng đất rập khuôn Trung Quốc đã gây ra biết bao nhiêu oan khuất và sự phẫn nộ của dân chúng lên cao đến nỗi phải phát động chương trình sửa sai để làm giảm bớt căng thẳng. Văn nghệ cũng nhân theo đó mà nêu ra những khiếm khuyết của lãnh đạo, xoáy vào những bi thảm mà chính sách cải cách ruộng đất gây ra. Để đòi hỏi những mục tiêu tự do cầm bút.

Những nhà văn như Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Văn Cao, Nguyễn Hữu Đang, Phùng Quán, Hữu Loan … cùng chia sẻ một chủ trương chống lại chính sách chỉ huy văn nghệ của Đảng. Những Nhân Văn Giai Phẩm Mùa Xuân, Giai Phẩm Mùa Thu với những bài thơ và truyện ngắn đã gây ra những dư luận sôi nổi với sự đồng tình của mọi giới từ trí thức đến bình dân.

Mục tiêu đầu tiên là phê phán Tố Hữu một cai thầu văn nghệ với tập thơ “Việt Bắc” được coi như là đỉnh cao thi ca của nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Cũng như, văn nghệ sĩ đòi quyền được tự do sáng tác, không muốn bị giam hãm trong vai trò minh họa cho chế độ. Tham ô, lãng phí, cửa quyền, bất công, … tất cả những tiêu cực của chế độ được đề cập đến cũng như vai trò của những ông bình vôi, những cây đa cây đề của văn nghệ bị lột trần trong vai trò văn nô hèn hạ.

Theo nhà thơ Lê Đạt một người cột trụ của Nhân Văn Giai Phẩm trả lời bà Thụy Khuê của đài RFI mới đây thì thực hiên giai phẩm là một việc làm tự phát chứ không ảnh hưởng từ những biến cố ở Liên Xô và Trung Hoa. Nhân Văn Giai Phẩm Mùa Xuân xuất bản tháng giêng năm 1956 trong khi cuối tháng 2 cùng năm thì Đại Hội lần thứ 20 Đảng Cộng Sản Liên Xô phục hồi danh dự cho các văn nghệ sĩ bị giết hại hoặc đấy ải dưới thời Stalin. Đến tháng 5, Mao Trạch Đông phát động chiến dịch “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”. Năm 1956 quả là một năm đầy biến cố cho các chế độ Cộng Sản trên toàn thế giới.

Dĩ nhiên, ở Việt Nam, cả bộ máy chuyên chế không nương tay trong việc trừng phạt và dẹp tan những tư tưởng phản động chống đối. Tự phê, tự kiểm, một không khí khủng bố lan rộng trong giới văn nghệ sĩ. Trần Dần là một người hứng chịu những trừng phạt khủng khiếp nhất, không có án văn tự nhưng ghê khiếp với những hậu quả cho cả vợ con và gia đình. Ông bị Đảng không cho phép kết hôn với bà Bùi thị Ngọc Khuê là người có gia đình di cư vào Nam và thuộc giới tư sản địa chủ. Ông bất chấp và xin ra khỏi quân đội cũng như bỏ sinh hoạt Đảng đoàn. Vì những bài thơ chống chế độ. Ông bị bắt giam, có lúc uất ức cứa cổ tự sát. Họa sĩ Nguyễn Sáng vẽ chân dung một người có vết sẹo trên cổ ám chỉ Trần Dần và bị kết tội “Bọn Nhân Văn”. Lúc đó, bị gán cho nhãn hiệu ấy là một tội danh chết người.

Trần Dần bị kết tội là đồ đệ của Hồ Phong, một nhà văn đã viết bức thư ngỏ gửi Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Hoa phê phán “năm lưỡi dao” đâm vào tim óc các nhà văn, bị bắt giam và đầy đọa tới chết trong những trại lao cải tàn khốc. Thế là, cả đời của nhà thơ Trần Dần và gia đình rơi vào tình trạng vô cùng khốn khổ. Gia cảnh nheo nhóc, con cái học hành dang dở tuy thông minh hiếu học nhưng vì cái án treo Nhân Văn lơ lửng. Bị bao vây kinh tế, ông suốt đời như cái bóng âm thầm, nhiều người thương tình muốn giúp đỡ mà không dám sợ bị tội liên quan. Như thế ai mà cả gan dám quan hệ với Trần Dần sẽ bị hậu quả ngay. Vậy, vẫn có một người đã dám công nhiên chia sẻ bằng thi ca. Đó. Tác giả “Màu tím Hoa Sim”. Hữu Loan.

