Những Bài Viết Kỷ Niệm Bùi Chu Mến Yêu Lên 6 – Nhiều Tác Giả

(buichu.net) Nghề cắt dép lốp.

Dép râu, dép lốp hay dép Bình Trị Thiên đều là tên chung để chỉ tên đôi dép mà giờ chắc còn rất ít người sử dụng, có chăng chắc chỉ còn trong viện bảo tàng.

Loại dép này do “cái khó ló cái khôn” mà dân ta ở vào đầu những thập niên 50 cuả thế kỷ hai mươi sáng chế ra. Có lẽ do bàn tay khéo léo cuả các người dân vùng Bình Trị Thiên chăng mà loại dép này khi tôi có trí khôn đã được nghe gọi tên dép như thế.

Hình dáng cục mịch đen xì, vì nó được làm từ những chiếc lốp ô tô phế thải. (Tôi phải dùng chữ lốp ô tô phế thải là vì ngày đó, những chiếc lốp xe cũng còn quý hoá lắm, nó mới hư thì người ta vá lại, rồi hư nhiều thì lại gọt mỏng dùng độn vào trong những cái lốp xe thủng nho nhỏ cho đến khi không còn thể dùng được nưã, đúng là phế thải). Họ mang về cắt đẽo ra hình dạng đôi dép, đục lỗ xỏ quai, mà quai cũng làm bằng cao su từ những chiếc xăm lốp xe phế thải luôn! Những chiếc quai sau khi kéo qua bên dưới đế thò ra một khúc thưà ngăn ngắn, dân mình gọi là râu, vì thế dép được gọi là dép râu luôn.

Dép có nguồn gốc từ dân vùng Bình Trị Thiên (?) nên gọi bằng dép Bình Trị Thiên. Dép nguyên làm bằng những chiếc lốp cũ nên có tên là dép lốp. (Có nhà thơ đã hãnh diện với tên này khi đưa dép vào thơ: chân “dép lốp” mà đi vào vũ trụ. Ý tả cảnh phi hành gia “Phạm Tuân.” Bay vào vũ trụ năm nào.) Và đế dép có mấy cái đầu thưà cuả quai dưới đế nên còn có tên là “dép râu.”

Ở miền Nam sau 30 tháng Tư bắt đầu có nhiều nơi sản xuất dép lốp. Riêng Bùi Chu trước kia ít có người dùng dép này, tuy nó bền thật nhưng vì dép được “quân cách mạng” dùng nên dân không dám mang sợ bị bắt nhầm, với lại hồi đó có nhiều loại dép như dép Nhật, dép Lào, dép da, sandal và giầy nên hầu như chẳng có ai dùng dép râu.

Sau tháng Tư năm 1975. Do lao động nặng, lại do những nguyên vật liệu sản xuất ngành dép guốc hiếm, và để cho hợp với thời thế, người ta tập làm quen và sử dụng lại đôi dép “lốp.” Những cửa hàng giầy dép cũ cũng bày bán những đôi dép râu, dép lốp cải biên nhẹ nhàng và thanh thoát với nhiều mẫu mã hơn tuy nó cũng vẫn còn cục mịch đen xì.

Ở Bùi Chu ta vào những năm đó, có ông giáo Hoàn do sức khoẻ yếu không thể “lao động” những việc nặng như đồng áng. Ông ở nhà cũng mày mò sản xuất “dép lốp” để bán cho bà con trong ấp dùng để đi rừng, đi ruộng.

Bộ đồ nghề cuả ông gồm vài con dao loại đặc biệt hình dáng như móng bò. Dao thật bén vì được dùng loại thép đặc biệt chế ra. Bên cạnh túc trực hòn đá mài và một cái thau cũng được chế từ một cái lốp cũ cho bền. Ông dùng những cái rập hình đôi dép vẽ trên mặt trong cuả miếng lốp, mà lốp xe phải là loại có bố bằng vải, bố làm bằng thép thì chịu. Sau đó, dùng dao đẩy tới theo hình vẽ. Tiếng sừn sựt ngọt lịm cuả lưỡi dao đi qua những lớp chỉ bố độn chung giưã hai lớp cao su trong cái lốp cũ thật nhẹ nhàng, cứ chút chút ông ngừng đẩy, đưa lưỡi dao liếc nhẹ trên cục đá mài và dúng nước cho trơn lưỡi dao để dễ cắt cao su. Loáng cái đã cắt xong hình thù đôi dép. Ông lại dùng dao cắt mặt đế những đường rãnh cho dễ bám đường đỡ trơn trợt, rồi dùng đục đục lỗ xỏ quai, cuối cùng, ông lấy cái kẹp đặc biệt kẹp đầu quai kéo qua được cái lỗ, chỉnh cho vưà với chân, quai trước, quai sau và trao cho khách.

Đúng là nghề nghiệp do thời thế, chứ ai có thể ngờ ông giáo là một thư sinh, cả một thời gian dài tuổi trẻ chỉ có ăn và học, mớ kiến thức đầy ắp trong đầu, đôi tay chỉ chuyên lần dở những trang sách mỏng tanh. Thế mà đã có một thời ông đã dùng bàn tay thư sinh đó để làm ra thật nhiều đôi dép, ôi những đôi dép cuả một thời vất vả. Thật đáng khâm phục.

Tháng 5/2011.

TVM

Độc Đinh.

Chiều nay khi đi làm về ngang khu nông trại, thấy cảnh chữa cháy của hàng chục xe vòi rồng có cả máy bay trực thăng, nhìn thái độ tích cực làm việc của những người lính cứu hỏa và thái độ bình tĩnh của chủ nhà (vì họ đã có bảo hiểm đền bù những thiệt hại, chứ không như bên nhà những thập kỷ trước cháy nhà là trắng tay.) Tự nhiên làm cho tôi nhớ lại Bùi chu quê mình, hồi thập niên 1960 của thế kỷ trước.

Khoảng năm 1964, có một trận cháy dãy nhà thuộc đầu khu Tân Thành (lúc đó Tân Thành và Phú Sơn là giáo khu của xứ Bùi Chu). Khoảng nhà ông Lý Xuyên, ông Trương Tuyết. Đây là dãy nhà cất tạm cho đồng bào mới từ vùng rừng lá, căn cứ về ở tạm. Tôi nhớ khoảng đang giờ chầu tối, nghe hô hào cháy mọi người chạy ùa ra, có người về nhà lấy cu(câu) liêm, (cây dài ở đầu có cây sắt bẻ cong và lưỡi như liềm, loại dụng cụ cứu hỏa dùng để cắt đứt những dây lạt buộc bằng tre vào đòn tay và những tấm lá để giảm bớt cháy.) Thế là tất cả chạy tới để chữa cháy.

Phương tiện lúc đó thật thô sơ chỉ có thùng gánh nước. May quá, chỉ bị cháy nhà và ít dồ đạc chứ không có ai bị chết. Nhà lúc bấy giờ do mới đến và tôi vẫn nghe người lớn nói “chỉ ở tạm rồi sẽ quay về Bắc vì nhà cửa còn ngoài đó.” Thế mới biết cha ông mình yêu quê hương như thế nào! Vì thời cuộc phải rời bỏ quê hương, nhưng ngày đêm không bao giờ quên nơi chôn nhau cắt rốn! Lúc đó, muốn gởi một thư về Bắc phải gởi qua Pháp, có nhiều cụ chưa được trở về quê xưa thì đã ra đi!

Một trận cháy nhà nữa xảy ra ở khu ngã ba Trị An bây giờ, cũng khoãng tối đang giờ chầu nghe hô cháy thế là mọi người lại kéo lên. Lúc đó cháy rất mạnh vì có cả những thùng phuy xăng dầu, làm thiêu hủy nhà bà giáp Nhã và bà Kiền. Ở quê mình thời bấy giờ rất dễ cháy, hầu hết nhà cửa đều làm bằng cây lá: Nấu cơm lấy giẻ bắt nồi cơm vô tình để giẻ chạm vào than hồng nhét giẻ vào vách hay mái nhà chỉ thời gian ngắn thế là phát lửa, hay cháy rừng tàn bay lên mái nhà cũng cháy, trẻ nhỏ nghịch đốt rác gió tạt bay lên mái nhà cũng cháy, nhất là trong mùa khô.

