Những Huyền Thoại Sai Lầm Vể Lịch Sử Chiến Tranh Việt Nam Từ 1945 Đến 1975 – Trần Trung Chính

Những Huyền Thoại Sai Lầm Vể Lịch Sử Chiến Tranh Việt Nam Từ 1945 Đến 1975 – Trần Trung Chính

Người viết xin tóm lược 4 đề mục để độc giả có một cái nhìn bao quát:

I. Những thiếu sót của các nhà ái quốc Việt Nam

  1.1 Không hiểu biết gì tình hình biến chuyển của thế giới, chỉ biết Pháp – Trung Hoa – Nhật là 3 thế lực   đang trên đường suy tàn.

  1.2 Không hiểu biết gì về Cộng Sản Việt Nam, không phân biệt rạch ròi giữa CAI TRỊ và CÁCH MẠNG  (mục tiêu của Hồ Chí Minh là cướp chính quyền chứ không phải là “dành độc lập”)

     Thí dụ : Hồi ký MỘT CƠN GIÓ BỤI của Thủ Tướng Trần Trọng Kim cho lịch sử biết rằng chính phủ của ông muốn trao quyền nhưng đại diện Cộng Sản không chịu tiếp nhận mà họ vẫn muốn CƯỚP CHÍNH QUYỀN.

   1.3 Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản nêu mục đích “đánh đuổi thực dân Pháp” như một chiêu bài, nhưng tự tiện dành độc quyền yêu nước kiểu lý luận Cộng Sản (Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản tiêu diệt tất cả những người quốc gia, khoác cho họ là Việt gian dù không có bằng chứng nào về chuyện  họ cộng tác với Pháp)

  1.4 Các lãnh tụ đảng phái quốc gia dù có nhiều tâm huyết và thiện chí, nhưng không có ai đưa ra được một CHÍNH LƯỢC để dành độc lập cho nước Việt Nam (điển hình là không ai nghĩ đến việc phải liên kết với những đại cường để được hậu thuẫn, trong khi đó Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản dấu nhẹm chuyện họ được Cộng Sản Quốc Tế tích cực yểm trợ).

II. Những lầm lỗi nghiêm trọng của các các lãnh tụ đảng phái quốc gia khiến người quốc gia và các đảng phái quốc gia bị Cộng Sản tiêu diệt :

  2.1 Không biết ẩn mình chờ đợi, lộ diện trên chính trường quá sớm mà không có phương tiện tự vệ (thí dụ như các xứ đạo Công Giáo tự võ trang). Xin xem tác phẩm ĐEM TÂM TÌNH VIẾT LỊCH SỬ  của đại biểu Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội của Nguyễn Mạnh Côn (dưới bút hiệu Nguyễn Kiên Trung).

Chỉ duy nhất có một mình ông Ngô Đình Nhu là biết “tự ẩn mình” nên ông đã không bị Việt Cộng tàn sát trong giai đoạn 1946 -1948 .

  2.2 Không biết tại sao Việt Minh quá lớn mạnh về quân đội, ban đầu quân đội Việt Minh chỉ “cầm cự” với quân đội Pháp, rồi vài năm sau chuyển qua phản công rồi đánh bật được 220,000 quân viễn chinh của đế quốc Pháp.

Lý do chính yếu là quân đội Trung Cộng đã thừa hưởng quân trang quân dụng của một triệu quân Quan Đông nên viện trợ ồ ạt cho quân Việt Minh. Ngay các tướng lãnh của Pháp còn không biết đến chuyện Tưởng Giới Thạch phải bỏ chạy qua Đài Loan nên ngay trong chiến dịch Đông Xuân 1950, quân đội Pháp suýt bị đánh bại tại chiến trường Bắc Việt. Chính phủ Pháp phải đưa danh tướng 5 sao De Lattre De Tassigni qua Đông Dương cứu viện và ông tướng De Lattre De Tassigni đã đánh đuổi quân Việt Minh do Võ Nguyên Giáp chỉ huy phải chạy sang Trung Hoa ẩn náu.