Hữu Loan, một kiện tướng văn nghệ với bài thơ “Màu tím hoa sim” mà người yêu thơ cả hai miền Nam Bắc truyền tụng. Truyện ngắn “Lộn Sòng” đăng trên Giai Phẩm Mùa Đông năm 1956 đã gây ra những chấn động cho chế độ miền Bắc. Hơn thế nữa, ông là một người kiên cường, từ bỏ tất cả để về quê ông ở Thanh Hóa làm ruộng, đi cày, thồ đá, sống thanh bạch. Bị đày về quê nhà, đóng vai trò nông dân, ông phải cày bừa, kéo những xe chở đá nặng nề khổ sở như những người bị lao động khổ sai. Đảng cố tình đầy đọa ông và gia đình suốt ba chục năm trường mà ông vẫn kiên cường chịu đựng. Về sau này, khi chế độ bị bắt buộc phải thay đổi đường lối cực đoan, thì nhiều nhân vật trong giới lãnh đạo văn nghệ đến ve vuốt theo lệnh Đảng để lợi dụng danh tiếng và tài năng của ông. Ông vẫn giữ mực thường tiếp đãi, tự nhiên không cay đắng không xum xoe. Trong mọi thái độ vẫn giữ tính chất của kẻ sĩ.

Khi viết “Tự Thuật”, ông đã kể lại : “Cuối năm 2004, công ty Việt VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyền bài “Màu Tím Hoa Sim“ của tôi với giá 100 triệu đồng… Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu chia “lộc“ cho mười đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng phòng đau ốm lúc tuổi già, sau xin trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan. Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác nhưng tôi từ chối. Thơ tôi làm ra không phải để bán!…”

Rồi có chuyện Bộ trưởng y tế Nguyễn Quốc Triệu mang cả tùy tòng có cả ông nhà báo Xuân Ba và cả dàn nhạc đến thăm nhà thơ Hữu Loan được đăng báo “Đảng”, được loan truyền trên đài phát thanh như là một cách phổ biến tấm lòng ưu ái liên tài của các lãnh đạo đối với văn nghệ sĩ. Hành động ve vãn này thì lại đi ngược với những hành động để đối phó với các nhà văn trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, những hành động tàn ác và thâm độc đến nỗi không còn nhân tính với tác dụng răn đe văn nghệ sĩ.

Và, cảm thương cho thân phận Trần Dần, mà cũng là cảm thương cho thân phận của chính mình, Hữu Loan đã viết một bài thơ đầy cảm khái. Thấy tính cảnh khốn khổ của gia đình bạn, ông viết tặng bài thơ “Dao Khúc : Cừu Và Cò“ với những ví von ẩn dụ. Hữu Loan đã mang câu ca dao “con cò mà đi ăn đêm, đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao…” vào thơ mình với hình ảnh nhiều nỗi niềm.

Vẽ hình ảnh của Trần Dần bằng những câu thơ :

  • “ … Bố Cò chỉ ngồi

    nằm hay đứng

    không đi

    Phong Ác bắt

    Cứ đi

    Là phải

    Đi còm…“

Vẽ hình ảnh của bà vợ Trần Dần, một nhân dáng tội nghiệp vì chồng vì con mà hy sinh với chịu đựng biết bao nhiêu khổ nạn:

  • “Cò Mẹ kiếm ăn

    trên cạn

    giữa những nơi hôm qua còn là bãi chiến trường

    dẫy đầy mìn bom

    nổ rồi

    chưa nổ

    giữa đế dép nát, giày hư, vỏ rum, Bồ đào, Vốt ka hảo hạng

    hộp sữa, hộp bơ

    cặn bã phù hoa

    từ yến tiệc lầu cao quẳng xuống

    (nước miếng dào lên

    chát đắng

    trong mồm)

    Vẽ hình ảnh của những đứa con :

    “ … Cò Bé không thương thì ai thương mẹ?

    Cò Bé còn thương cha

    Và suốt đêm thức vẽ

    Bé vẽ cha

    Một mắt

    Mầu đỏ mưa sa

    Trên hình chữ nhật

    Đồng tử vàng tang

    Đưa ma

    Phố sập

    Vẽ cổ cha

    Gân to

    Kim ấn

    Vắt ngang!

    – lập thể Picasso?

    – Cubitsm Cò con

    Chưa có Cò đâu

    Khi có

    “vấn đề bố Cò”

    đăng trang đầu

    “Đây “Nhân Dân” Số 1…”

    và phác họa một thời đại của những con cừu non với những bánh vẽ của một chế đo độc đoán :

    “… bọn nghệ nô

    đem hết tài

    khuyển



    tạo mầu

    tạo thanh

    gây ảo

    tối

    đa

    hay hiện thực quái thai

    thảo nguyên âm thanh

    thảo nguyên áp phích

    xanh mướt

    mênh mông

    ngon mắt

    ngon tai

    đến tận thiên hà!

    (chỉ không ngon miệng)

    vì thèm quanh năm

    (như tội tổ tông)

    được gậm

    được nhai

    được tiêu hóa

    dần

    một bữa

    no



    thật…”

Bài thơ khá dài, Hữu Loan đã so sánh hai phận người, một con cò lặn lội bờ sông và một những con cừu cam chịu phận hèn, ở trong “khuôn“ thì phải “khổ “.

Thơ Hữu Loan như những âm thanh gợn lên từ những xúc cảm từ nỗi uất hận từ những trái tai gai mắt của một thế kỷ nhiễu nhương. Câu kết như một lời “ai điếu cho một nền văn chương minh họa”

  • “… Tiếng người hát

    trong không thời gian

    vang vọng

    (xùi xụt mưa thu điệp khúc

    Chiêu Hồn)

    Những thân Cò

    Từ nguyên thủy

    Việt Nam

    Hỡi người Cò

    Thời văn minh Cộng Sản

    Vị dương gian tối cao

    Đội trưởng

    Đội

    Thập loại chúng sinh Cò.