Khoảng năm 1961 lúc bấy giờ có chưong trình ấp chiến lược: Sau khu nhà dân ở có đào lỗ khoảng 80cmx 80cm xem kẽ nhau và trong là hàng rào kẽm gai, nếu có đường đi, đều làm cổng và sau các khu Đông Bình, Tây Lạc có đắp ụ cao cũng có hàng rào, bây giờ đã san phẳng hết, cũng khỏang năm 1962, lúc đó hai nên quốc lộ cũng có hàng rào và nếu có báo động gì thì ngoài đàn ông con trai, có cả đàn bà trẻ con ra hai bên đường với gậy và đá, lúc đó hình như thời Thủ Tướng Phan Huy Quát, Phan Khắc Sửu(?)

Những trận cháy xảy ra năm 1975 chắc nhiều người còn nhớ làm thiêu rụi nhiều nhà sau thôn Bắc Hợp, Đông Bình và dãy nhà bên trường Minh Đức làm chết bao nhiêu heo gà nhưng may quá không có ai chết nhưng cũng thời điểm này có ông Bút, ba cô con ông bà Viu, đã ra đi khi hoà bình đến, nhắc đến chiến tranh chúng ta cũng nhớ đến những người đã nằm xuống trong chiến tranh như năm anh nghĩa quân với mộ hình chiếc tàu, anh Đệ bị thương nặng, anh Thanh, a. Đương, a. Đường, a. Thắng, a. Vịnh, a. Nhuận, Hòa, Toàn, Bân. Năm 1974, sau trận pháo có con ông trùm Thép và con ông Phòng, chị Nhàn (Thơm) bà…(chị bà Dậu) cũng ra đi vĩnh viễn, bị thương có a.Huy….và còn nhiều nữa không nhớ hết được, xin thắp lên nén nhang lòng để cầu nguyện và tưởng nhớ đến quý vị và theo thiển ý Bùi Chu có như ngày hôm nay cũng phần nào do sự đóng góp máu xương của quý vị.

Nhắc chuyện chiến tranh hoài cảm thấy cũng buồn, nói đến chuyện khác vậy, nếu đồng hương nào đã từng học ỏ Bùi Chu, Minh Đức không thể quên được kem và kẹo kéo ông Lộc (hình như ông ở Ngũ Phúc), kem thì lúc đó cả “bẹ” mua đến đâu cắt đến đó cắm cây (chẻ bằng tre) vào nếu miếng to thì cắm hai ba cây, đám nhỏ đãi nhau nhiều khi cho nhau cắn miếng, do cắn tham nên làm rớt cả miếng kem và nhiều trận cãi nhau, đánh nhau, kẹo kéo cũng vậy cho cắn miếng và lấy tay làm cỡ nhưng cắn tham cả vào ngón tay thế là nhiều lúc cười ra nước mắt, viết đến đây còn nhớ sau trường Minh Đức còn có “vườn cộng đồng” để dạy học trò làm vườn, trước sau có mấy cây phượng, đến mùa hoa đỏ báo hiệu “mùa xa nhau” rồi sau đó hái trái ăn cũng thú vị lắm, sau nhà thờ cũng có vài cây phượng rất lớn, nhưng nay đâu còn nữa, thánh đường cũ, mái trường xưa nay còn đâu, chỉ là những ký ức, hoài niệm!

Sau giờ học thường chơi bi, thôi thì bắn đủ kiểu nam, bắc vào lò, nếu thắng sẽ được ăn bi, khi ăn đầy túi thì bắt người thua cõng rồi cho lại ít, lúc đó mà có bi rằn trắng đỏ, xanh (bi Mỹ) thì quý lắm, chơi nếu thấy viên bi nào cho nhiều bàn thắng thì cho là hên và cứ giữ hoài. Chơi găng (khăng) cũng vui đáo để: Chọn khúc cây vừa ý mang về bào tròn nhẵn cắt thành hai khúc dài và ngắn một phần ba, mang ra chỗ đất cứng khoét lỗ vừa bằng cây khăng, rồi cùng chơi với gảy, táng, gà lấy cây dài đo thước tính điểm và bên kia đứng đón bắt nếu không đưọc sẽ phải cõng, nếu không chịu cõng thì trả bằng kem hay kẹo kéo, xi rô vv. Chơi quay cũng thú vị, quay phải đẽo bằng cây gỗ sầm mới cứng “và khi bị hầm, bổ mới không bị lãnh thẹo”

Ban ngày cứ để ý dãy ba gết (cây rừng to khoảng cổ tay và được chặt dài khoảng 80cm-1m xếp thành dây bán cho người ta chở về tỉnh thành làm chất đốt) có cây sầm nào, đến tối đi rút lấy có khi làm sập cả dây củi! (khi xếp họ cũng xếp chéo, ghệch lên nhau và lỏng để đỡ tốn) cây gỗ mang về lấy cưa kê lên ghế ngồi chân đạp lên cắt khúc ra có khi cắt cả vào ngón chân và ghế!!! Sau đó đem đẽo nhiều kiểu hai đầu, đít nhọn, đít bằng rồi thử và nếu vừa ý lấy đinh cắt đầu đóng vào và mài bằng đá hay nền xi măng cho nhọn hay để vậy tùy, còn đẽo thì phải dao nặng, dao quắm cán dài khó đẽo thì phải kiếm cách làm sút cán ra, thế là cũng có khi bị bố đánh, dây quay thì bằng dây dù, lúc đó cứ ban tối có trái sáng thì sáng sớm ra khoảng khu trường cấp ba bây giờ, chỗ rẫy ông trùm Vỹ, thế là nhặt dù mang về chơi, có khi nhặt được dù có dây ngứa: tha hồ mà tắm và gãi.

Chơi quay thì vẽ vòng tròn và oản tù tì và ai thua bỏ quay vào, còn nếu chọi mà quay chưa ra khỏi vòng thì bỏ vào có khi “canh ty” thì cứ “hầm nhừ” nhiều đứa bị khóc, lúc đó có bà con ở tỉnh về cho con quay tiện bằng gỗ cẩm lai thì qúy lắm. Cũng những trò chơi với vật liệu làm bằng gỗ thì còn có những xe cần cầu tự làm bằng khung gỗ và bánh xe thì làm bằng gỗ cứng cắt khoanh sau đó dùng dùi nung đỏ đục lỗ (lúc đó khoan nhỏ hiếm lắm chỉ có khoan viện trợ lỗ lớn để khoan đầu cột, kèo, cũng rất quý) rồi cứ kéo trong đường hẻm chơi.

Sau này có sân tập bắn, khu chợ bây giờ lại kéo nhau đi nhặt cắt tút (vỏ đạn) miếng đồng về bán lấy tiền để dành và ăn kem. Hay nhặt ống bằng giấy dầu về đục lỗ nhỏ gần cuối sau đó cho đất đèn (dùng để rấm /dú chuối) đổ vào chút nước đậy nắp kín lại hơ lửa ở lỗ thế là “đùng” nổ và nắp bay lên cao, sau này còn lấy dù cho vào bay lơ lửng coi rất vui nhưng lúc đó có ông ký Viên với bộ bà ba đen và chống gậy, thấy con cháu chơi nguy hiểm ông cấm, nên khi ông đến thì đám trẻ bỏ chạy. Ở xóm rau muống có anh em T. chế cả súng bằng gỗ, nòng súng bằng vỏ bút nguyên tử, kim hỏa bằng kẽm cứng, dây thung làm đồ căng, lấy viên đạn carbine tháo bỏ hết chỉ còn hạt nổ ráp vào bắn cũng vui, thừa thắng xông lên quân ta tháo lòng đổ ít thuốc và ráp đầu đạn vào bắn chim, lúc đó thằng nào cũng đòi bắn nhưng T. giành “của tao” thế là đoàng” kim hỏa giật lại téc giữa ngón tay cái và trỏ (may không vào mắt) chạy về nhà lấy nước muốì, kim chỉ ra ngâm và rồi tự khâu, giấu tay không thì bố đánh, vậy mà như có phép lạ vài ngày sau lành lại, và rồi rủ nhau làm nỏ dây thung làm bằng ruột xe đạp.