  2.3 Không nghĩ ra được giải pháp để giải quyết vấn đề cho nước Việt Nam độc lập.

  2.4 Không hiểu tại sao Hoa Kỳ lại bỏ rơi Tổng Thống Tưởng Giới Thạch để toàn thể lục địa Trung Hoa rơi vào tay Mao Trach Đông và đảng Cộng Sản Trung Hoa? Năm 1946, đích thân Đại Tướng Marshall bay qua Trùng Khánh để hội kiến với Tổng Thống Tưởng Giới Thạch, trước đà tiến quân như vũ bão của quân Mao Trạch Đông, Tổng Thống Tưởng Giới Thạch yêu cầu Hoa Kỳ tăng viện và trang bị cho 100 sư đoàn bộ binh của quân đội Trung Hoa Quốc Gia, đây là điều bất khả thi của chính phủ Hoa Kỳ vì chính Hoa Kỳ còn chưa có tới 100 sư đoàn bô binh để chiến đấu trong đệ nhị thế chiến tại các chiến trường Á Châu, Phi Châu, và Âu Châu: Mỗi chiến trường Hoa Kỳ chỉ có khoảng 200,000  quân nhân mà thôi. Nhu cầu của một triệu quân với 100 sư đoàn bộ binh là điều Hoa Kỳ không có khả năng thực hiện. Do đó Trung Hoa Quốc Gia bị bỏ rơi.

  2.5 Không hiểu tại sao quân lực Pháp biết là sẽ thua quân Việt Minh tại chiến trường Bắc Việt mà chính phủ Pháp và quốc hội Pháp vẫn bỏ tiền ra xây dựng các căn cứ quân sự như cứ điểm Điện Biên Phủ xây dựng dưới thời của Đại Tướng Raoul Salan (ông này kế nhiệm Thống Tướng De Lattre De Tassigni qua đời vì bị ung thư).

III. Những đánh giá sai lầm của các nhà lãnh đạo chính trị và các chính phủ quốc gia về mục tiêu và khả năng tác chiến của Hoa Kỳ :

  3.1 Hoa Kỳ không phải là con rối của Vatican (khối Công Giáo tại Hoa Kỳ chỉ chiếm 25%, và không ảnh hưởng nhiều vào chính giới của Hoa Kỳ)

  3.2 Khi tham chiến tại các chiến trường ở Á Châu, Hoa Kỳ chỉ có mục tiêu ngăn chận sự bành trướng của đế quốc Cộng Sản, Hoa Kỳ không hề có ý định giao chiến trực tiếp với Trung Cộng. Cho dù Hoa Kỳ có khả năng đánh bại quân Trung Cộng, nhưng ý chí và nhu cầu của quốc gia Hoa Kỳ không cho phép thực hiện “giải pháp chiến tranh”, thí dụ điển hình: Tổng Thống Harry Truman cách chức Đại Tướng Mac Arthur trong chiến tranh Cao Ly 1950 – 1953.

3.3 Phật giáo Khối Ấn Quang và các nhóm thân Cộng hay Trung Lập bị Việt Cộng tuyên truyền khuynh đảo nên không biết đến sự việc Việt Nam Cộng Hòa và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa  là 2 quốc gia riêng biệt có quốc tế công nhận. Chính sự vô minh này mà nhóm Ấn Quang  đã từng vỗ ngực tự hào “đồng hành với Cách Mạng” trong sự nghiệp Giải Phóng Miền Nam.

  3.4 Các nhà sư khối Ấn Quang và “thành phần thứ ba” chống lại việc Hoa Kỳ can thiệp vào Việt Nam Cộng Hòa nhưng không chống việc Liên Sô và Trung Cộng hậu thuẫn cho Cộng Sản Bắc Việt. Họ luôn ngoác miệng kêu gào “hãy để những người Việt Nam nói chuyện với nhau”, nhưng họ không dám trả lời câu hỏi: “ Việt Nam Cộng Hòa với 12 triệu dân và đoàn kết 100% tất cả các đảng phái chính và tất cả các khuynh hướng tôn giáo, thì có đủ sức mạnh để “đương cự” với Cộng Sản Bắc Việt hay không ?”.

