Những Đêm Đông Của Người Không Nhà Ở Little Saigon – Đằng Giao

Những Đêm Đông Của Người Không Nhà Ở Little Saigon – Đằng Giao

WESTMINSTER, California (NV) – Đêm Đông, càng gần Lễ Giáng Sinh mà nhiệt độ về khuya càng lạnh thì người ta càng ngủ ngon giấc. Ông Lý Trung Hải và Mike Fleming, một da vàng, một da trắng, cùng có những giấc ngủ không tròn vì cái lạnh đêm Đông. Họ là những người vô gia cư, ngủ ngoài đường phố Westminster, trong khu Little Saigon.

Người Mỹ da vàng “sợ” gia đình

Ông Lý Trung Hải, 44 tuổi, “cư dân” Westminster, lắc đầu nói: “Làm sao mà ngủ được, nhất là khi có mưa đêm. Mà nếu nói là lạnh quá tới nỗi mất ngủ thì là nói láo để xin xỏ lòng thương hại của người khác mà thôi. Nhưng rất là khó ngủ. Khó vô cùng.”

Ông có khuôn mặt sáng sủa, dễ gây thiện cảm với người đối diện với nụ cười lém lỉnh và cặp mắt không lẩn tránh.

Ban ngày, ông thường ngồi trước cửa tiệm fast food Lâm Vân, Westminster.

“Trừ những lúc phải trình diện cảnh sát quản chế, tôi ưa ngồi ở đây. Giờ giấc có thể thay đổi nhưng từ thứ Hai tới thứ Bảy, ngày nào tôi cũng phải trình diện. Họ bắt tôi học lớp kiềm chế sự nóng giận cũng như để kiểm tra nước tiểu tôi, coi tôi có xài ma túy nữa hay không”, ông cho biết.

Mỗi ngày ông “kiếm” được chừng $25. “Tháng trước, có ngày tôi được $50. Lâu lắm mới được một lần”, ông cười hớn hở.

Món ăn ông thích nhất là thịt heo quay ba rọi ăn với cơm trộn xì dầu.

Rất tiếc là số tiền trợ cấp thực phẩm của ông không thể mua món này được. “Tiền Obama cho tôi, tôi chỉ mua nước, bánh ngọt, bánh mì và thịt nguội thôi,” ông Hải nói. “Ngồi đây, lâu lâu, ông chủ Lâm Vân có cho tôi tô cháo lòng. Ăn ngon. Ông ấy là người tốt.”

Nhìn tổng quát, ông Hải sạch sẽ hơn đa số những người vô gia cư và cách trang phục của ông cũng tươm tất hơn. “Mỗi tuần tôi giặt quần áo một lần và ngày nào tôi cũng lau người trong nhà vệ sinh tiệm cơm tấm Thuận Kiều (Westminster, gần chợ ABC),” ông cười hãnh diện.

Ông tiếp: “Mình ở ngoài đường 24/24 mà nếu không giữ vệ sinh thì rất dễ bị ghẻ ngứa.”

Chỗ ngủ của ông là bên ngoài tiệm Phở 2 Tô, Westminster. “Phía trước có ghế xa lông nhưng tôi không bao giờ lên đó ngủ. Mình không muốn làm phiền ai hết,” ông Hải nghiêm nghị nói.

“Thực tình mà nói, con người mình rất mạnh, mạnh hơn mình biết. Phải tới khi mình không có sự lựa chọn thì sức mạnh thực sự của mình mới bộc phát ra ngoài,” ông Hải nói thêm một cách mạch lạc.

“Bữa trời mới trở lạnh mà sương đêm phủ trắng đường tôi mới hiếu thế nào là lạnh thấu xương”, ông vừa nói vừa rùng mình.

Từ Seattle, ông đến California được bốn năm. Ba năm qua, ông sống trong cảnh lao tù tại Orange County khi bị bắt vì tội hút sách. “Đúng ra chỉ ‘chơi’ xì ke thì không tới nỗi bị tới ba năm đâu, nhưng vì tôi có tiền án nên mới bị kết án lâu vậy thôi”, ông giải thích.