Ruột xe gắn máy là tốt nhất nhưng rất hiếm, nỏ cưa bằng gỗ hay bằng sừng trâu, dễ nhất là lựa cành ổi nào có chạng và đuôi kia làm bằng vỏ trái banh để kẹp đá hay cục sắt bắn chim. Bắn được chim ra vườn vơ ít lá cây và cành cây đốt lửa lên nướng (cặp chả) thế là chấm muối ăn ngon đáo để. Lúc đó, lại lên rừng sau suối nhưng đi sâu vào sợ gặp “cậu ba.” Cũng có khi rủ nhau vào khu cầu một hái táo rừng, quả xim, mây, về sau ra khu Phú sơn, chỗ trồng bobo rất nhiều chim. Phú sơn khi mới thành lập có dãy nhà làm bằng gỗ lợp tôn đối diện nhà thờ bây giờ) đi đã nóng lại đến vũng voi đằm (nghĩa địa bây giờ) tắm, tuy nước đục ngầu nhưng vẫn thấy thú vị, quần áo ướt át, về đến khu lò than Tây lạc hay Đông bình cởi ra đắp lên lò than là mau khô nhất.

Bùi Chu khi mới thành lập đất rộng nhà thưa nhà nào cũng trồng ít cây ăn trái, “trẻ trồng na, già trồng chuối” nhà nào cũng có chuối, na, vú sữa, ổi, cả cây chóc tây, khoai lang đầy vườn. Nhưng những vườn ổi có tiếng ngon là của nhà bà phó Khuê, bà xã Tường, ông trùm Tạm, ông trùm Tâm có cả vườn cam nhỏ ở suối cúng, đám trẻ chúng tôi khi thèm cứ rủ nhau đi và hái trộm, khi đi nhớ mang theo muối ớt, cũng có hôm “thất bại” vì chủ biết canh chừng, đành quay ra kiếm “dái mít” ăn đỡ ghiền! Viết đến đây cũng xin quý ông bà bị mất trộm trái cây tha tội cho “lũ quỷ”, cũng có thời rủ nhau xuống mãi suối đỉa để tắm đi bằng xe lam, còn lúc về cũng xe lam nhưng không trả tiền, chờ xe lên dốc Tân thành chạy chậm thế là nhảy xuống chạy vào hẻm ra lối suối thế là về nhà!

Đến đầu mùa mưa lại đi bắt dế về chọi, cứ chiều về kiếm cỏ ủ chỗ nào đó sáng sớm đi lễ về thế là chạy lấy cóng long ra lật lên bắt, có đủ cả dế nghệ (vàng) than (đen) và dế mái mang về vặt đầu làm mồi nhử. Có những con dế to như ngón tay đá rất giỏi, thế là làm chuồng đưới đất hàng rào bao quanh có cả hầm hố. Đi hái rau sam về cho ăn, nghe dế kêu inh ỏi quanh nhà cũng vui tai, chia phe bắn nhau bằng súng gỗ, đào lỗ lấp giữa đường để bẫy mấy chị đi giầy cao gót, dựng cây chuối cho đội nón trước nhà ngưòi khác, khu suối rau muống lúc đó còn hoang hoá, có nhiều vũng cứ thế là câu cá, có nhiều cá lóc, cá trê, cá trắng, người lớn có khu tát đìa bằng gầu dây, bắt hàng bao cá, còn đám nhỏ thì đi “hôi” hay tát những vũng nhỏ để bắt cá nhỏ, bỏ vào nướng hay luộc ngay với chậu tát nước chấm muối ớt cũng đã them! Đến tuần thánh làm hang đá vói hàng rào mía, cây nêu cao cuối nhà thờ có đèn, từng xóm rước kiệu với hàng chục mâm nổ đến viếng xác, hôm chân Chúa để bốc nổ, ngắm nhân tài, đóng đinh, táng xác Chúa, cũng thấy vui vui.

Những trò chơi, tục lệ cũ nay gần như không còn, lớp trẻ bây giờ vui chơi với computer, cần gì thì đi mua (có tiền sẵn hơn) chứ đâu có phải tự chế, hay vì “thèm mà phải đi ăn trộm vặt.” Đây cũng là những hoài niệm để ôn lại những chuyện đã xảy ra như để nhắc nhở nhau cùng chung tay xây dựng quê cha đất tổ ngày tươi đẹp hơn.

Viết để nhớ về Bùi Chu

Nghề ‘Đóng móng bò.’ Trần Văn Quỳ.

Một nghề mà chắc gần như đã mai một hẳn, một nghề mà con dân xứ Bùi Chu này, giờ nghe đến đã tưởng là chuyện trong cổ tích, do cha anh kể lại cho vui! Nghề được nói đến, đó là nghề ‘đóng móng bò.’

Tôi được sinh ra và lớn lên ở Xóm Lò than, xứ Bùi Chu, Hố Nai, thuộc Tỉnh Biên hòa cũ.

Tỉnh này ở khu vực miền Đông Nam Bộ, là một tỉnh có nhiều đồi núi và rừng rậm.

Những thập niên 50, 60, dân cư trong vùng và trong xứ Bùi Chu (nói riêng), chủ yếu sinh sống bằng nghề ruộng rẫy và khai thác lâm sản (gổ, củi và sản vật khác ở rừng). Nhưng ngày đó xe hơi (ô tô) vận chuyển còn hiếm và rất ít. Nên nông dân sử dụng sức kéo bằng trâu, bò, để dùng làm kế sinh nhai. Do đó, tôi xin kể lại vài nghề có liên quan đến việc làm ăn của dân chúng quê tôi.

Nhắc như thế, để tôi có cớ mà kể cho bạn đọc về một nghề, một nghề mà bây giờ chắc không còn tồn tại ở vùng này nữa! Một nghề mà chắc gần như đã mai một hẳn, một nghề mà con dân xứ Bùi Chu này, giờ nghe đến đã tưởng là chuyện trong cổ tích, do cha anh kể lại cho vui! Nghề được nói đến, đó là nghề ‘đóng móng bò.’

Sao bò lại phải đóng móng nhỉ? Thưa vì bò ở xứ này dùng để vận chuyển, móng của nó cũng là lớp xương bọc. Đi trên đường rừng, đường đá, đường đất. Không đóng lớp móng sắt dưới đế để bảo vệ, móng bò dễ bị tét, bị hư, bị hà. Do đó, người ta mới dùng sắt đóng vào móng để móng bò bền hơn. Tôi không biết từ lúc nào người ta đã nghĩ ra nghề này. Và không biết nghề này có từ khi nào nữa?

Khi tôi lớn lên chỉ thấy trong xóm mình ở có 01 cái chuồng nho nhỏ, (về sau mới biết là chuồng dùng đóng móng bò.) Chuồng làm rất đơn sơ. Có 04 cây cột chôn xuống đất, chiều dài khoảng 02m ngang khoảng 1m50. Để kết nối người ta dùng 04 cây gổ đóng liên kết với 04 cột, còn bề 1m50 từ mặt đất lên khoảng 0m50 họ đóng 02 cây ngang và 01 cây đứng làm trụ giửa để giử đầu con bò. Phần phía trên ở giữa họ dùng một cái tời bằng dây xích để nâng con bò lên. Khi bò được nâng lên khỏi mặt đất bằng hai đai bản lớn, để bụng bò êm hơn. Bốn chân bò không tiếp đất, bò bị hổng cẳng vừa đủ độ cho bác thợ thao tác. Còn các chú bò của chúng ta cũng biết thân, biết phận, vì cũng đã quen, nên tha hồ cho bác thợ muốn làm gì thì làm.