  3.5 Chính phủ Tổng Thống Ngô Đình Diệm đánh giá sai về khả năng tác chiến của quân đội Hoa Kỳ, đặt trên ý niệm: “Quân đội Hoa Kỳ đánh thắng đối phương về trận địa chiến nhưng sẽ thua quân đội Việt Cộng về chính trị và du kích chiến” . Quân đội Hoa Kỳ đã có những vũ khí mới và các kỹ thuật chiến đấu mới mà các ông Ngô Đình, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng  vá luôn các Thống Chế quân đội Trung Cộng và cả Liên Sô cũng không hề biết. Thí dụ trong chiến tranh Việt Nam, Hoa Kỳ đã tung 4 loại vũ khí để triệt phá chiến tranh du kích của Việt Cộng, đó là :

  3.5.1 Hàng rào điện tử Mac Namara

  3.5.2 Pháo đài bay B.52 với các trận thả bom trải thảm

  3.5.2 Sư đoàn kỵ binh không vận (Việt Cộng gọi tắt là Không Kỵ): Sư đoàn này có khoảng 1,000 trực thăng UH -1B và gunship Cobra để chuyển quân, các phi công của sư đoàn này trực thuộc Lục Quân).

  3.5.4 Bom  CBU đốt cháy Oxigen cả một vùng rộng lớn để tiêu diệt chiến thuật “biển người” ( Chữ C trong bom này là Chemical chứ không phải là Cluster)

   3.6 Khi Bắc Việt thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miến Nam tại Hà Nội vào tháng 12/1959, Hoa Kỳ bị buộc  phải tham chiến giúp VNCH nhưng các chiến lược gia (gọi là thinks tank cũng không sai) biết là Hoa Kỳ không thể thắng quân Bắc Việt được (vì VNCH có dãy Trường Sơn ).

Cho nên rất nhiều người VN và Hoa Kỳ quá ngạc nhiên về lời tuyên bố của Đại Tướng Westmoreland: “Quân đội Hoa Kỳ chiến đấu tại Việt Nam không được phép chiến thắng”. Tướng Westmoreland chủ bại hay biện bạch cho chủ thuyết “Đồng Minh Bỏ Chạy” như Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng đã nêu ra trong nhiều quyển sách nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam sau này ?

Theo suy nghĩ của người viết, chiến tranh Việt Nam 1954 – 1975  là cuộc chiến tranh mà VNCH không muốn, không gây ra nhưng bị buộc phải tham chiến vì đó là một cuộc chiến tranh tự vệ, cho nên quân đội Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam với mục tiêu chính là gây thiệt hại lớn lao về sinh mạng cho cộng quân Bắc Việt chứ không phải là để đạt chiến thắng như hồi đệ nhị thế chiến bắt đối phương phải “đầu hàng”.

  3.7 “Giải pháp chiến tranh tàn lụi” Hồ Chí Minh tiến hành cuộc xâm lược VNCH qua hình thái “chiến tranh giải phóng” tức là không tuyên chiến, quân đội Hoa Kỳ vào Việt Nam qua lời yêu cầu của chính phủ VNCH (qua lời mời của Thủ Tướng Phan Huy Quát vào mùa hè năm 1965) cũng là hình thức tham chiến nhưng không có tuyên chiến với Bắc Việt. Chính phủ của Tổng Thống Johnson nghĩ rằng Hồ chí Minh (sau này là Lê Duẩn) khi thấy binh sĩ Bắc Việt bị giết nhiều quá sẽ lui quân về Bắc thì đương nhiên “chiến tranh sẽ tàn lụi”.  Nhưng bọn lãnh đạo của Việt Cộng ngu quá, vẫn đổ thêm quân vào miền Nam cho tới 30 tháng 4 năm 1975, tiến vào Sài Gòn mà vẫn đinh ninh là ĐẠI THẮNG !

  3.8 Thấy sự ngu si điên cuồng  của Hồ Chí Minh và Lê Duẩn, chính phủ Hoa Kỳ phải tìm cách rút  quân ra khỏi vũng lầy Việt Nam vì chiến phí cho 550,000 binh sĩ trú đóng tại Việt Nam trong 3 năm 1965, 1966, 1967 quá tốn kém, cho nên người viết cho rằng kế hoạch Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân 1968 là do Hoa Kỳ mớm mồi cho Việt Cộng để Hoa Kỳ có lý do chính đáng rút quân ra khỏi Việt Nam.

