Những Dấu Ấn Của Loài Khuyển – Hồ Đinh

Những Dấu Ấn Của Loài Khuyển – Hồ Đinh

(TVVN.ORG) NHỮNG DẤU ẤN CỦA LOÀI KHUYỂN TRONG VĂN CHƯƠNG VÀ CUỘC SỐNG HẰNG NGÀY

Trong các loài gia súc sống gần gũi với ta hằng ngày, chó là con vật trung thành và được người yêu quý nhất. Bởi vậy hình ảnh của nó đã trở thành những dấu ấn xuất hiện đầy rẫy trong chữ nghĩa, chẳng những nơi kho tàng văn chương Việt Nam mà còn tiềm tàng khắp mọi chỗ trên thế giới. Xưa nay, mỗi lần có chuyện trục trặc với nhau, người ta thường nói ‘ngu như chó’, có lẽ vì cái tánh ba làng của con vật này, khiến đần độn, nên hay làm những chuyện vô duyên chuốc vạ vào thân:

“Con mèo làm bể nồi rang
Con chó chạy lại để mang lấy đòn’

Nhưng qua tác phẩm ‘Lục Súc Tranh Công’, lắng nghe sự tranh cãi giữa sáu con vật cùng sống chung với người, đâu có thấy chó khờ dại, trái lại nó rất khôn ngoan lấn lướt các đối thủ khác, trong cuộc tranh luận đầy lý thú, thật ra cũng chỉ để bưng bợ chủ mình, kiếm thêm chút cơm thừa canh cặn mà thôi:

“Đêm năm canh con mắt như chong .
Đứa đạo tặc nếp oai cũng động.
Ngày sáu khắc lỗ tai bằng trống.
Đứa gian tham thấy bóng cũng kinh“.

Vì là một con vật hoang dã được người thuần hóa sớm nhất, nên chó được nuôi chẳng những để coi nhà gác trộm đi săn, mà còn được huấn luyện dạy dỗ để làm biết bao nhiêu công chuyện khác, giúp ích cho con người, kể cả đem cái mạng cùi dâng hiến cho các đấng dân chơi ăn nhậu. Nhưng dù có phú quý sinh lễ nghĩa ‘chó nhảy bàn độc’ thì với cái thân phận tôi tớ thấp hèn, muôn đời mãn kiếp nó vẫn không vượt nổi cái số phận hẳm hiu, dù được nuôi lẫn với sư tử, thì chó vẫn là chó.

Trong kho tàng ca dao tục ngữ Việt Nam, có một câu rất chí lý “Làm người thì khó, làm chó thì dễ” nhưng có phải vậy hay không, bởi chó cũng có nhiều nỗi khổ của nó, nếu may mắn được sinh ra làm chó Âu-M ăn sung ngủ sướng. Trái lại bất hạnh đầu thai vào cõi Phi Luật Tân, Đại Hàn, Trung Hoa kể cả xứ Việt, thì sớm muộn cũng vào miệng người. Theo thời đại văn minh cơ khí ngày nay, chó đã ra khỏi thế giới ‘Lục Súc Tranh Công’, để bước lên bàn nghị sự quốc tế vào năm 1982, các dân biểu Phi đã đệ trình quốc hội nước này, một dự luật cấm giết chó ăn thịt. Tiếp đó ngày 25-5-1999, hàng ngàn người biểu tình trước trụ sở Đảng Quốc Đại Nam Hàn, đòi cứu xét việc cho hay ngăn cấm ăn thịt chó, trong lúc nước này đang sắp tổ chức giải túc cầu thế giới, nên không thể để cho người ngoài thấy được việc hạ cờ tây man di ở xứ này. Đến giờ, chó vẫn là chuyện dài không đoạn kết tại các nước văn minh tiền tuyến Anh, Pháp, Đức, Ý, Thụy Sĩ, Mỹ và Nhật, quanh bao nhiêu vấn đề, trong đó có việc chó ‘ị’ bậy ngoài phố làm hại sức khoẻ và thuần phong mỹ tục. Rồi việc nuôi chó Pit Bull hung dữ để đấu, cũng trở thành một sự tranh chấp bàn cãi giữa nhiều phe nhóm, không ai nhịn ai. Nhưng nói gì thì nói, nếu ta sống tại các nước Âu-Mỹ, chớ dại dột đụng vào các cô cậu khuyển, để tránh chuốc họa vào thân, vì luôn có các Hội bảo vệ súc vật, sẵn sàng lôi người lỡ dại ra trước vành móng ngựa, để đền tội phi nhân, khi sử dụng ‘đã cẩu bổng’.

Cuối cùng thật bất công khi người cứ hay đem chó làm đối tượng để đào xới những kẻ phản phúc lọc lừa, vì xưa nay trên cõi đời này, cho dù con chó có bị ruồng bỏ hay thuộc loại chó đói, chó ngu… thì thủy chung chó chẳng bao giờ phản chủ như con người. Tóm lại chỉ vì mang thân phận thấp hèn, nên chó gánh chịu nhiều bất công, chẳng những trong kho tàng văn chương chữ nghĩa, mà cả đời sống ‘lên voi xuống chó’ bên cạnh con người hằng ngày.