Đầu tiên, ông thợ làm móng kéo cái ghế ngồi gần cho khỏi mỏi. Bên cạnh ông là bộ đồ nghề đựng trong cái thùng gỗ nhỏ có tay quai cũng bằng gỗ đóng ngang. Trong đó, có kìm bấm, búa, dũa và không thể thiếu những cái móng sắt và những loại đinh đặc biệt. Bác thợ gác chân bò lên kệ, dùng kìm bấm cắt đinh cũ để gỡ những cái móng mòn ra, xem xét cái móng bò. Đưa dũa sơ qua những chỗ móng hư, chọn bộ móng cho vừa cỡ, rồi đóng móng mới vào bằng những chiếc đinh nhọn hoắc thâu qua phần móng và bẻ quặp đinh lại cho đinh khỏi bị sút ra. Cứ thế, từng chân một. Ông thợ chuyển đồ nghề đến chân kế tiếp. Xong bốn chân, từ từ thả bò ra khỏi chuồng.

Ngày thường, chuồng đóng móng để không, mặc cho bọn nhóc vào chơi leo trèo mặc ý. Ngày Chủ nhật, ông thợ không biết từ đâu mới xách đồ nghề xuống, phục vụ cho những chủ nhân trong ấp có bò mang đến làm móng. Nghe đâu những ngày đầu. Khi chưa có cái chuồng đóng móng này. Dân ta phải dắt bò đi xa lắm mới có chỗ để làm móng cho bò.

Hình như Xứ Bùi Chu, có hai nơi đóng móng bò. Một ở xóm tôi, một ở trước cửa nhà ông hai Sắc, cả hai nơi đều phục vụ cho những chủ bò của xứ Bùi Chu và các ấp kế cận như Bắc Hòa và Tân bắc.

Những người thợ đóng móng, họ từ Biên Hòa xuống, hay là cả từ bên Bình Dương qua. Với những thời gian nhất định. Cần thiết để các chủ bò đưa bò đến để thay móng cho bò. Đọc đến đây, chắc chẳng ai còn có thể kiếm được khu nào đóng móng bò ở gần khu vực mình nữa. Một nghề của thời xa lắc, xa lơ.

Nguyễn Đức An kể chuyện Lò than ‘Lu’

Cũng gọi là lò than, nhưng lò than ‘lu’ (lò xây vòng tròn) ở Thôn Đông Bình, khác với lò than phát hỏa hình chữ nhật mà anh Minh đã viết ở Thôn Tây Lạc, Nam Hòa và 1 vài chổ khác trong Ấp Bùi Chu.

Tại sao lại gọi là lò than lu? Thưa vì khi xây xong trông nó giống như một nửa cái lu ló trên mặt đất. Lò than lu này phải xây rất kỹ thuật, xây bằng gạch đất, xây từ dưới lên trên, cứ xây vòng vòng càng lên càng thu nhỏ lại, thành hình vòm, nó bầu bầu không xuôi thẳng như nón lá. Lò được đào sâu xuống lòng đất 2 mét, đường kính 5 mét, vòng tròn, phía dưới xây bằng loại gạch dầy, mỗi cục có kích cỡ 10 phân, rộng 20 phân, dài 30 phân, có xây 1 cửa lò để dùng đưa vào củi, cũng như dỡ than thành phẩm ra. Cửa được xây cao 2 mét, bề ngang 1m 50, sâu như thế nên phải đào 1 cái hố thẳng vào cửa, có xây bậc nấc thang đi xuống. Cách cửa lò 1m 50 cũng xây một lổ ngang 1m 50, sâu vào 1m 50, làm bép lò để đưa củi vào đốt, cũng giống như cửa lò, bép cũng có 1 cái hố xây nấc thang hẳn hòi để đi lên đi xuống, để người trông coi việc đốt hầm than họ đốt đun củi như đun bếp.

Đó là nói về phía mặt lò, còn vòng phía sau có làm 4 cái lổ chia đều ra, để thoát hơi khói lên, gọi là ống khói, mỗi ống 15 phân, còn phía trên xây bầu lên cao 3 mét, cũng bằng gạch đất, với kích cỡ gạch dầy 5 phân, ngang 16 phân, dài 30 phân, trên đỉnh chóp có để ra 1 cái lổ đường kính 20 cm, cho thông hơi khói lên, mỗi lò như vậy xây hết từ 4 ngàn đến 5 ngàn viên gạch. Còn nói về công việc đóng gạch xây lò, phải nói là lúc đó do gia đình ông trùm Bính, ông Giáo Tuy, Thầy Cần và một vài gia đình trong xóm vv. đảm nhận. Vì họ rất là khéo tay đúc gạch, mặc dù từ bé đến lúc đó chưa có ai làm công việc này bao giờ, chỉ được dẫn đi xem người ta làm rồi về tự chế khuân rồi làm lấy.

Ở khu đất trạm xá có 7 cái lò than lu của ông Quận, bên cạnh đó nhà ông ký Dư 1 cái, đầu bên kia nhà ông cụ Sa 2 cái, sau đó là nhà ông qũy Hạnh, dài tới nhà ông Tuân (Việt) Tư Bê, là 3 cái của bà phó Hãn, và phía bên nhà máy cưa cũ có 5 cái của ông Đương. Củi cho vào lò được xếp dựng đứng, đúng với kỹ thuật và không chặn đường lửa đi quanh trong lò, ở trên củi được xếp ngang cao cho tới nóc. Củi được công nhân mang vác xuống hoặc chế cái máng dài như cầu tuột, cho củi tuột xuống nhẹ nhàng, số lượng củi cho vào lò khoảng chừng: 50 mét khối, khi hầm đốt xong, cho ta được than thành phẩm là từ 7 tấn rưỡi cho đến 8 tấn than, dĩ nhiên là phải lựa củi tốt và chắc, mới cho ta số ký đáng kể.

Sau khi cho củi vào lò rồi, cửa lò được bịt kín lại và bắt đầu đốt bếp ở bép lò, củi đốt cũng được chọn, đây là củi tạp, hạ cấp hơn củi làm than, thời gian đốt là 25 ngày đêm, hết chừng 15 thước củi, luôn luôn giữ độ nóng, củi chắc thì cháy lâu tàn và có than hồng trong bép, về phần việc đốt củi đun vào bép lò ngày đêm, do thợ chuyên nghiệp canh khói. Ngày đó, ở khu vực này, công việc đốt và canh khói lò than được thầy Cần và ông Giáo Tuy thay phiên nhau đảm trách, đến ngày thứ 26 là tắt bếp, để tắt bếp, người ta cho cháy hết củi xong dùng gạch xây vít kín bép lại, và cũng bít luôn 4 lổ thông hơi, trong 10 ngày sau đợi nguội bớt, người ta quậy đất với nước, không lỏng, không đặc rồi trét đều khắp phía ngoài mặt nổi của lò, dân trong nghề gọi là ‘tắm’, họ tắm cho lò làm 2 lần, việc tắm lò rất cần thiết, cần phải làm để bảo quản cho lò không bị nứt, mau nguội và để giữ độ bền cho lò và để sử dụng lò tiếp tục nhiều lần về sau.

Lò than lu xây rất tốn kém và thời gian xây lâu hơn, bù lại, nó mang cho người chủ nhiều lợi tức hơn vì thành phẩm của nó đem lại nhiều hơn lò than nhỏ.

Marseille 1/08.