  3.9 Tổng Thống Johnson và Bộ Trưởng  Quốc Phòng Mac Namara không có giải pháp hữu hiệu cho cuộc rút quân này vì chính phủ Johnson không còn thời gian để thực hiện, vì thế mọi người thấy 2 ông đã chọn giải pháp “bỏ chạy” : Mac Namara từ chức Bộ Trưởng Quốc Phòng để giữ chức Chủ Tịch World Bank, Tổng Thống Johnson tuyên bố không ra ứng cử nhiệm kỳ 1968 -1972. Nixon lên thay, áp dụng kế hoạch “Vietnam hóa chiến tranh” cũng đem binh đội Hoa Kỳ về nước từ từ, giúp quân đội VNCH thêm nhiều chiến cụ và nâng cao khả năng tác chiến khiến quân Bắc Việt phải chịu tốn thất nặng nề về nhân mạng qua các chiến dịch hành quân qua Cambode hồi 1970, Lam Sơn 719 qua Hạ Lào năm 1971, và mùa hè đỏ lửa năm 1972..

  3.10 Hoa Kỳ mua sự an toàn cho VNCH bằng Hiệp Định Paris 1973 (viện trợ 3 tỷ dollars qua điều khoản 21B) : Sự tồn tại của VNCH như là “tiền đồn chống Cộng” xét ra không còn giá trị đối với Hoa Kỳ nữa vì Nixon đã bắt tay được với Trung Công để đánh bại Liên Sô. Và nếu VNCH bị rơi vào tay Bắc Việt thì nền aninh của Hoa Kỳ không hề hấn gì cả.

  3.11 Hoa Kỳ không cứu VNCH dù Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu chỉ xin viện trợ 700 triệu dollars (phần lớn là viên trợ nhân đạo), vì Hoa Kỳ có viện trợ cho dù ít oi đi nữa thì chỉ kéo dài chiến tranh, người chết thêm sẽ vô ích. Khi cộng quân Bắc Việt đem xe tăng vào Dinh Độc Lập thì Hoa Kỳ đã không mất 700 triệu dollars hứa cho chính phủ VNCH mà còn không mất thêm 3 tỷ dollars để tái thiết Đông Dương vói lý cớ Bắc Việt vi phạm Hiệp Định Paris 1973.

IV. Những thành quả đáng hãnh diện của quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa

4.1 – Chiến đấu để giữ an toàn cho đồng bào của mình và gìn giữ sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước mình, nên quân lực VNCH biết thua Việt Cộng mà cũng chiến đấu hết mình trong khả năng có thể được. Sự tận tụy của toàn thể quân lực VNCH đã thể hiện đúng châm ngôn: TỔ QUỐC – DANH DỰ – TRÁCH NHIỆM.

4.2 Hy sinh sinh mạng tương đối nhỏ: VNCH mất 400,00 binh sĩ đã tử trận (tỷ lệ 400,000 người trên 17 triệu dân số) trong khi Bắc Việt đã mất 3 triệu tinh binh trên 25 triệu dân số.

4.3 Chính phủ và quân cán chính của VNCH đã giữ được nguyên trạng hạ tầng cơ sở. Dẫn chứng, ngay trong ngày 30 tháng 4 năm 1975, mặc dù quân đội VNCH  “tan hàng” và Cảnh Sát Quốc Gia bị giải thể nhưng không có bất cứ cuộc nổi dậy, cướp phá, hôi của, giết người để trả thù cá nhân trên thành phố Sài Gòn (với 3,5 triệu dân) cũng như trên 44 tỉnh và 6 thành phố trong lãnh thổ của VNCH. Nếu so sánh với Hoa Kỳ hiện nay, lực lượng Cảnh Sát vẫn còn đó, các cấp chính quyền trung ương và địa phương vẫn còn đó mà vẫn xảy ra các cuộc tập họp biểu tình có hôi của, có đập phá, có bạo động chết người… thì VNCH vào tháng 4/1975  xứng đáng được vinh danh và tự hào biết mấy.

