Những Người Tù Cuối Cùng – Phạm Gia Đại (Phần II)

Phần II: Cánh Cửa Địa Ngục

Chúng tôi ngồi đó trên dốc đồi thoai thoải nhìn xuống hướng xa lộ chạy về Sài Gòn phía bên ngoài của một lớp hàng rào đan vào nhau bằng những tấm tôn mỏng chạy vòng chung quanh khu làng cô nhi Long Thành nay đã được biến thành trại tạm giam cho các tù “cải tạo” thuộc chế độ cũ.

Trời đã mát và bóng nắng đang lùi xa dần về hướng xa lộ, hơn ngàn anh em chúng tôi – những người đang bị tập trung tại cái cô nhi viện hoang vắng này đã một năm rồi – thường vẫn hay đi tản bộ quanh khu nhà hay ngồi bên dốc đồi mà mắt hướng về phía Sàigòn sau bữa cơm chiều. Có lẽ trong mỗi người, tuy không nói ra nhưng ai cũng tự hỏi bây giờ những người thân yêu của họ đang làm gì và có nhớ đến họ như họ đang thương nhớ đây không? Và cuộc sống của những người thân thương ấy bây giờ ra sao sau một năm dài không tin tức?

Tôi nhớ lại một năm trước, hôm xách ba lô và nhờ cậu em họ chở đến nơi tập trung là trường Chu Văn An trước đôi mắt mở to ngạc nhiên của hai đứa con lúc đó mới bốn và năm tuổi và chúng hỏi tôi rằng Bố đi đâu vậy và bao giờ thì Bố về? Tôi cố ngăn niềm xúc động đang dâng lên trong lòng và bảo cậu em họ nổ máy xe ra đi mà không dám ngoảnh nhìn lại và cũng không ngờ rằng tôi sẽ chẳng bao giờ còn trở về mái nhà đó nữa.

Ngày ra đi ấy theo như lời tuyên truyền của Uỷ Ban Quân Quản thành phố thì sẽ kéo dài một tháng, nhưng không ngờ thời gian đó đã thành như thiên thu bất tận nhằm nghiền nát cuộc đời của hàng trăm ngàn thanh niên miền Nam trong những trại giam mà được khoác cho chiếc áo lừa bịp cả trong nước và thế giới là “khoan hồng nhân đạo” và “tập trung cải tạo”.

Khi bước chân vào ngôi trường Chu Văn An năm xưa, lòng tôi không khỏi bồi hồi nhìn lại ngôi trường thân yêu mà đúng mười năm trước tôi đã thi đậu Tú Tài II để rồi trôi vào giòng đời. Mười năm rồi, thời gian đủ để cho vật đổi sao dời nhưng sao ngôi trường vẫn những hình nét ấy không đổi thay.

Một người dáng thư sinh vừa đi ngang qua chỗ tôi ngồi ngoài hành lang, đúng là ông thầy trẻ tuổi dậy Anh văn chúng tôi năm Đệ Tam. Vẫn cái dáng thư sinh và gọng kính trắng ấy, nhưng hình như thầy gầy ốm đi nhiều và tâm trí thì để nơi đâu nên cứ lầm lũi bước đi qua đám người trong đó có tôi, đang nằm ngồi ngổn ngang bên trong và ngoài các lớp học, những con người với một tương lai vô định.

Sau khi chiếm được miền Nam, với cái chiến thắng quá nhanh và hầu như bất chiến tự nhiên thành đó, Cộng quân quá ngỡ ngàng nên có nhiều thành phố bỏ ngỏ cả tuần lễ sau Cộng quân mới dám lò dò đến để “tiếp thu” vì vẫn còn e ngại là người Mỹ chưa thực tâm bỏ rơi miền Nam hay dụ họ vào thành phố bỏ hoang để tiêu diệt như một số cán binh họ nói lại sau này.

Ủy Ban Quân Quản với sự chỉ đạo của miền Bắc đã tuyên truyền ầm ĩ trong nước và trên thế giới về cái gọi là chính sách “khoan hồng nhân đạo” và cho hàng triệu người đã cộng tác với chế độ cũ “được đi học tập cải tạo” ba ngày tại địa phương cho sơ cấp và mười ngày hay một tháng cho trung và cao cấp.Tôi được thông báo là chuẩn bị đi một tháng và tập trung tại trường Chu Văn An. Ngồi nhìn chung quanh, tôi chưa gập một khuôn mặt thân quen nào, có thể vì quá đông. Tôi bèn nằm dài ra dựa vào ba lô tìm giấc ngủ. Khoảng nửa đêm thì nghe tiếng của một đoàn xe căm nhông Nga Sô loại Motorola chạy vào khuôn viên của trường và chúng tôi được đánh thức dậy để lên hết trên xe, rồi đoàn xe di chuyển dọc theo xa lộ và thẩy chúng tôi xuống làng cô nhi Long Thành này.