Viết để nhớ về Bùi Chu.

Nguyễn Đức An

Nghề lột vỏ cây Sắn Vừng.

Tôi đã đọc lại bài Xóm lò than (Khu Tây lạc) của anh Trần Văn Minh đã viết rất đầy đủ, nay chỉ xin bổ sung đôi điều mà mình biết về xóm mà mình đã được sinh ra và lớn lên ở nơi này.

Nghe Bố tôi kể rằng nghề hầm than (dân di cư gọi là đốt than). Được dân miền Tây (Cà Mau và Rạch Gía) mang nghề nay theo từ quê mình lên, vì nghề này ở miền Tây có rất nhiều cây đước, mà than đước thì rất tốt, tốt nổi tiếng cả nước vì than chắc, cho nhiều năng lượng không kém than đá. Những di dân này tới Hố Nai, họ thấy cây rừng rất nhiều cây tốt, có thề đốt thành than, nên mới cắt về mà hầm than. Cách thức hầm than thì anh Trần Văn Minh đã viết rất chi tiết tôi không nhắc nữa. Chỉ minh xác thêm là nghề này được du nhập từ miền Tây.

Giờ xin kể về một nghề nữa, mà nghề này chắc đã tiệt chủng từ lâu lắm rồi, đó là nghề lột vỏ Sắn vừng. Sắn vừng còn có tên nữa là cây Lục vừng, lá to như bàn tay, ở vào thập niên 60 của thế kỷ trước, lúc đó rừng còn nhiều, nhưng do khai thác theo yêu cầu của lái buôn cây, những thứ họ yêu cầu có khi ngoài tầm tay với của thợ rừng, do đó mà nhiều người phải ngồi chơi không.

Rồi có một thương buôn ở Sài gòn lên xóm này tìm mua vỏ sắn, họ chỉ cho biết cây và cách thức lột vỏ, thế là cả xóm đi tìm cây sắn vừng mà chặt hạ để lột vỏ, vỏ lột xong bó lại mang về bán cho ông ta bao nhiêu ông cũng mua hết. Nhờ có thêm nghề này giúp cho cả xóm có việc làm nên có ăn có mặc nhiều năm liền. Những năm 60 đó, ngư phủ VN mình đi đánh bắt cá ở biển tất cả lưới cá được làm bằng sợi vải chi đó, nên rất cần vỏ sắn này dùng để nhuộm chống hư hỏng, vì vỏ Sắn vừng có chất bám dính bao bọc cho sợi chỉ khỏi ẩm mục và tăng thời gian sử dụng. Nên vỏ cây Sắn vừng được trọng dụng.

Nhắc lại nghề này, tôi lại nhớ đến cả xóm tôi do không hiểu luật sinh tồn của cây cối, vì như sau này ai cũng biết cây sắn là loại cây lột vỏ của nó ra là nó tự ra một lớp vỏ khác thay thế. Nhưng đầu tiên do dân ta không biết, nên cứ gặp Sắn Vừng là cưa hạ tất tần tật để lột vỏ. Nên càng về sau, dân vừa phải đi xa, mà cây cũng trở nên hiếm hoi mới tìm được! Về chất lượng vỏ cây này nguyên thủy hay thu hoạch lần đầu vỏ của nó rất tốt, khác với vỏ tái sinh, chất lượng kém hơn. Ngoài ra cây Sắn Vừng còn có lá của nó dùng ăn bánh xèo rất ngon.

Đến giờ nhắc lại nghề lột vỏ Sắn vừng xưa của xóm, là để nhớ lại một loài cây rất hửu dụng, và một ngành nghề đã một thời mọi người trong xóm phải làm, một nghề đã nuôi sống bao người trong thôn xóm. Rất tiếc, bi chừ loại cây ân nghĩa này nay rất khó tìm, hay nói cho đúng là nó không còn nữa, ít ra là cũng ở khu vực Bùi Chu và vùng phụ cận này, vì sao? Câu trả lời rất đơn giản là vì sự tàn phá vô ý thức của con người.

Trần Văn Quỳ

Rau muống, món đặc sản của Bùi Chu.

Lúc sau này, để trêu chọc, đùa cợt nhau, người ta đã làm thành câu tục ngữ:

“Ai ơi đừng lấy Bắc kỳ
Nó ăn rau muống, nó lì như trâu”

Chẳng biết ai ra sao chứ tôi ăn rau muống từ bé, cũng mong được vậy, sao cũng chẳng thấy lì hơn tí nào. Câu ca trên nay không còn mấy khi nhắc lại nữa. Bây giờ cả nước “nó” ăn rau muống chứ kể chi riêng Bắc Kỳ.

Nói về Bùi Chu mà không nói về rau muống thì thật thiếu sót. Người trồng rau phần lớn sống ở khu Bắc Hợp, nên xóm này còn có tên là Xóm Rau Muống. Rau muống Bùi Chu một thời nổi tiếng. Không những có mặt khắp các chợ quê vùng Hố Nai mà còn được đem đến các chợ xa như vùng Hưng Lộc, Dầu Giây thậm chí cả Thủ Đức, Sài Gòn nơi có nhiều người gốc Bắc sinh sống. Có những người tận Bảo Lộc, Lâm Đồng đi buôn bán ngang qua, tuy ở xứ sở của rau, nhưng cũng ghé mua về ăn hoặc làm quà.

Các “đại gia” về rau muống Bùi Chu phải kể đến là: Bà Xã Tường, Bà Tuật, Ông bà Phần Tình, Ông bà Tạo, ông bà Hiệt, Ông bà chánh Hứa, Bà Bốn, ông bà Quý, ông bà Phần Biệt, ông bà Cừ, ông bà Trùm Na, Ông Bà Khoạn, ông bà Nhiêu Chu… Phần lớn hiện nay không còn trồng rau muống nữa. Một số đã “đoàn tụ với ông bà”, một số định cư ở nước ngoài, những người còn lại thì đã già yếu nên để ruộng lại cho con cháu hoặc bán cho người khác.

Để có những mảnh ruộng vuông vức, xinh xắn như ngày nay là kỳ công của lớp người đi trước. Biết bao mồ hôi đã đổ ra. Những năm đầu định cư, họ đã phải đào đắp đất bằng tay, khối lượng đến hàng trăm ngàn mét. Đất, cát để đắp bờ, đắp đê được vận chuyển trên những cái cáng nhỏ làm bằng bao cát, bao tải …

Dân Bùi Chu trồng, chăm sóc và thu hoạch rau theo một cách đặc biệt, chẳng nơi nào giống được.

Trồng và chăm sóc rau muống cũng không khó lắm. Trước tiên là cuốc ruộng. Cứ sau vài nhát cuốc lại phải dùng chân đạp cho cỏ dí xuống, cho đất nhão thành bùn, vừa tốt ruộng vừa dễ cấy rau. Rau muống được trồng từng bụi 2 ngọn. Không cần phải thẳng hàng như cấy lúa nhưng phải giữ khoảng cách thích hợp.

Rau mọc nhanh, trùm gần hết đất nên cỏ mọc rất ít. Làm cỏ cũng không tốn nhiều công lắm. Ngoài ra còn phải làm cỏ bờ xung quanh ruộng, đàn bà thì thường dùng liềm để cắt, đàn ông khoẻ hơn, dùng dao phát hết một lượt rồi quay lại vơ sau.

Phân bón chủ yếu là phân bắc. Vừa không mất tiền vừa tốt ruộng lâu. Không hiểu ngày ấy sao ăn rau mà chẳng ai để ý đến giun sán gì nhỉ? Hằng ngày trên đường xóm, người qua lại thường gặp những đôi thùng phân kẽo kịt gánh ngang. Bất giác cũng phải nín thở vài giây. Nhu cầu mướn gánh phân thuê nảy sinh. Ở Bùi Chu không ai qua mặt Ông Dụng (Ở đối diện nhà thờ Vân Côi) về cái khoản này. *Trước có ông Phách, đang đi trên đường mà gặp người gánh phân đi qua cũng kể là một sự khổ sở cho cái khứu giác. Chúng tôi hay đùa gọi nhạo là nước hoa Thanh hương của nhà anh Nguyễn Văn Mười Hai!