1- THÂN PHẬN LOÀI CHÓ TRONG CUỘC SỐNG HẰNG NGÀY:

Người Việt gọi nó là chó, trong khi Hán tự viết là cẩu hay là khuyển. Đây là một loài thú nuôi trong nhà đầu tiên được ghi nhận là vào cuối thời đồ đá, được thuần hóa từ những hậu duệ của một loại chó rừng có bộ lông màu vàng (Canis Aureus). Thời đó con người cũng còn ăn lông ở lỗ, sống đời du mục săn bắn lang thang khắp mọi nơi với đàn chó quanh quẩn nơi tạm dung. Ngay từ lúc đầu, chó đã tỏ ra giúp người rất đắc lực, như ban đêm canh gác quanh lều trại, sủa báo động cho chủ biết khi phát hiện các thú dữ như cọp gấu tới gần. Theo thời gian sống chung qua nhiều thế kỷ, loài chó đã phát sinh ra tập quán bẩm sinh, coi người chủ nuôi dưỡng mình như một thủ lỉnh đầu đàn, nên hết lòng tin cậy và trung thành tuyệt đối. Ý niệm này dễ dàng tìm thấy nơi loài chó Husky của người Eskimo ở Bắc cực hay các giống chó có mang ít nhiều huyết thống từ chó sói và giống chó rừng lông vàng đã được người thuần hóa. Đây là thủy tổ của nòi chó hiện sống ở Âu Châu

Qua nhiều bức tranh khắc trên các vách núi còn lưu lại từ 50.000 về trước, cho thấy sự khắng khít giữa người và chó, chẳng khác gì tình bạn giữa người với nhau, trong các cuộc săn bắn tìm lương thực. Dần đà con người từ cuộc sống du mục, trở thành định canh, chăn nuôi trồng trọt . Vì là một phần tử trong gia đình, nên chó cũng tham gia vào các công việc của chủ như chăn cừu và các loài gia súc khác, kể cả sử dụng trong chiến tranh, như một người lính đặc biệt, nhờ những giác quan bẩm sinh bén nhạy hơn loài người.

Họ Chó (canidae) thuộc bộ ăn thịt, có kích thưóc trung bình từ 40-160 cm, tai đứng, mõm nhọn,hai bàn chân trước có đủ 5 ngón, trong khi chân sau chỉ có 4 ngón, bộ lông đủ màu. Họ chó gồm có chó sói, linh cẩu, cáo và chó nhà, gồm chung 12 loài, sống khắp địa cầu trừ nam cực. Mỗi năm chỉ sinh một lứa, chó mẹ dạy dỗ bầy con tới khi trưởng thành. Chó ăn chuột và những loài gặm nhắm có hại, đặc biệt loài linh cẩu sống tại Châu Phi, chuyên ăn mồi dư từ các xác động vật chết.

Tại Việt Mam hiện còn giống Sói Đỏ, là loài thú lớn, mõm ngắn đen, màu lông hung đỏ, chuyên săn các loại thú có móng guốc ăn cỏ như đỏ, hoảng, hươu, nai, dê rừng cả gà gô, ngổng trời. Sống thành đàn từ 5-15 con, là loại thú ăn đêm, khi đói dám mò về gần các bản làng gần rừng bắt heo dê gà vịt. Chúng sống ở rừng núi từ Kontum ra tới Sơn La, Lai Châu, Bắc Cạn, Thái Nguyên. Do nạn phá rừng và săn bắn bừa bãi, loài này sắp bị tuyệt chủng.

Cáo có tai to vành, mõm dài và kích thước trung bình, lông màu hạt dẻ trừ phần dưới bụng có màu trắng hồng. Như loài sói đỏ , ăn thịt nai, hoảng, sống từng đàn từ 15-20 con, trên rừng núi Cao Bằng, Lạng Sơn.

Riêng Chó Nhỏ, về hình dạng hiện có 12 loài gồm: Chó Săn Thỏ (Greyhound), tính tính hiền lành, yêu thích trẻ con, là loài chó xưa nhất. Chó Ai Cập (Pharaon) giống chó được vua chúa Ai Cập nuôi dưỡng từ xưa, khôn ngoan khỏa mạnh rất trung thành với chủ. Chó Sục Lùn (Dandie-Diamont-Terrier) chỉ biết có chủ mà thôi nhưng lại nghi kỵ với người ngoài. Chó Sục Xù Xanh ((Kerry-Blue-Terrier), có nguồn gốc từ Ái Nhĩ Lan, lông màu xanh giỏi săn thú. Chó Lùn (Basset) có dáng thấp, bốn chân ngắn, tính điềm tĩnh nhưng tai hơi điếc nên không nghe được xa. Chó Cảnh Mễ Tây Cơ (Chihuahua), loại chó nhỏ nhất hiện nay, trong lưong từ 0,5 – 3 kg, lông xù mượt mà, rất trung thành với chủ nhưng nếu bị người ngoài chọc ghẹo sẽ trở nên dữ tợn. Chó Sục Canh Gác (Bull-Terrier) rất khoẻ và khôn lanh, giúp các cow-boy lùa bò trên các cánh đồng cỏ ở Âu-Mỹ cũng như được cảnh sát huấn luyện để truy tìm dấu vết các tội phạm. Chó Lớn Tai Cụp (Mastiff) , là loại chó có kích thước lớn nhất trong nòi chó nhà, to lớn khỏe mạnh nên được huấn luyện để canh gác nhà cửa cơ sở, rất trung thành và yêu thương chủ. Chó Thon Mình Ý Đại Lợi (Levrette), có gốc từ Ý, mình thon vóc nhỏ nhưng rất đẹp, thông minh rất gắn bó với chủ nhưng không thích nói nặng. Chó lông xù (Puli), có nguồn gốc Hung Gia Lợi, thông minh chỉ chịu một chủ, được huấn luyện để chăn cừu. Chó Bắc Kinh, được vua chúa Trung Hoa nuôi dưỡng từ xưa, can đảm ngoan ngoãn, thương chủ nhưng rất phàm ăn. Chó Tai Cụp Lùn Anh (Bouli-Dogne) tuy có hình dạng dị hợm nhưng tính tính hiền lành, nhanh trí thích đùa giỡn và có thể ngủ được trong tuyết lạnh.