Lúc đó cô nhi viện này chỉ còn là những cái xác nhà trống tuyếch không cửa sổ lẫn cửa ra vào và nằm thành hai dẫy.

Ngày thứ hai mươi chín tại trại Long Thành, anh Thúy thuộc Phủ Đặc Ủy TƯTB nằm đối diện, nhìn tôi nheo mắt lại ý nói rằng thời hạn một tháng như họ tuyên bố đã chấm dứt. Anh Lộc, Quyền Đặc Ủy Trưởng thì hỏi tôi nghĩ ra sao và khi tôi chưa kịp trả lời thì anh đã nhìn tôi một cách rất bi quan và nói là anh không tin họ sẽ thả chúng ta ra đúng một tháng như họ đã tuyên truyền.

Ngày hôm sau đúng một tháng tròn đi “cải tạo”, tất cả đều yên tịnh không có một dấu hiệu gì khác lạ và y như một ngày thường; cho đến buổi chiều thì đột nhiên có một nhóm cán bộ mặc quần áo đồng phục xanh theo kiểu “giải phóng”, đội mũ tai bèo và vài tên chỉ huy Bắc Việt vào trại và ra lệnh cho chúng tôi tập hợp lại hết trong một căn nhà trống.

Có một anh Bảy nào đó đứng ra nói chuyện về chính sách “khoan hồng nhân đạo” và về những “tội” mà chúng tôi đã làm trước kia “chống lại nhân dân”. Cuối cùng anh nói một câu thật là ngắn gọn và thật là giản dị rằng thời hạn một tháng đã chấm dứt và chúng tôi không phải đóng tiền gạo hàng tháng nữa mà từ nay Đảng và nhà nước sẽ nuôi các anh “học tập” cho tốt để trở thành “người dân lương thiện” hầu hội nhập với xã hội sau này, và hỏi xem ai có thắc mắc gì không.

Khi anh vừa dứt tiếng, cả căn nhà dùng làm hội trường chợt im lặng, một cái im lặng chết chóc khác thường đang bao phủ tất cả chúng tôi và không ai bảo ai mọi người đều lặng lẽ trở về chỗ nằm.

Đêm ấy, tôi không tài nào chợp mắt được, đêm Long Thành thật là mát mẻ, trên trời ánh sáng lung linh mờ ảo và nhạt nhòa của Mặt Trăng thượng tuần tỏa xuống thật yếu ớt không đủ đem xuống một chút tin yêu nào cho những con người đang sa cơ thất thế trong tay địch. Tôi ra ngoài hàng hiên ngồi tựa vào tường và nhìn ra xa lộ lúc đó đã tím thẫm và lâu lắm mới thấy một chiếc xe chạy vụt qua như nó cũng sợ bóng đêm vậy.

Một lát sau, tôi thấy lục tục một số bạn cũng ra hàng hiên ngồi hút thuốc và tâm sự với nhau. Một anh bạn đốc sự phó quận nói nhỏ với tôi: ”Họ chỉ cần giam giữ chúng ta như thế này thôi thì buồn chán quá chúng ta từ từ cũng chết”.

Không biết đó có phải là điềm báo trước hay không vì sau đó không những thời gian giam cầm không còn hạn định nữa mà họ cũng chẳng cho chúng tôi ngồi không để buồn chán đến chết, mà chiến dịch “Lao Động là Vinh Quang” còn làm cho chúng tôi dần dần kiệt sức trong tình trạng sống dở chết dở.

Buổi tối hôm đó, lần đầu tiên tôi hút hết bao thuốc Basto xanh với anh bạn bên cạnh và nằm thao thức mãi chờ trời sáng.

Chúng tôi bắt đầu làm quen với lao động tay chân như trồng khoai, sắn, rau muống, lên luống và thời gian từ từ trôi qua cho đến đúng sáu tháng thì có một đợt thả lớn và hầu hết các chị và các anh em tương đối “nhẹ tội” hơn đã được kêu tên ra về và tổng số hơn ba ngàn người chỉ còn lại hơn một ngàn và được “biên chế” về hết bên dãy trái, còn dãy bên phải thì bỏ trống.