4.4 Vì tình hình chiến cuộc gia tăng, chính phủ VNCH phải ban hành LỆNH TỔNG ĐỘNG VIÊN rồi sau đó là LỆNH ĐÔN QUÂN, nhưng chính phủ VNCH vẫn đào tạo nhân tài đủ mọi ngành nghề, vì các nhà lãnh đạo của VNCH quan niệm chiến tranh chỉ là giai đoạn tạm thời, chiến tranh  rồi sẽ chấm dứt, mục tiêu kiến thiết và xây dựng đất nước mới là chính yếu và quan trọng hơn các mục tiêu “chiến thắng kẻ thù” hay các mục tiêu đem lại “tự do tôn giáo “, mục tiêu “chống tham nhũng”, “cứu đói cho dân nghèo” hay các mục tiêu xa vời như “xây dựng dân chủ pháp trị” mà các ông bà khoa bảng thường kêu gọi trong các cuộc hội thảo chính trị tại các thành phố lớn.

4.5 Nhờ có tự do nên Kinh Tế, Khoa Học, Kỹ Thuật, Quản Trị,  Văn Học, Nghệ Thuật và cơ cấu xã hội của VNCH phát triển vượt bực (VNCH so sánh với các quốc gia lân cận như Thái Lan ,Đài Loan, Malaysia, Indonesia, Philippines, Miến Điện, Brunei… thì được xếp hạng cao hay bằng chứ không thua kém các quốc gia đó mặc dù các quốc gia lân cận được yên bình không có chiến tranh như tại Việt Nam.)

Dẫn chứng: Trước 1954, sức mạnh văn minh của Đông Dương (Indochine) trụ tại miền Bắc Việt Nam, nhưng sau 1954, chỉ trong vòng 20 năm (đến 1975) VNCH đã vượt xa Bắc Việt về mọi mặt. Cho đến bây giờ 2020 (nghĩa là sau 45 năm ), miền Bắc vẫn chưa đuổi kịp miền Nam. Môt thực tế hiển nhiên là quan niệm đào tạo con người của VNCH chú trọng đến giá trị của phẩm chất ( = Quality) đã tỏ ra hữu hiệu và thiết thực hơn là quan niệm chú trọng vào số lượng đại trà ( quantity)

Thí dụ thứ hai: Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hiện nay tự hào có 7,000 tiến sĩ nhưng phẩm chất là zero đến nỗi Bộ Trưởng Bộ Công Nghiệp của Hà Nội hí hửng reo mừng khi Việt Nam được hãng Sam Sung giao việc làm là chế tạo con đinh vis của chiếc điện thoại Galaxy của Sam Sung.

Thí dụ thứ ba: So sánh thành quả của cộng đồng người Việt tỵ nan Cộng Sản ra đi từ miền Nam hiện nay quần cư nhiều ở Hoa Kỳ, Pháp, Canada, Australia… với cộng đồng người Việt ra đi từ miền Bắc hiện nay tập trung ở Nga, các nước Động Âu… thì thấy ngay sự ưu việt nằm ở phía nào.

THAY LỜI KẾT

Cách nay vài năm, cô giáo Trần Thị Lam ở Nghệ An cùng một số trí thức trẻ quan tâm đến vận mệnh đất nước Việt Nam, những người ưu tư này đã đặt câu hỏi : “Rồi Đất Nước Mình Sẽ Đi Về Đâu ?”

Cá nhân người viết có nêu ý kiến là câu hỏi đó thừa thãi, vì khi đất nước có đi tới mà không định hướng được rõ rệt  và đi theo tốc độ nhanh hay chậm thì mới nên thắc mắc là ĐI VỀ ĐÂU? Chớ còn Việt Cộng đang đưa đất nước Việt Nam ĐI GIẬT LÙI thì đâu cần thắc mắc là sẽ đi về đâu làm chi cho mệt !

San José ngày chủ nhật 14 tháng 6 năm 2020

[

Share this post

One thought on “Những Huyền Thoại Sai Lầm Vể Lịch Sử Chiến Tranh Việt Nam Từ 1945 Đến 1975 – Trần Trung Chính