Hiện Câu Lạc Bộ Kennel Mỹ đã phân loại chó làm 6 nhóm được huấn luyện để phục vụ trong các ngành như Chó Thể Thao (gồm các giống Pointer-Retriever, Irish Setter, Coker Spaniel), Chó Săn (Afghan, Beagle, Foxhound, Geyhound, cả hai loại đều biết đi săn và nhờ có khứu giác bén nhạy nên chỉ cần ngửi được một chút mùi của con mồi lưu lại, là có thể lần theo dấu vết ngay. Ngoài ra còn có giống chó Doberman Pinscher có tài đánh hơi tuyệt với và theo dõi bắt được một tên tội phạm sau khi chạy đuổi 100 dặm trên sa mạc Nam Phi. Còn một giống chó khác tên Fox Terrier, đã tìm lại được chủ nó là một tài xế ở Hayes Creek (Úc) tại thành phố Mambay Creek, xa hơn 1700 dặm, sau khi lạc chủ hơn 8 tháng. Riêng Chó Nghề nghiệp được huấn luyện từ nhiều nòi chó như Berger Đức (Shepherd) với nhiệm vụ giúp cơ quan công lực truy tìm tội phạm và dẫn dắt người mù. Nòi chó St. Bernard được huấn luyện để cứu trợ những du khách tại vùng núi Alpes hơn 100 năm qua. Chó newfound-land là loài chó chuyên cứu người chết đuối, trong lúc giống Husky Siberia của người Eskimo, chuyên kéo xe trượt tuyết trên băng, Chó Terrier bắt chuột phá hoại nhà cửa. Chó Cảnh bắt nguồn từ các nòi chó lùn nhỏ lông xù, cao chừng 10 inch, như giống chó cổ Bắc Kinh, chó có bộ da nhăn nheo gốc Mễ Tây Cơ tên Chihuahua hiện là loài nhỏ nhât trong họ Chó chỉ nặng từ 1-4 cân Anh. Theo các chuyên gia về chó, thì nòi chó cảnh là loài ưa cắn bậy nhất trong họ chó, còn chó Terrier-Boston được coi như nòi chó đầu tiên của Hoa Kỳ, tìm thấy trước nhất tại Boston.

Theo các di tích khảo cổ tìm thấy cho biết loài chó đã được thuần hóa sớm nhất tại Đông Nam Á và Việt Nam từ 13.000-15.000 năm, mà hậu duệ hiện còn lưu lại giống chó đặc biệt Phú Quốc, có nguồn gốc từ giống chó rừng Dingo lông vàng và sói. Loài chó này có nhiều tại Úc, là loài chó rừng, săn các loài thú nhỏ có túi ăn cỏ. Đây là loài duy nhất trong Họ Chó, từ chó nhà trở thành chó rừng hoang dã sống trong rừng núi khap đảo Úc. Ở nước ta chó được nuôi khoảng vài ngàn năm trước Tây lich, dùng để coi nhà và săn bắn. Hiện có ba giống chính: Chó Vàng thuộc nòi chó săn, bộ lông màu vàng tuyền có kích thước trung bình. Chó Mèo có tầm vóc lớn, tai nhỏ nhưng vểnh lên, sống ở vùng cao. Chó Lào đặc biệt bên trên hai mắt có vệt trắng, bộ lông màu vàng hung. Nòi chó Việt Nam được lai giống từ chó sói và chó nhà.

Từ khi con người bắt đầu rời trái đất để thám hiểm các hành tinh trong vũ trụ. Ngày 3-11-1957, Nga là dân tộc đầu tiên đã đưa người và một con chó tên Laika, bay vào quỹ đạo trái đất. Các chuyến bay kế tiếp có chó Ugolele, Veteroh… Trong khi dồng hành với người Mỹ, trên các vệ tinh là Chuột và Khỉ. Liên Sô cũng là nước sử dụng Chó nhiều nhất trong chiến tranh, như một quân chủng đặc biệt, mà không một đơn vị người nào có thể chu toàn được như rà mìn, thông tin, đặc công với chất nổ buộc đầy mình, chui vào xe tăng, thiết giáp, đồn địch làm nổ tung mọi thứ trong đó có cả sinh mạng của mình. Trong Thế cCiến 2, người Nga có 168 biệt đội quân khuyển với số lượng trên 60.000 con, ghi nhận được chiến tích như tiêu diệt được 300 xe tăng của Đức bằng chất nổ, chuyển vận hơn 5 tấn đạn dược tới các đơn vị Liên Sô đang chiến đấu tại mặt trận. Thời Bình Định Vương Lê Lợi kháng chiến chống giặc Minh chiếm đóng Đại Việt. Trong hàng tướng lãnh dưới quyền, có Nguyễn Xí huấn luyện được một đội quân khuyễn hơn 100 con bằng âm nhạc, giỏi tác chiến. Nhờ vậy quân Việt đã quấy rối và lấy được hằng vạn mũi tên của giặc Tàu mà không cần phải giao tranh tốn sức.

Do bẩm sinh, loài chó nào cũng có thể trở thành các thể thao gia nếu được sống tự do đùa chạy, nên khắp nơi hầu như đâu cũng có tổ chức các cuộc thi chạy của chó. Với nòi chó được huấn luyện trong bộ môn thể thao, với thân hình cao lớn, chân dài, thường đạt được vận tốc trung bình 65 km/giờ, gấp 2 lần tốc độ của chó sói nhưng chưa bằng ngựa và sơn dương.