Sau đó thì họ sàng lọc lại và “biên chế” chúng tôi vài lần nữa và tôi được đưa về căn nhà số sáu cùng với một anh Sửu, bạn cùng ngành nhưng khác sở và một số sĩ quan cấp tá của ngành đặc biệt, một số thuộc ngành an ninh và Phủ Đặc Ủy.

Sống trong trại Long Thành được một năm thì một đêm, một đêm cũng bình thường như những đêm khác, nhưng tôi không bao giờ quên được cái đêm tăm tối ấy.

Buổi tối hôm đó, đang nằm ngủ thì tự dưng có linh tính gì khiến tôi thức dậy, đồng hồ mới chỉ một giờ sáng, tôi tung cái mùng ra và bước ra ngoài hiên nhìn ra sân.

Cả khu trại yên lặng như tờ và đen như mực không một ánh sáng gì của trăng sao, chỉ thỉnh thoảng mới thấy vài cán binh mũ tai bèo và bộ đội Bắc Việt vác súng đi tuần ngoài sân ra hiệu cho tôi trở vào căn nhà.

Vừa quay mình định bước chân vào thì tôi chợt thấy lấp loáng ánh đèn pin từ phía cổng trại chiếu vào về phía tôi đang đứng và tiếng người nói lao xao và chỉ một phút sau thì khoảng vài chục bộ đội đa số là Bắc Việt và súng AK lăm lăm trong tay di chuyển thẳng về căn nhà tôi đang ở.

Tôi vội chui lại vào trong mùng và huých tay đánh thức hai thằng bạn hai bên thức dậy. Vừa lúc đó thì đám bộ đội đó xộc vào căn phòng và ra lệnh cho chúng tôi ra tập hợp ngoài sân.

Tôi cảm thấy một thoáng hơi lạnh chạy dọc theo xương sống rồi bình tĩnh trở lại nhưng mấy anh bạn khác thì không biết có phải vì sương đêm đang đổ xuống thấm lạnh nên tay châm điếu thuốc mãi mà không cháy.

Chúng tôi nhìn nhau lần nữa và trong đầu nghĩ rằng thế là xong và mỗi người sẽ lãnh một viên đạn trả nợ cuộc đời – cái giá cho kẻ thua trận.

Căn nhà chúng tôi đang ở gồm hai trăm người và sắp hàng trước sân, toán bộ đội khoảng bốn chục người chia ra bao vây chúng tôi rồi một tay chỉ huy rút một tờ giấy trong túi ra nói rằng những ai có tên thì đứng qua một bên.

Anh ta còn trẻ và không đeo “quân hàm” nên không rõ cấp bậc gì. Rất thản nhiên và cũng rất là từ từ anh ta đọc tên từng người một, đến người thứ tư là họ tên của tôi trong tổng số tất cả bốn mươi người đã được sàng lọc trong danh sách hai trăm người.

Tay chỉ huy này với cặp mắt lạnh lùng bảo chúng tôi bốn mươi người hãy gấp rút chuẩn bị để di chuyển với hành lý gọn nhẹ, trong khi các tay cán binh thì lăm lăm tay súng như chực nhả đạn và mắt thì nhìn chúng tôi một cách thù hận.

Tôi vội vã nhét được những gì có thể vào trong một cái ba lô và ra dấu cho các bạn còn ở lại những món đồ mà tôi không đem đi được để họ tiếp tục có cái mà dùng, rồi quay ra giúp cho anh bạn cùng ngành với tôi xách theo cái thùng đựng nước. Tôi cũng không rõ anh đem theo cái thùng này để làm gì trong khi có nhiều thứ khác cần mang theo hơn, hay có lẽ thấy cái gì trong tầm tay thì anh xách theo vì đầu óc cũng đang bối rối chăng.

Ngoài sân, trời thì tối đen và chúng tôi chỉ có thể phân biệt được là đang di chuyển về phiá cổng trại nhờ ánh đèn đường yếu ớt chiếu xuống và ánh đèn pin loang loáng của các cán binh đi theo áp tải.

Anh bạn đang đi bên cạnh tôi chợt thở dốc có lẽ vì cơn suyễn và buông cái túi xách xuống dừng lại để thở, một tên cán binh bước lại giơ báng súng lên thúc dục, tôi vội giơ tay ra cản và xách dùm cái túi và đi kèm sát bên anh.