Khoản trừ sâu thì dân rau muống Bùi Chu có kiểu làm rất độc đáo. Không bao giờ phun thuốc. Họ lấy nước ngập đầy các ô ruộng. Sâu, bọ rầy (gọi là con Muội) nổi hết trên mặt nước. Chừng 2-3 người lội xuống, dùng chậu nhỏ để tạt nước hay lấy luôn chiếc đòn gánh để gạt, dồn sâu rầy vào một góc ruộng. Dùng vợt được may từ bao cát Mỹ để vớt sâu rầy lên, lấy chân đạp nhiều lần cho chết rồi đổ luôn xuống dòng suối nhỏ bên cạnh.

Khoảng hơn 20 ngày đã có thể thu hoạch một lứa. Năm, sáu lứa sau rau sẽ tự mọc không phải cấy lại.

Rau được ngâm nước trước 1-2 ngày trước khi hái. Việc ngâm nước giúp rau ngoai dài hơn, non hơn. Phải thức dậy đi hái rau từ 1, 2 giờ sáng. Mang theo liềm, đèn bão hay sang hơn thì đèn Măng-xông để treo đầu bờ. Khổ nhất là phải thức dậy trong cái lạnh mùa Noel và cuối năm âm lịch. Cũng may, khi ngâm mình trong nước cũng cảm thấy ấm hơn tí chút. Mọi người lặng lẽ cắt rau dưới ánh đèn leo lét.

Khoảng 2 chẹt tay được cột thành 1 bó dèm dẹp. Cột rau bằng cỏ tranh đã giũ sạch, phơi hơi heo héo cũng là phát minh của dân Bùi Chu. Vừa rẻ, vừa thân thiện với môi trường.

Hái xong, rau được chất vào đôi quang để gánh ra đường. Sớm mai, trên đoạn đường quốc lộ qua xóm, tiếng người nói, tiếng xe Lam, xe đò chờ đưa rau đến các chợ xa tạo thành những âm thanh rộn rã, nghe rất riêng, rất Bùi Chu.

Chế biến rau muống theo kiểu Bùi Chu không cầu kỳ lắm:

Rau muống luộc chấm nước mắm chanh. Khi luộc bắc nồi nước lên bếp, chờ nước sôi mới bỏ rau vào, cho vào ít muối để giữ màu xanh của rau, thêm vài quả cà chua để làm nước “choảng”. Chế biến như sau: Giằm cà chua với nước luộc rau, thêm một ít mắm tôm, bột ngọt, vắt vào ít chanh đã trở thành món canh tuy giản dị nhưng ngon tuyệt vời. Đây là món canh chua đặc sản chan cơm ăn đến kềnh bụng, là món ăn trường kỳ của những người đi mở đất.

Rau muống xào tỏi nay đã trở thành đặc sản trong các nhà hàng. Những ngọn rau muống xanh vặt hết lá xào chung với những tép tỏi trắng đặt trên đĩa trông thật ngon mắt. Nhai nghe thơm thơm, giòn giòn , hấp dẫn vô cùng. Đãi món này kèm uống bia Heineken, mấy ông Việt Kiều về nước thích “tít” mắt.

Ngày nay do có khu công nghiệp nên nhà trọ cho công nhân mọc nên như nấm. Nước thải sinh hoạt đầy bọt xà bông và các chất tẩy rửa có nhiều hoá chất được xả thẳng ra suối nên đã phần nào ngấm vào ruộng rau. Việc chăm sóc cũng khác xưa rất nhiều, bón bằng phân hoá học, thuốc trừ sâu phun thẳng lên rau. Sự trong lành và tinh khiết không còn như xưa nữa.

Dù xưa hay nay, ruộng rau muống cũng là nguồn thu nhập chính của nhiều gia đình. Rau muống đã góp phần cho con em học hành thành tài, thậm chí còn đưa được một số người đến các nước Âu, Úc, Mỹ xa xôi.

Giáo làng.

*Biên tập thêm.

Xông răng.

“Cái răng cái tóc là góc con người.” Người ta đưa hai bộ phận của thân thể đều nằm trên đầu, chiếm đến một góc của con người nên nó được coi là khá quan trọng.

Thế nhưng trên thực tế, chẳng có bộ phận nào của con người, mà Thượng Đế sinh ra, lại không mang vác những trách nhiệm và bổn phận của nó. Thế cho nên, khi bộ phận nào hư như đau mắt mà ai đó mắc phải, thì cứ tự nhiên ca rằng: không có cái gì khổ cho bằng đau mắt! Ấy vậy mà người đau răng cũng đâu có khác gì mà không than như vậy. Tôi nhớ ngày còn nhỏ, ở đầu xóm có cụ bạ Viện, không biết cụ học ở đâu, hay do gia truyền mà cụ có nhận chữa răng sâu, răng đau bằng cách xông răng.

Ngày đó ở quê mình, cả vùng Hố Nai hình như chỉ có một ông nha sĩ (?) đâu nhớ như là ông Nguyễn Xuân Khu nhà ở dưới dốc Bắc Hải một chút, ở trên triền dốc, có bảng hiệu đàng hoàng. Còn lại, có một người đi nhổ răng dạo, ông có cái thùng đồ nghề giông giống như người thợ hớt tóc dạo vậy. Xuân Thu nhị kỳ ông đi qua xóm rao: ai có răng sâu, nhức răng, nhổ răng đây.. Tiếng rao làm cho mọi người sực nhớ tới cái góc con người của mình, hoặc người thân trong gia đình, cần phải chăm sóc mà ới ông thợ lại.

Người trong xứ, thuộc loại lang vườn, tay ngang hay học lóm được cách chữa nhổ răng, trong những lúc cấp bách, chữa như phần chữa về mặt tâm lý cho người bệnh an tâm thì có cụ bạ Viện.

Đồ nghề của cụ rất đơn giản, cái đĩa đựng một miếng sành đã được nướng cho thật nóng, một chút dầu hay thuốc chi đó, rồi một ít hột thuốc gì đó nhỏ như hạt mè (vừng), cái phểu mà trên phần đuôi được nối dài bằng một khúc ống nylong cho bệnh nhân ngậm vào.

Khi có người đến xin chữa, cả xóm biết liền, vì mùi thuốc là những hạt thuốc rắc trên miếng sành nóng như được rang lên, cháy, bốc mùi thơm ngào ngạt bay xa, nhờ nó mà kích thích tính tò mò, tôi cũng từng ra xem nhiều lần. Trên giường, hay dưới đất, bệnh nhân ngồi cúi mặt, miệng ngậm ống từ đuôi phễu, mà cái phễu đã được úp trên cái đĩa thuốc có miếng sành nóng, đã rắc mấy hột thuốc và chút dầu đang bốc khói nghi ngút, nóng hổi, phễu có nhiệm vụ hấng và dẫn toàn bộ khói và chất nóng vô miệng bệnh nhân.

Theo giải thích, khói nóng mang theo chất thuốc xông vào trong chân răng làm cho sâu trong răng bị thuốc và chất nóng giết chết, điều này không biết có đúng với khoa học không, nhưng người đang đau răng xông thuốc vào răng với độ nong nóng cũng cảm thấy dễ chịu đi đôi chút. Sau khi xông xong, cụ mở cái phễu ra, có vài cái vật gì coi như con dòi nho nhỏ, ông bảo sâu răng nó nóng qúa bò ra và chết rơi xuống theo ống xông? Điều này thì hẳn nhiên là không đúng rồi, vì những con sâu to thế kia thì răng lợi nào còn!