Ngoài việc giữ nhà, đi săn và đảm nhận nhiều công việc giúp người, loài chó còn góp phần rất lớn trong Y học cổ truyền Đông phương, qua cái tên khoa học Vanis Familiaris 1, cung cấp các vị thuốc Cẩu Nhục (thịt chó), Cẩu Thận (Penis et testis canis (dương vật và tinh hoàn chó) và Cẩu Bảo (Calculus Canis) là sõi trong dạ dày chó có bệnh. Theo nghiên cứu, thì thịt chó có chứa 13,5 tới 20,9% protit, 13 – 28,6% lipit, có vị mặn, chua, tính nóng ăn không độc, giúp ôn bổ tỳ thận, trợ dương,trừ hàn, giúp ngũ tạng người nhẹ nhỏm, ích khí. Còn Cẩu Thận có tác dụng tráng dương bổ thận vì có chứa nhiều kích thích tố nam như Androsteron, các chất béo và lipt ngoại trừ những người âm hư có nhiệt, thì không dùng được. Riêng Cẩu Bảo trị chứng nghẹn uất, giải độc, trị mụn nhọt, nôn mửa, nấc. Trong Y học còn có Thận Hải Cẩu và Cây Chó Đẻ, mà các thầy thuốc Việt Nam gọi là Hy Thiên Thảo, Cỏ Đĩ, Cứt Lợn, Hy Hiên… qua tên khoa học Siegesbeckia Orentalis Lin. Cây này mọc hoang khắp nơi, có chứa nột chất xúc tác của acid salicylic, vị đắng gọi là duratin, dùng chữa chứng đau nhức, tê thấp, yếu chân, bán thân bát toại

Ở loài chó thấy có sự phát triển của ngôn ngữ rất đa dạng, biểu thị tình cảm của chúng đối với người, qua tiếng sủa, những cửû chỉ như vẫy đuôi, vẫy tai, sự vồ vập của đôi chân trước, tất cả nói lên sự vui mừng, quý mến chủ. Khi đói, thèm ăn, chó nhìn chủ chăm chú, nước dãi chảy dài, mõm ủi nhẹ vào chân chủ. Trái lại khi chó nhìn trừng trừng, nhe răng, cất tiếng sủa dữ dội vào kẻ đối diện, đó là triệu chứng chó sắp tấn công người. Tóm lại khi chó vẫy đuôi với người lạ, đồng nghĩa với lời chào, vì chó là con vật rất có tình cảm nên đã có nhiều trường hợp, chó nhịn ăn cho đến chết để theo người chủ đã khuất. Hiện khắp thế giới đã có 7 tượng đài chó, do người dựng ra để vinh danh con vật có nghĩa như tượng chó Bari ở Paris, ngủ trong băng tuyết, để nhớ ơn nó đã cứu hơn 40 ngưòi. Tại Bá Linh có tượng chó dắt người mù, trong khi ở Alaska, người ta tạc tượng con chó Balto với vòng cổ dây xích, để nhớ ơn nó dã cho huyết thanh, chữa trị bệnh bạch hầu cho dân bản địa. Ngoài ra tại Nga, Nhật, Ý và Anh cũng có tượng đài chó, không ngoài mục đích nhớ ơn và thương tiếc con vật có nghĩa với người.

Nòi chó Pitt Bulls nhỏ con nhưng hàm to quá cỡ, ngực bự, mặt nhăn nhúm rất hung dữ, nên được huấn luyện để thi đấu lẫn nhau tại Pháp và Mỹ. Ở Pakistan, người ta nuôi chó để đấu với gấu, như một trò chơi văn hóa thông dụng, được người Anh mang vào, khi đô hộ nước này, nên chẳng có ai chống lại trò chơi đẫm mấu dã man đó… Chó còn là những diễn viên nổi tiếng trong nghệ thuật thứ bảy, nhất là tại thủ đô điện ảnh Mỹ Hollywood. Năm 1943, một con chó cái thuộc nòi chó chăn cừu tên Lassie, đã xuất hiện bên hai ngôi sao Roddy Mc Dowall và Elizabeth Taylor, trong bộ phim ‘Lassie Come Home’. Cũng từ đó qua hơn nửa thế kỷ, chó Lassie đã đóng 9 bộ phim và biểu diễn 600 chương trình truyền hình. Năm 1994, chó Lassie tái xuất hiện trong bộ phim dành cho thiếu nhi. Ngoài ra còn có chó Rin Tin tin của Đức và 101 con chó có đốm, cùng đóng chung trong một bộ phim hoạt hình Dalmatians 101, do hãng Walt Disney thực hiện vào năm 1961. Gần đây có chó to lớn St.Bernard, đóng vai chính trong các bộ phim diễu Beethoven, rất được khán giả ưa thích.

Về kỷ lục, nòi chó St.Bernard nặng nhất (140,6kg), cao nhất là chó Berger Đức và nòi chó săn Ái Nhĩ Lan (106,6cm), chó nhỏ nhất (nặng 450g),thuộc nòi chó xù Terrier Yorkshine và Chihuahua. Chó có tuổi thọ 8-15 năm, nhưng chó Bluey chăn cừu, bò ở Victoria (Úc) sông được 29 năm, 5 tháng. Tại Pensynvania (Mỹ), Lena một chó cái săn cáo, ngày 19-6-1944 đã sinh một lứa được 23 còn đều sống. Cuối cùng một con chó xù tên Toby, được chủ là Ella Welden cho thừa kế một gia tài tới 15 triệu bảng Anh vào năm 1931. Lạ nhất là ở Nhật còn có võ sĩ Sumo Chó, do một trung tâm huấn luyện tại quận Kochi, trên đảo Shikoku của Nhật, mỗi năm tổ chức 5 lần thi đấu, với những nghi thức cổ truyền như người.