Khi được trả tự do khoảng năm tháng trước, ông Hải được chính phủ cấp cho $200. Ông nói: “Tiền này kêu là ‘tiền cửa’ (gate money).”

Ông cười to rồi nói: “Hồi còn trong tù, tôi tưởng tượng khi được thả sẽ tha hồ ăn món này, món kia. Ai dè, ngồi trong nhà trọ nhìn ra thấy mấy cô gái ăn mặc hở hang đứng ở góc đường, lòng tôi nao nao lạ lùng rồi bụng no ngang, không muốn ăn gì hết”.

Ông Hải còn cha mẹ cùng hai người em trai ở Seattle và vẫn liên lạc với gia đình thường xuyên. “Ba má tôi rất khá giả và kêu tôi về hoài nhưng hiện giờ tôi chưa muốn”, ông kể.

“Tại sao tôi còn do dự, chưa muốn về? Nhiều đêm lạnh quá, tôi rất muốn về chứ. Nhưng đã quá nhiều lần tôi làm ba má khóc vì tôi. Bây giờ, nói thật, tôi mắc cỡ lắm. Mình chưa được một ngày nào báo hiếu mà toàn là ‘quậy’ cho mọi người điên đầu nên về bây giờ chưa tiện”, ông tâm sự. “Kẹt thêm chuyện nữa là trong hai đứa em tôi, một đứa rất đàng hoàng, chăm chỉ làm ăn. Đứa kia, trời ơi, nó còn ‘quậy’ hơn tôi hồi đó”.

Ông cương quyết nói “khi nào biết cách khuyên giải em tôi không còn xì ke ma túy nữa và bỏ thói ‘cỡi ngựa cầm cung’ nữa thì tôi về”.

Khi được hỏi “cỡi ngựa cầm cung” có phải là đi theo băng đảng, ông Hải chỉ ngao ngán thở dài, không trả lời. “Nghĩ mà tội cho ba má tôi,” ông nở nụ cười mếu mó với cặp mắt nhòa lệ.

“Đầu óc tôi không bình thường. Tôi toàn làm những ai thương tôi phải khóc. Tôi chưa bao giờ cố ý mà sao cứ làm vậy hoài,” ông thở dài.

“Lạnh, tôi không sợ vì tôi mặc hai áo len thun bên trong, thêm áo lạnh bên ngoài mà còn nằm trong sleeping bag nữa. Tôi không sợ lạnh mà chỉ sợ nhìn ba má tôi lúc này,” ông Hải nói nhỏ và cúi gầm mặt.

Người Mỹ da trắng ‘thà sống một mình’

Cách tiệm fast food “của” ông Lý Trung Hải không xa, trong công viên West Park, Westminster, gần góc đường McFadden và Beach, ông Mike Fleming, 56 tuổi, dừng “chiếc xe di động sản” của mình rồi ngồi bệt bên cạnh cái bàn công cộng bằng kim loại sơn màu xanh lá cây.

Trong xe, ông có một cái chăn bông loại rẻ tiền màu vàng ố ở giai đoạn gần thành nâu. Bên trong cái chăn là “tài sản” đích thực của ông: Một cuốn sách vẽ còn mới.

Khư khư bấu chặt cuốn sách vẽ bằng những ngón tay héo quặt, ông Mike phân trần, da trắng nhưng cuộc sống không nhà đã nhuộm ông thành người có nước da màu “thế giới”.

Gương mặt phong trần của ông hằn sâu những chứng tích của sự khổ đau chất chồng cùng năm tháng. Mỗi khi ông căng môi cố tạo một nụ cười, hai hàm lợi không răng trở thành xiêu vẹo làm cằm ông như dài và nhọn hơn.

Ông “ngụ” giữa bụi cây và chân tường thuộc khuôn viên Văn Phòng Nha Khoa “K & P,” Westminster, tại góc đường McFadden và Beach (bên kia đường, nhìn sang hông Siêu Thị Thuận Phát).

Cũng có trợ cấp thực phẩm hàng tháng nhưng ông vẫn cảm thấy thèm thức ăn. “Một năm rưỡi rồi tôi không có một bữa ăn nóng. Thèm lắm. Tôi biết có những nơi phát đồ ăn nóng nhưng tôi không dám gặp những người quen. Sợ bị rủ rê làm bậy nữa,” ông Mike bày tỏ nỗi lo.