Giờ hẳn nhiên là nha sĩ rất nhiều, những ngày sau này có anh em của Huy và Liêm mở phòng răng gần cuối nhà thờ, kế bên nhà cụ bạ, và những người lớn tuổi cũng ít còn ai đi chữa răng theo kiểu xưa cũ nữa, và nghề xông răng không biết đã thất truyền chưa? Hỏi mà chẳng biết hỏi ai đây?

Nghề Vẽ.

Ở Bùi chu trước kia có ít người biết vẽ. Hình như, duy nhất có ông Lê Chấn Hùng là người cầm cọ để kẻ chữ và bảng hiệu. Ông cũng chỉ làm với tính cách tài tử, ai muốn kẻ chữ gì thì mời ông đến nhà với đồ nghề mang theo để làm theo yêu cầu của chủ. Thường thì ở quê tôi, người ta hay kẻ mấy chữ để vinh danh Chúa và Mẹ Maria trên bàn thờ như: Thiên Chúa là tình yêu, Nữ vương ban sự bình an vv. Họa hoằn mới có một vài cửa tiệm kẻ bảng cho công việc làm ăn kinh doanh.

1Sớm nhất có lẽ là tiệm đàn Thanh Cầm, rồi tiệm thuốc bắc Thái Hòa Đường của cụ lang Trạc, Nam Xương của cụ lang Xưng, Quất Lâm của cụ lang Riệm, tiệm may Đại An của ông phó Bằng, và may Vũ của anh Năm Vũ. Đấy là những nhà làm ăn có treo bảng còn những tiệm bán buôn, kinh doanh thường thường thì chẳng ai kẻ bảng. Ngày nay, buôn bán thì khác xưa là điều hẳn nhiên vì quê mình nay đã thành phố, nên bảng hiệu đều đều xuất hiện cùng khắp, đến trong xóm, trong thôn làm ăn giờ ai cũng treo bảng hiệu.

Có một lần, tôi được chứng kiến một người họa sĩ thật, ông Ngô Thế Sự ở Sài gòn được mời về vẽ bức phông sân khấu cho ban văn nghệ ấp, lúc đó do thầy giáo Hiếu bảo trợ thì phải, vì ông về nhà thầy, rồi ông mang bức phông lớn ra đình chợ để vẽ, bức tranh to nên ông vẽ cũng mất nhiều thời giờ lắm, nên chúng tôi cũng có dịp tò mò ra đứng coi.

Một họa sĩ amateur nữa mà tôi cũng được xem vẽ là cụ chánh Vân (trùm ô). Lần đó ông vẽ Chúa và các thiên thần, bức vẽ trên cót trần nhà, trang trí cho căn nhà của cụ lang Xưng. Cót được đặt đặc biệt theo kích cỡ vừa với gian nhà, và cót là loại ruột, không phải loại cót cật đễ dễ bắt mầu, vì cật cây luồng cứng và da nó trơn khó bắt sơn.

Sau năm 1975. Người họa sĩ với nhiều tranh là Cha Thanh, cha học vẽ để giải trí, những khi nhàn rỗi ngoài giờ phụng vụ. Ngài thả hồn vào những bức vẽ, bức dùng trang trí nhà thờ, bức để trang trí phòng khách, hoặc cũng có bức tặng cho những người thân. Trong các bức tranh trang trí nhà thờ, có một bức vẽ đầu Chúa với mạo gai, trưng để che khoảng trống ở dưới chân bàn thờ. Bức này không biết ai thấy trưng ở đó bất xứng chăng? Đã không vừa ý, họ rình và tháo bức tranh và đưa đi mất! Nghe đâu một thời gian sau phát hiện bức tranh dấu trong núi đá?

Có gia đình của ông Trần Minh Thứ, ở thôn Đông Bình, ông có hai người con trai rất có hoa tay là Trần Minh Tiến và Trinh, cả hai đều vẽ được, và vẽ rất đẹp, đặc biệt, là dù không qua trường lớp nào, các anh vẽ cũng rất có trình độ. Hiện nay, các anh vẫn còn vẽ, và coi nó như một nghề tay trái để kiếm tiền, như vẽ các chương trình, vẽ các trướng phúng điếu đám ma, trang trí đám đình và vẽ theo nhu cầu của khách hàng. Năm 2004, năm kỷ niệm ngân khánh 50 năm thành lập giáo xứ, anh Trần Minh Tiến cũng đã giúp giáo xứ trang trí lễ đài, Với một cây cổ thụ năm cành, tượng trưng cho 50 năm, rồi trang trí nhà truyền thống, cùng sắp xếp hình ảnh, tô điểm thêm, tổ chức phòng trưng bày triển lãm trong ngày lễ trọng đại này. Và đặc biệt hiện nay, Trần Minh Tiến còn vẽ kiểu cho Nhà mục vụ và Giáo lý của giáo xứ. Cả hai ngôi nhà trên đang được xây dựng, hy vọng hoàn tất trong Năm 2007.

Ngoài những nhân vật kỳ cựu của giáo xứ, hiện nay, Bùi chu cũng còn một số những nhà vẽ trang trí và quảng cáo hành nghề như anh em Khoa em của bà Năm châu (Thục) cùng những người từ nơi khác về thuê nhà mở hiệu làm quảng cáo như tại nhà anh Tuấn TV.

Cũng có những nhà vẽ trang trí áo dài như Nhật, làm ăn cũng tạm được vì đây là một nghề dịch vụ thời trang .

Xóm cố đôi.

Một vùng đất lành chim đậu, một vùng hoa trái trĩu bông, trong đó cây đức tin nở rộ, hứa hẹn mang đến cho giáo hội nhiều người thợ gặt nhiệt tình.

Tính đến năm nay, 2007. Trong tổng số 25 vị linh mục xuất thân từ giáo xứ Bùi Chu, thì có đến mười vị linh mục mà gia đình đã sinh sống trong thôn Đông Bình thuộc giáo họ Thánh Giuse, và đặc biệt hơn nữa là giáo họ này có đến ba gia đình, mà mỗi gia đình có đến hai linh mục. Đây là điều vinh dự cho giáo xứ nói chung và giáo họ Thánh Giuse nói riêng.

Trong ba gia đình đặc biệt kể trên. Gia đình đầu tiên chúng tôi muốn nói đến là Gia đình Cụ Cố Ngô Văn Bẩm, với sự hiến dâng lên Thiên Chúa hai người con thân yêu là: Linh Mục Ngô Quang Tuyên hiện phục vụ tại Tổng Giáo Phận Sài Gòn và Linh Mục Ngô Quang Quý đang phục vụ tại Numea. Kế đến là gia đình Cố Cao Văn Thức với hai linh mục là: Linh Mục Cao Sơn Thân và Linh Mục Cao Duy Linh. Cả hai đều phục vụ tại Nhật Bản, ngoài hai vị linh mục trên gia đình cố còn có hai Sơ Cao Thị Hoa và Cao Thị Dung thuộc Dòng Phan Sinh Việt Nam. Gia đình thứ ba là gia đình bà Cố Phạm Đình Hảo với Linh Mục Phạm Đình Hiện đang phục vụ tại Châu Phi và Phạm Đình Hiền thuộc giáo phận Xuân Lộc. Đầu tháng 11/2006 Linh Mục Hiền vừa nhận bài sai về làm chánh xứ Phát Hải. Cả ba gia đình đã sống tại giáo họ này kể từ ngày lập giáo xứ đến nay. Chưa kể đến gia đình ông bà Hoàng Cao Miên cũng có hai Sơ là Hoàng Thị Thiên Hoa và Hoàng Thị Thiên Thu cũng thuộc giáo họ Thánh Giuse.