Thái Lan, Đại Hàn và Phi Luật Tân là những nước ăn thịt chó nhiều nhất thế giới. Tại các nước Âu Mỹ, vì truyền thống bảo vệ gia súc, nên không ai ăn thịt chó. Đã thế chó còn được hầu hết chủ cưng chiều, nên để phục cho chó, ở Đức hãng Wiecorek đã sản xuất loại kem que vanila và chocolate dành cho loài khuyển. Tại Los Angeles có tiệm bánh ngọt và bánh sinh nhật dành cho chó. Cũng tại California, tại thanh phố Culve có một câu lạc bộ Chó mang tên Kennel club, phục vụ cho loài này các tiện nghi từ A-Z, kể cả phòng ngủ có máy lạnh, giường nệm và truyền hình màu. Pháp đứng đầu thế giới về số lương và sự cưng chiều chó (17 triệu con). Ba công ty quốc tế chuyên sản xuất đồ ăn cho chó, với thực đơn trên 250 món, là hãng Mars-Unisab (Mỹ), Nestlé (Thụy Sĩ) và Royal Canin (Pháp). Tại nhiều nước Âu Mỹ, ít người ngạc nhiên trước cảnh chó mặc quần aó may sẵn, đeo trang sức và oai vệ bên cạnh chủ nhân tham dự tiệc tùng. Càng làm lớn, nổi tiếng và giàu có, người ta lại sính nuôi chó, như cảnh vợ chồng Tổng Thống G.W.Bush đi đâu cũng thấy chó bên cạnh. Tại Anh vào năm 1990, số thực phẩm dành nuôi chó là 842.000 tấn, với tiêu chuẩn rất cao như phải rút hết mở đường, trong khi hằng triệu triệu người Á, Phi, Trung-Nam Mỹ kể cả dân Mễ Tây Cơ nghèp mạt rệp, kiếm không đủ một bữa ăn no bụng bình thường hằng ngày. Nhưng đây đậu phải là lỗi của chó?

Gần đây, chó còn tỏ ra rất đắc dụng trong y học, với khả năng có thể ngửi được bệnh ung thư. Sự kiện này được hai chuyên gia về da và bệnh dạ liễu tại Anh, đề xướng vào năm 1989 qua nhiều lần khảo sát các bệnh nhân bị ung thư da nhưng được các con chó của mình dùng mũi để ngửi và phát hiện rất sớm, trước khi tới thăm bác sĩ. Do những câu chuyện chó ngửi được bệnh ung thư da, nên các cơ sở nghiên cứu khoa học cũng nhập cuộc. Tại Bệnh Viện Amersham ở Buckinghamshire (Anh), Tiến Sĩ Carolyn Willis cùng các đồng sự, đã huấn luyện sáu con chó đủ nòi và tuổi, trong 7 tháng về kỹ thuật ngửi nước tiểu của 36 bệnh nhân bị bệnh ung thư bàng quang và 108 người bình thường. Sau khóa huấn luyện, mức thành công của chó đạt tới 41%, làm khích lệ các nhà khoa học khi tiếp tục thử nghiệm các bệnh ung thư tiền liệt tuyết hay bị bướu trong thận. Những bí ẩn trên đã được khoa học giải thích là trong nước tiểu của những bệnh nhân bị ung thư bàng quang, thận, tiền liệt tuyến… có chứa những protein bất bình thường mà các dụng cụ y khoa dùng để phân tích các thành phần hóa học của nó rất khó khăn, nhiều lúc bất lực. Trái lại với chó, nhờ cái mũi có một bộ phận khứu giác, nhạy bén hơn mũi người, từ 10.000 tới 100.000 lần. Nhờ vậy chó đã phát hiện sớm những triệu chứng đầu tiên của các loại ung thư, giúp y học chữa trị kịp thời, cưu sống nhiều bệnh nhân

2-HUYỀN THOẠI VỀ NGƯỜI SÓI:

Sói thuộc họ Chó (Canidae), gồm Chó Sói thảo nguyên (Canis Latrans), có bộ lông màu nâu xám, sống trên các đồng cỏ Bắc Mỹ nhìn tựa nòi Chó Rừng ở Á-Phi-Âu Châu. Chó Sói Âu Châu (Canis Lupus) cũng tìm thấy ở Á và Phi Châu, hiện còn rất ít.

Ở làng Loreto (Mễ Tây Cơ), có ba đứa trẻ mặt phủ đầy lông lá, trông rất dị hợm tên Gabriel, Hesys và Victor, bị một chứng bệnh do các hormone trong cơ thể chúng gây ra, tới nay khoa học vẫn chưa tìm được nguyên nhân. Đây là chứng bệnh di truyền, phát từ ngoại chúng năm 1905 và di truyền cho nhiều con cháu. Người địa phương gọi đó là ‘ Người Sói’.