“Đêm qua trời mưa cả đêm nên tôi quấn chăn ngồi dưới mái hiên chứ không nằm trong bụi cây như lệ thường. Tôi phải ngồi vì hai mũi tôi nghẹt cứng, nằm thì không thở được. Tôi không ngủ vì hai hàm tôi nhức buốt, đành phải lảm nhảm một mình cho quên đi”, ông Mike bình thản nói.

“Cái lạnh ban đêm mùa Đông hay cơn mưa đêm qua chỉ là những bất tiện của cuộc sống ngoài đường mà thôi. Sống không nhà, dĩ nhiên là phải chấp nhận tất cả. Nóng thì người tôi ngứa ngáy đến nỗi gãi rách hết da, máu ứa đầy người. Lạnh thì như tôi vừa nói. Hên cho tôi là đêm qua có chút tiền, được uống chút bia nên đêm cũng qua mau”, ông tiếp.

Rồi ông tình thật: “Hôm nào trời thương, tôi kiếm được $20 mua xì ke thì thời tiết không ảnh hưởng gì đến tôi cả”.

Ông Mike nói về mình: “Tôi sống ngoài đường lần này được một năm rưỡi rồi.”

Cuộc sống của ông là một sự đọa đày từ thuở bé. Tuổi thơ ông đầy rẫy những lời nguyền rủa của mẹ và những đòn thù chát chúa của cha. Đầu óc ông, có lẽ vì thế, ít nhiều bị ảnh hưởng nên ông chưa bao giờ được cắp sách đến trường. “Nhiều đêm tôi cố moi óc, nhớ lại đã có bao giờ được nghe lời nói yêu thương từ song thân tôi, nhưng dù đêm có dài đến bao lâu, tôi vẫn không nhớ ra được”, ông nhỏ giọng.

Ông Mike nhíu trán: “Gia đình tôi chỉ còn đứa em trai duy nhất ở Dana Point trên đường đi San Diego. Vậy mà lần cuối cùng anh em tôi gặp nhau, nó nói rằng tôi chỉ nên gặp nó khi nào tôi không cần nó giúp đỡ. Không cần nó giúp đỡ? Nó có nhà cao, cửa rộng, vợ đẹp, con khôn. Còn tôi thì vô gia cư, gia tài chỉ có mấy tấm hình vẽ bằng bút chì và một cái đầu khùng khùng, điên điên mà nó bắt tôi không được cần nó. Thôi thì tôi đành phải không cần ai nữa hết”, nước mắt rơi lã chã xuống má ông.

Ông trở nên run run, lạc giọng: “Tôi không phải người xấu. Nhưng không hiểu vì sao tôi cứ làm những điều mà cảnh sát không thích. Từ năm 16 tuổi, tôi sống trong tù nhiều hơn bên ngoài. Tôi không phải là tôi phạm nhưng cái đầu tôi như bắt tôi vi cảnh hoài”.

Ông Mike thích sống trong tù hơn vì ở đó, ông không phải đi bộ suốt ngày và tối ngủ ngoài trời. “đặc biệt nhất là tôi có thời gian yên tĩnh để vẽ. Tôi vẽ nhiều lắm. Nhưng lần vừa ra tù kỳ này, mới đêm thứ nhì, người ta lấy trộm hết của tôi, mấy trăm tấm hình và đôi giày người ta vừa cho”, ông tiếc nuối.

Ông đặt cuốn sách vẽ xuống đất và khoe một bản phác họa một bộ máy xe hơi do ông vẽ lại từ một cuốn tạp chí. “Một người đàn bà tốt vừa cho tôi cuốn sách này chiều hôm qua. Tôi mới vẽ đêm qua. Chắc cả tuần nữa mới xong,” ông hãnh diện nói.

“Tôi thà không cần ai trên đời vì tôi không thích sự nhục nhã nữa. Tôi thích vẽ vì phải có tôi, những bức vẽ mới thành hình. Vẽ hoặc xì ke đều làm cho đêm qua mau và làm tôi không thấy lạnh”. ông kết.

Share this post