Giáo họ Thánh Giuse tên cũ là thôn Đông Bình, một trong bốn thôn kỳ cựu nhất của ấp và giáo xứ Bùi Chu. Về địa lý, Đông Bình nắm về hướng Đông, Đông Nam của giáo xứ, nơi đây từ trước đến nay thường là khu công nghiệp của ấp, với nhà máy cưa, lò nấu và đúc nhôm và một điều trùng hợp thích thú là giáo họ hiện có nhiều cơ sở giáo dục nhất, vì hầu hết các trường sở của ấp đều toạ lạc tại vùng đất này, như: Trường Bán Công Minh Đức, trường Tiểu Học Diên Hồng, Nhà Trẻ Bé Ngoan và trường Mẫu Giáo Thạch Thảo. Biến cho ấp có sự cân bằng tự nhiên vì nếu như Tây Lạc là khu thương mại thì Đông Bình là nơi của giáo dục.

Một vùng đất lành chim đậu, một vùng hoa trái trĩu bông, trong đó cây đức tin nở rộ, hứa hẹn mang đến cho giáo hội nhiều người thợ gặt nhiệt tình.

Nhân nói đến những linh mục thuộc giáo họ, chúng tôi cũng xin kể ra đây những gia đình các cố đã hiến dâng những người con thân yêu cho giáo hội như:

Cố Đinh Viết (?) Tặng có Linh Mục Đinh Quang Thịnh.

Linh Mục Hoàng Văn Hinh.

Cố Đinh Văn Khiết có Linh Mục Đinh Tất Quý.

Cố Vũ Văn La có Linh Mục Vũ Hùng Lãm.

Ước mong với một giáo họ màu mỡ về đức tin, từ nơi này sẽ còn triển nở thêm nhiều thợ gặt, để được sai đến trên những cánh đồng truyền giáo mênh mông của giáo hội, mang lại niềm tự hào cho giáo họ, cho giáo xứ, và nhất là những gia đình với lòng hiến dâng cao cả, rất nhiệt tình với giáo hội.

Nghề Cò.. xe.

Nói cho có vẻ xưa cũ một tí thì: Vào hậu bán thế kỷ 20, (niên đại đồ gỗ) ở quê ta có một số người làm trung gian môi giới buôn bán xe gắn máy, mà ở thời điểm đó, được người ta gọi bằng cái tên ngồ ngộ là cò xe.

Để coi, có những ai nào? Khoa, Xuân, Lịch, Biên, Tâm (ruộng) Thử, Liêm và một vài tay không chuyên. Ở vào thời ấy, xe cộ chưa có đường vào Việt Nam, quanh đi, quẩn lại, chỉ cù cưa, cù nhầy cũng buôn quanh bán quẩn mấy cái Honda cũ từ xe nữ đến đời 66, 67, 68, 69, 70, 72 là hết. Ai có xe cần bán? Ai cần mua xe xin đến gặp một ai trong họ để nhờ giúp, họ sẽ tìm mối mua hay bán là có liền. Tuy chưa có điện thoại di động, nhưng những chân rết của họ nhà cò buả vây cùng khắp các địa phương. Hằng ngày, họ gặp nhau ở những quán cà phê để trao đổi thông tin cho nhau. Những chiếc xe họ đang có cũng sẵn sàng được bán nếu như được giá. Rồi những cánh cò bay lả, bay la đi khắp tứ phương thiên hạ để tìm mồi.

Cũng như các ngành nghề buôn bán khác, họ nhà cò cũng có những tiếng lóng để chỉ những tên hàng riêng biệt. Nên những người ngoài không biết, do đó mà tôi cũng mù tịt. Khi có mồi, họ nhà cò bay đến, nếu để mua xe, dân cò tìm những cái xấu để chê, còn những ưu điểm ngu gì mà nói. Chỉ khi nào bầy cò cùng rời con mồi ra đậu ở quán cà phê nào gần đó, cò nhà ta mới hội ý, mới mang con hàng ra bàn bạc tính toán. Còn như gặp khách mua thì ngược lại, nhà cò ta cùng đồng ca bản chỉ khoe những cái tốt của xe, còn cái xấu xa.. đậy lại.

Vào thời điểm của những ngày ấy, xe nào ngon lắm mới được hơn cây vàng, còn lại là nằm dưới khung giá đấy, xe mua về, đem ra tiệm, hay tự tu bổ lại, dặm sơn, thay dè mủ, phục hồi ống nhún, lau chùi, thay ron máy để chiếc xe sạnh sẽ, trông cho mát mắt và dễ đem gả hơn, nhưng thường là các cò tự tu bổ, vì ai cũng biết tí nghề. Một chiếc trừ chi phí mà kiếm được cỡ 1 chỉ hay hơn là họ nhà cò có chầu chiêu đãi nhau một bữa, có kèm thêm món… mặn.

Khoảng năm 1989. Có món hàng xe nghĩa địa tuồn ngang biên giới, xe cộ có nhiều hơn, và người ta đã bắt đầu sắm sửa, nhiều anh cò nhà ta đã lặn lội đi Tây Ninh, Châu Đốc để mò đến biên giới để mua xe rẻ hơn mang về để bán cho khách cần xe, công việc hơi phiêu hơn nhưng cũng dễ kiếm ăn hơn. Thế là thêm những từ cánh én, DD vv. Thêm vào dòng xe mới nhập, và họ nhà cò cũng có nhiều nguồn hàng cung cấp đủ yêu cầu cho khách hàng.

Lúc sau này, nhờ thị trường đất cát lên giá, người người làm ăn khá hơn, nhu cầu xe hai bánh nở rộ, nền kinh tế thị trường mang sức cạnh tranh cao hơn, lối làm ăn manh múm coi mòi không khá, anh em bỏ lối buôn bán cò con, mà cùng nhau chung vốn ra hẳn cửa hiệu để buôn bán xe hẳn hoi, những salon với những chiếc xe bóng lộn mới cáo chỉ, chất chật những căn nhà lớn lan ra cả những hè đường, chưa kể trong kho, nhiều lời hơn lời nhiều, nhờ đó mà thu nhập có khấm khá hơn. Những anh cò ngày trước nay nghiễm nhiên thành những ông chủ lớn. Như những người hiện thời, người ta không còn nói chuyện chỉ chỏ chi cho mệt, mà nói chuyện hàng chục, hàng trăm cây vàng như ta nói những chuyện bình thường như ăn và nhậu vậy. Gặp lại những anh cò ngày cũ, nay nhiều người trong số họ đã cưỡi xe con bốn bánh cẩn thận, ăn mặc nghiêm chỉnh, ra vẻ như các đại gia trong xã hội. Có ai cắc cớ nhớ nhắc chuyện xưa, những ngày đi làm cò, ai cũng ôn lại những mánh khóe cũ rồi ha hả cười, coi chuyện cũ đúng là nghề cò con..

Tôi không biết nhiều về nghề này, chỉ xin góp mấy chữ vui vui, để kể lại cái nghề mà ngày xưa ở Bùi Chu cũng có người làm: Nghề.. cò. Còn cò nguyên thuỷ đúng là một con vật mà trẻ nhỏ hay hát là: “Con cò có cái cổ cong cong, có cái cẳng cao cao.” Chẳng biết nói sao về nghề cò, chỉ xin viết vui mấy chữ như: Cò mà buôn may bán đắt thì là cò bợ, cò mà buôn bán ế ẩm, thì cò đói, mà cò đói thì gọi là; cò lả, hai cò gặp nhau thương lượng thì gọi là: Cò cưa, Cò giúp cò gọi là: Cò mồi, cò biết ai có xe muốn bán mà chưa chịu bán ngay, cò căn chừng thì: Cò kè, vv. Còn một điều lạ nữa trong ngôn ngữ dân gian chỉ những người buôn bán, như buôn heo thì gọi là: Lái heo, buôn bò là: Lái bò, buôn cây thì gọi: Lái cây vv, nhưng buôn xe không gọi là lái xe, vì lái xe lại là ông tài xế. Vì thế mà người ta gọi những người môi giới bán xe là cò.

Share this post