Nhưng dù có hay không tin, thế giới xưa nay vẫn tồn tại truyền thuyết ‘Người hóa Sói’. Trong tiếng Anh cổ có danh từ kép ‘Were Wulf’ chỉ người sói, bao gồm chữ were (đàn ông) và wulf chó sói. Thời Trung Cổ, xuất hiện ‘bái vật giáo’ tại Trung Hoa, Ấn Độ, Nhật Bổn, Châu Phi… phát sinh các huyền thoại về người hổ, người báo, người sư tử, người rắn và người sói. Tập tục người biến thành thú vật được coi như sự đổi dạng của con người, nhất là dân da đỏ sống tại Trung Mỹ. Trong các nền văn học dân gian khắp thế giới, hầu như nước nào cũng đều có it nhiều tác phẩm viết về người hóa thú. Tại Âu Châu, trải dài từ Nga đến bờ Đại Tây Dương, từ Bắc Âu tới miền Địa Trung Hải, ở đâu cũng có dấu vết của ‘Người Sói’ Sử gia Hy Lạp Hérodote (484-420) cho biết bộ tộc Neuri mỗi năm có mấy ngày hóa sói. Ở La Mã xưa, các tên phù thủy thường dùng một loại dược thảo có độc, để tự biến mình thành sói và thứ thuốc này được các tay giang hồ thuật sĩ Phương Tây bí mật buôn bán vào thế kỷ thứ IV sau Tây Lịch. Tại Pháp vào thế kỷ thứ XVI đã xuất hiện một danh từ ‘Loupgarou’ có nghĩa là ‘người sói’. Cũng tại nước này, đã từng có hội nghi ở Franche, thông qua sự tiểu trừ, định tội và xử án người sói. Các tài liệu này nhờ được ghi chép nên còn tồn tại tới ngày nay. Vào thế kỷ XVII, phù thủy Anh tai Scotland cho biết có thể sử dụng một loại sáp xoa khắp mình và chiếc dây thắt lưng bằng da sói, là biến thành người sói. Tóm lại vào thời Trung Cổ ở Âu Châu, người sói được coi như tôi tớ của ác quỹ, mà nét đặc trưng hiện lên trên đôi lông mày. Nói chung một người bị kết tội là sói, ngoài đôi lông mày, còn thêm ngón tay cong queo với móng sắc, bàn tay có lông, tai nhọn, đuôi gần như biến mất có lông tơ, màu da biến đổi khác thường, thân hình cao lớn, tính tình thô bạo và đặc điểm là đôi chân rất giống chó sói.

Bước sang thế kỷ XX, những hình ảnh về người sói tràn ngập trên màn bạc chỉ thua có quỹ Dracula, vì xu hướng cho rằng người sói sau khi chết sẽ trở thành ác quỷ Dracula. Để đối phó với người sói, người ta dùng đạn chế bằng bạc để sát hại nó. Với Giáo Hội Cơ Đốc Âu Châu thời Trung Cổ, đã từng sử dụng những hình phạt vô cùng tàn khốc như bỏ vào lò đốt, những kẻ đội lớp da sói làm thổ phỉ, cướp bóc giết người.

Với các động vật hung hiểm như rắn độc, chó sói… thông thường chúng rất sợ người, chỉ tấn công đối phương khi bị dồn ép hay không còn lối thoát, ngược lại người thì luôn coi chó sói là đồ man rợ. Một trong những dân tộc điển hình là người Tàu, thời nào cũng coi các nước lân bang là man di, chưa có Hán hoá, nên tư tưởng này đã bộc lộ thành ngôn ngữ, mà thống kế cho thấy các dạng chữ viết liên quan tới bộ ‘Khuyển-Cẩu’ đã chiếm một tỷ lệ rất cao. Đồng hành ở Âu Châu, dân Hy Lạp cũng có tư tưởng như Tàu, xem ai chưa ‘Hy Hóa’ đều là man di mọi rợ. Do quan niệm đó mà người Cổ La Mã, tín đồ Thiên Chúa Giáo, người Ý thời phục hưng…đều khinh ghét chó sói và kết tội chúng là loài thú phi nhân loại, đứng đầu tứ ác ‘Sài (linh cẩu), lang (chó sói), hổ, báo’ và cũng là loài bất trị khi ‘Lang bái vi gian’. Trong thần thoại Hy Lạp cũng có câu chuyện liên quan tới ‘Người hóa Sói’ tại xứ Arcadia. Người Cổ La Mã thì tin chất Versipellis có thể biến người thành sói. Việc này cũng được triết gia S.Augustin (354-430 STL), đề cập tới. Lịch sử Anh Quốc, cũng có nhắc tới hai người sói được phong chức và coi như anh hùng, còn Hoàng Đế John Lackland, vì là một người sói bạo tàn, nên bị truất ngôi và ký bản hiến chương ngày 15-6-1215. Hải tặc Viking Bắc Âu tham tàn cướp của giết người, nên bị gán cho xú danh ‘Berserk’ tức là ‘Người Sói’. Tóm lại Người Sói chỉ là một động vật huyền thoại, sản phẩm siêu nhiên tưởng tuợng của con người, đồn đại từ đời này sang đời khác. Rốt cục đã phát sinh ra một chứng bệnh tâm lý ‘Lycanthropus’ theo đó người bênh luôn ảo tưởng, mình sẽ biến thành thú vật, nhất là chó sói.

Dẫu sao ‘người sói’ cũng là một dạng lý tưởng của ít người có bộ óc bất bình thường, vói quan niệm óc người nhưng thân thể sói. Trong lịch sử nhân loại, nhân vật Đức Quốc Xã bạo tàn khát máu, kẻ gây nên hế Chiến 2 và tàn sát hằng triệu người Do Thái sống khắp Âu Chậu là Hitler, mang biểu tượng ‘ Người Sói’, từ tên họ chính mình (Adolf – Adolph -Chó Sói), tới tên đặt các đại bản doanh quân sự của Hitler tại Bruly de Pêche (Pháp) là ‘ Hang Núi Sói’ hay ‘Hang Sói’ và Đội Tiềm Thủy Đĩnh danh tiếng của Đức, cũng được gọi là ‘Bầy Sói’. Vào những cuói cùng của Thế Chiến 2, tướng cận vệ trung thành của Hitler là Pruetzmann, đã tổ chức lại đội du kích ‘Người Sói’, quyết tử chiến với quân Đồng Minh, chứ không chịu đầu hàng.