Hữu Loan đã làm một công việc của một người thấy sự bất bằng mà lên tiếng. Đã có kinh nghiệm sống với cộng sản, ông cũng thừa hiểu những trò trả thù của chế độ. Nhưng, có hề gì, đã hơn ba mươi năm trong lò luyện ngục thì xá gì thêm một chút đòn hằn!!!

Có lần nhà thơ đã nói :

“Cái tính tôi không chịu quỵ lụy được. Bởi vì hồi ấy ra làm ở ngoài Trung Ương thì bắt phải theo Cộng Sản nên tôi bỏ tôi về. Tôi bỏ về nó không cho về… Nó làm tôi tam tình tứ tội làm đủ cách để thủ tiêu nhưng mà tôi vẫn tin là tôi có sự che chở của Trời Phật cho nên không thủ tiêu nổi, bao nhiêu lần đầu độc không xong.

… Bởi vì người ta làm thơ lúc bấy giờ là phải làm về Đảng, ca tụng Đảng, ca tụng cái buôn bán chiến tranh. Bởi vì cái đánh nhau là cái dễ kiếm chác lắm. Mà kiếm chác ở cái chiến tranh ấy thì khó kiểm tra lắm cho nên những cái bọn ăn bẩn ấy là bao giờ cũng chủ trương chiến tranh buôn bán chiến tranh. Mà tôi thấy cái đấy là cái khổ dân nhất nên tôi chống cái ấy hết sức cho nên vì vậy cho nên Tôi đã làm bài thơ “Mầu Tím Hoa Sim“ trong lúc người ta đụng một tí là người ta đề cao Hồ Chí Minh trong khi tôi đề cao cái Tình yêu. Tôi khóc cái người vợ tử tế của mình hiếm có của mình. Lúc đó khóc như vậy nó cho là khóc cái tình cảm riêng… Lúc bấy giờ làm Thơ là phải có Hồ Chí Minh, phải có Đảng Cộng Sản… ”

Nghe những câu nói thẳng thắn trực tính như vậy thì làm gì mà các văn nô, các lãnh đạo văn nghệ, các công an văn hóa… chẳng động lòng. Chuyện ấy là dĩ nhiên chúng phải phản bác lại và phải có ngay hành động áp chế.

Nhưng có điều lạ, là những văn nô nửa mùa, những con cắc kè nửa vàng nửa đỏ, đón gió theo thời mà cũng không được thừa nhận như Hoàng Nguyên Nhuận ở bên Úc chẳng hạn lại ngứa mồm lên giọng bỉ thử chê bai để lập công. Đã đi tị nạn, đã bị đồng bào ở đảo “đón chào bằng võ lực“ vì cái chủ trương và hành động thiên Cộng, thế mà qua được xứ tự do lại có cái giọng xu thời không có một chút tri thức nào cả. Hắn mỉa mai chê bai nhà thơ Hữu Loan ăn nói lẩm cẩm, thơ một đàng mà nói đi một nẻo khác. Hắn viết : ” … Hữu Loan nói đúng? Nói sai? Đúng bao nhiêu? Sai bao nhiêu? Đó là quyền và trách nhiệm của Hữu Loan, đây chưa phải là nơi để bàn chuyện “chính trị” đó. Điều có thể nhất trí ghi nhận là lối nói chuyện lỉnh kỉnh quê mùa cục mịch thẳng thắn của Hữu Loan hoàn toàn khác ngôn từ của bài thơ Chiếc Chiếu hay bài Màu Tím Hoa Sim. Đây là một khác biệt trớ trêu đậm nét uyên nguyên phát xuất từ một người có tài thơ có khiếu làm thơ…Hữu Loan nói chuyện như một người bình thường chân chất sáng suốt dùi đục chấm mắm nêm nhưng làm thơ như một người nhập cốt, một người lên đồng với một ngôn từ riêng, một rung cảm riêng của ông đồng bà cốt liên hệ đến những điều người bình thường không thể nói không thể thấy được… ”

Suốt trong bài “Ai làm thơ? Ai là thi nhân“ với cái giọng mỉa mai nửa nạc nửa mỡ, khiến tôi là một độc giả quá sức bực mình. Tôi hiểu lý do tại sao Hoàng Nguyên Nhuận lại viết như thế. Hắn viết vì lý do để lập công với chủ của một văn nô mà thôi. Một bài viết không đáng phí thời giờ để phân tích. Tôi càng thích cái thái độ thẳng thắn của thi sĩ Hữu Loan bao nhiêu thì lại phải càng có lý do để thẳng thắn nhận xét dù rằng là của một ý kiến độc giả. Tôi không muốn làm người chỉ trích để phá bỏ mà tôi chỉ muốn làm một người nói lên tâm cảm thực của mình…

Nguyễn Mạnh Trinh

Share this post