Tới nay các nhà phân tâm học, thậm chí giới khoa học, cũng chỉ mới đưa ra được các giả thuyết về hiện tượng ‘Người Sói’, như quy cho yếu tố di truyền, hoặc do tác dụng của hóa chất Belladona, khiến người có cảm giác da mọc đầy lông lá, từ đó người bệnh khoắc lên mình lớp da chó sói và gây nên các tội lỗi. Ngoài ra bị ngộ độc loại Nấm Cựa Gà (Ergot Poisoning), khiến người biến thành sói. Tuy nhiên tới nay Y học qua các chẩn đoán bệnh lý, vẫn mù tịt về câu trả lời, tại sao bệnh nhân lại tự mình cho là đã biến thành sói. Riêng các nhà tâm lý học, thì giải thích huyền thoại ‘Người Sói’ chẳng qua cũng là một thứ bản năng thú tính, đã tiềm ẩn trong những mẫu người luôn có khát vọng đen tối được hình thành từ những yếu tố man rợ của xã hội.

3-CHÓ TRONG VĂN CHƯƠNG, ĐIỂN TÍCH:

Chó là con vật được người thuần hóa sớm nhất, trong số gia cầm gia súc hiện nay, cho nên tên tuổi của loài khuyển cũng thấy xuất hiện rất nhiều trong kho tàng văn chương chữ nghĩa của mọi dân tộc trên thế giới, nhất là trong ca dao tục ngữ, điển tích và các câu chuyện cổ tích thần thoại.

+ CHÓ QUA THƠ TRUYỆN: Đọc ‘Lục Súc Tranh Công’, một tác phẩm cổ khuyết danh của Việt Nam, được sáng tác ở Đàng Trong, thời Trịnh Nguyễn phân tranh, nói về sự dành công với chủ, giữa sáu con vật nuôi trong nhà là trâu, ngựa, gà, heo, mèo và chó. Về hình thức, tác phẩm viết theo lối tuồng, có nhiều câp đối nhau theo thể biền ngẫu, không hạn định số chữ (4, 5, 6, 7), văn chương bình dân dễ hiểu nhưng không kém phần trào phúng ý vị, nhất là những điển tích được xen kẽ, để mô tả tâm lý ích kỷ, chủ quan của con người, khi phải chung đụng trong cuộc sống hằng ngày. Cũng qua tác phẩm trên, ta thấy chó đâu có ngu, mà rất khôn lanh và mạnh miệng khi bị trâu chỉ trích nặng nề “Chưa rét đã phô bằng rét, xo ra đuôi quít vào trôn, vấy bếp người tro trấu chẳng còn, ba ông táo lộn đầu lộn óc“. Nghe xong chó chẳng nhịn, đã trả lời “Trời sanh các hữu kỳ tài, lớn việc nặng – bé việc nhẹ” sau đó tấn công trâu “Tránh sao khéo thổi lông tìm vết, giận thày lay vạch lá tìm sâu“ rồi lên giọng kể công của mình:

“Đêm năm canh con mắt như chong
Đứa đạo tặc nếp oai cũng động
Ngày sau khắc lỗ tai bằng trống
Đứa gian tham thấy bóng cũng kinh
Vốn như đây gia tài ủy ký“

Tất cả những đối đáp trên, chó muốn minh định với kẻ thù lẫn chủ mình rằng ‘chó’ không phải là một gia súc vô dụng, trái lại được nuôi trong nhà để giữ của và bảo vệ chủ mình. Phân tích cho kỹ hơn, ta thấy chó không chấp nhận ai gọi mình là ‘vô tướng vô tài, một thứ ăn hại’, bởi vậy chó mới được chủ quý trọng, thưởng công ‘Chủ có lòng suy trước xét sau, khi lâm tử gạo tiền tống táng’.

Chó ngoài việc giúp chủ giữ nhà, đi săn, còn luôn tận tâm kiệt lực với chủ. Đức tính trên đã được Cử Nhân Phan Văn Trị, vay mượn gói ghém tâm tư trong những bài thơ yêu nước của mình, giữa thời Pháp thuộc, để trả lời tên Việt gian khoa bảng Tôn Thọ Tường “Nuôi muông giết thỏ còn chờ thuở, bủa lưới săn nai cũng có ngày“. Tâm sự này ta còn tìm thấy trong bài thơ “Chó Già“ của Sĩ phu Huỳnh Mẫn Đạt, như những lâm sự u hoài của người nước Việt, trong đêm dài nô lệ mịt mùng của ngoại xâm “Tuy rằng muông cẩu có ân ba, răng lụng lâu năm có phải già, bởi đuổi hươu Tần nên mỏi gối, vì lo khỉ Sở phải dùn da“.

Chó tuy bị người đời vô cớ sĩ vả đủ điều nhưng chưa bao giờ phản chủ, phản bạn. Do đức tình trên, nên khi hai con chó Vá và Kỵ, đã theo Phan Bội Châu suốt quãng đời mang bản án treo của thực dân Pháp tại túp lều tranh ở Bến Ngự -Huế, chẳng may bệnh chết, cụ đã khắc thơ cho chúng trên mộ bia và gọi “Nghĩa dũng cẩu vá chi trũng và Nhân trí cẩu Ky chi trũng“.

Trong nổi thế thái nhân tình, cảnh đời đen bạc “há như ai mặt người lòng thú“, chịu không nổi đến như một bậc minh triết quân tử Nguyễn Bỉnh Khiêm, đã phải vẽ lên những bức tranh “Vân Cẩu“ đầy ô nhục thời “Vua Lê-Chúa Trịnh“ , đọc qua thật là nhức nhối “Chó nọ vẫy đuôi mừng thánh chúa, ăn no ủn ỉn lợn kêu ngày“. Đời thế bảo sao Cao Bá Quát, một con người thi phú văn chương lỗi lạc, một tài tử hạng nhất trong nên thi ca VN thời Nguyễn, tủi phận sinh bất phùng thời nên lúc làm giáo thụ ở phủ Quốc Oai-Sơn Tây, đã hạ bút viết “Nhà trống ba gian, một cô, một chó cái – Học trò năm đứa, nửa người nửa ngợm nửa đười ươi“. Thái độ chán đời trên, sau này cũng được Nguyễn Vỹ, nhà thơ, nhà báo nổi tiếng miền Sông Trà-Núi Bút, chủ biên Nguyệt San Phổ Thông thời VNCH, tủi phận đói rách của kiếp làm báo, nhà văn, nên đã viết:

“Thời thế bây giờ đã thấy khó
Nhà văn An Nam khổ như chó
Mỗi lần cầm bút nói văn chương
Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương“
– Bốn bên hàng phố tiếng xôn xao
Trở dậy mà xem những thế nào
Lục sở trò bày trong rạp tối
Tam tài cờ cắm giữa trời cao
Giày Tàu bịt gót, Ngô đi bãi
Váy lỉnh phơi trên, đĩ rửa hào
Nhuốm, Vện, Khoang, Vần, vô số chó
Ra tuồng đắc ý, chạy nhông nhao .

Cùng năm đó, ngẫu nhiên Học Lạc (Nguyễn Văn Lạc), hiệu Sầm Giang, quán làng Mỹ Chánh, tỉnh Định Tường, nức tiếng khắp Nam Kỳ là người chống thực dân Pháp và bọn chó xăn tay sai của giặc. Trong một buổi nhậu đầu Xuân năm Tuất, Học Lạc đã ứng khẩu làm bài thơ Đường “Chó Chết Trôi“ tặng bạn bè:

– Sống thì bắt thỏ, thỏ kêu rêu
Thác thả lòng sông xác nổi phều
Vần vện xác còn phơi hửng dửng
Thúi tha danh hãy nổi lều bều
Tới lui bịn rịn bầy tôm tép
Đưa đón lao xao lũ quạ diều
Một trận gió dìu cùng sóng dập
Tan tành xương thịt biết bao nhiêu.

Từ xưa Việt Nam đã có thành ngữ “Cáo mượn oai hùm“, rút ra từ điển tích Sở Hoàn Vương thời Chiến Quốc, một hôm hỏi quần thần tại sao các nước ở phía Tây Bắc Trung Hoa lại sợ hãi Chiêu Hồ Tuất. Câu hỏi được quan đại thần Giang Ất giải đáp bằng câu chuyện ngụ ngôn, lấy tích có con hổ bắt được con cáo, định ăn thịt nhưng bị nó hù dọa, lại xưng là thiên sứ từ trời xuống để thống trị muôn loài thú và thách thức hổ đi theo mình, để biết sự thực. Quả nhiên cáo và hổ tới đâu, thú rừng đều bỏ trốn hết. Trong lúc đó hổ đậu biết, là các thú vì sợ mình, chứ đâu có ngán cáo. Chuyện Chiêu Hồ Tuất cũng vậy, các nước khác vì sợ binh lực hùng mạnh của nước Sở, chứ đâu có sợ gì Tuất. Ngày nay nước ta đang sống dưới ách nô lệ của Cộng Sản, cũng vì súng đạn và màng lưới công an bộ đội, nên đồng bào cả nước phải chịu khổ đau bởi bọn cán bộ ngu dốt tầm thường “ Cáo đội lớp hùm“, hống hách, bốc lột và tàn hại, mà chẳng dám làm gì.

Giống như nước Tống có người xem tướng chó rất giỏi nên được láng giềng nhờ mua giùm một con về bắt chuột. Nhưng rồi một năm trôi qua, chẳng thấy chó bắt được con chuột nào cả, người láng giềng mới hỏi, thì được anh xem tướng chó trả lời “Con chó này thuộc giống tốt nên cái chí của nó là đuợc theo chủ đi săn để bắt nai, hươu, dê, hoảng. Vì vậy nó không thèm bắt chuột, nếu muốn phải cùm chân nó lại”. Người láng giềng làm y theo lời, quả nhiên chó trở thành hèn, chỉ còn biết bắt chuột mà thôi.

Câu chuyện ngụ ngôn này nếu ở các nước Âu Mỹ tự do, sẽ chẳng làm ai cười được hay tốn công suy nghĩ. Thế nhưng với xã nghĩa thiên đàng Việt Nam giờ đây, chắc chắn mọi người, nhất là thành phần trí thức, khoa bảng… khi đọc phải khóc ngất vì tủi hổ tức nghẹn cho kiếp người. Giống như một con cho săn tài giỏi, chỉ vì bị cùm chân mà trở thành hèn mọn phải bắt chuột, quả thật là thương hại. Dân tộc Việt Nam cũng vậy, tự dưng cõng voi Cộng Sản Quốc Tế về dầy mồ tiên tổ và đất nước. Rồi cũng tự chính mình “cùm chân trói tay“ làm bù nhìn bình vôi ngày ngày tháng tháng suốt mấy chục năm qua, để từ một con người tự do, biến thành con vượn hú, thì thật không biết nên cười hay khóc cho số phận?

Xóm Cồn Hạ Uy Di
Cuối Đông 2017
HỒ ĐINH

Share this post