Cuối cùng thì chúng tôi cũng ra đến chỗ đậu xe cách đó gần nữa cây số. Tên chỉ huy lúc nãy ra khẩu lệnh cho chúng tôi khi đoàn xe di chuyển, nhắc lại từng điểm chúng tôi không được làm khi ngồi trên xe, và nói sẽ trừng trị nếu ai vi phạm, và lần đầu tiên trong đời tôi biết cái còng số tám và sợi xích sắt. Vì số còng đã hết nên họ đã dùng những sợi dây xích bằng sắt để xích hai người lại với nhau. Tay trái tôi xích vào tay phải của anh Sửu và tên cán binh siết lại thật chặt rồi mới tra ổ khoá vào. Cổ tay anh Sửu lớn hơn cổ tay tôi nên tôi nhìn rõ nét đau đớn hiện lên trên khuôn mặt sạm nắng của anh.

Anh cũng làm cho Toà Đại Sứ Hoa Kỳ (HK) tại Sài Gòn như tôi, anh thì yểm trợ cho Tổng Nha Cảnh Sát Đô Thành còn tôi thì cho Phủ Tổng Thống. Anh đã đi theo bao nhiêu là chuyến bay trong tháng Tư năm một chín bẩy lăm từ Sài Gòn ra Guam và vài căn cứ nữa của Mỹ trên Thái Bình Dương (TBD) để chuyên chở tài liệu và nhân viên không thiết yếu di tản trước.

Các nhân viên sứ quán Mỹ cần thiết thì đã nhận được lệnh là phải ở lại yểm trợ cho chính phủ VNCH cho đến giờ phút cuối cùng rồi mới được di tản sau. Không ngờ chuyến cuối cùng thì anh bị kẹt lại Sài Gòn vì chương trình di tản bằng đường hàng không từ Tân Sơn Nhất đã bị đình chỉ vì tên phi công nằm vùng Nguyễn Thành Trung đã lợi dụng tình hình để bỏ bom vào sân bay Tân Sơn Nhất; và chỉ còn con đường độc nhất di tản là bằng trực thăng mà thôi.

Riêng tôi thì ba ngày trước khi Sài Gòn sụp đổ đã được các cố vấn Mỹ thân cận trong buổi họp sau chót tại Sứ Quán Hoa Kỳ hứa hẹn là tôi vẫn nên hết sức yểm trợ phía chính phủ VNCH đến cùng, và họ sẽ đem trực thăng đến đón gia đình tôi tại nhà dù là trong tình trạng dầu sôi lửa bỏng.

Kế hoạch di tản thứ nhì là năm ngàn Thủy Quân Lục Chiến Mỹ (TQLC) từ Đệ Thất Hạm Đội ngoài khơi Thái Bình Dương sẽ vào để thiết lập một vòng đai an toàn từ Sài Gòn ra tới Vũng Tầu cho chương trình di tản bằng đường bộ được tiếp tục nếu đường hàng không bị trở ngại.

Khi buổi họp kết thúc, mọi người đều tin tưởng rằng chương trình di tản sẽ được thực thi hoàn hảo và những nhân viên thiết yếu của Sứ Quán Hoa Kỳ cũng sẽ được ra đi chu toàn trước khi Sài Gòn rơi vào tay quân Bắc Việt.

Chiếc trực thăng hứa hẹn đón gia đình tôi ấy không bao giờ xuất hiện và vòng đai an toàn Sài Gòn-Vũng Tầu của TQLC Mỹ đó cũng trôi theo giòng nước như những lời hứa cam kết không bao giờ bỏ miền Nam của chính phủ và các Tổng Thống HK.

Thế rồi chúng tôi leo lên những xe cam nhông bít bùng, chỉ hở phía sau, chạy bon bon trên xa lộ, thỉnh thoảng mới thấy dọc hai bên có một vài hàng quán ven đường đang chuẩn bị mở cửa cho một ngày buôn bán mới, với những ngọn đèn dầu hiu hắt. Thành phố hình như đang say ngủ, còn tất cả chỉ là bóng đêm và gió thổi xào xạc trên những ngọn cây.

Khoảng một giờ đồng hồ sau khi xe chạy trên xa lộ và rẽ quặt vào qua ba cánh cửa sắt đến trong sân thì chúng tôi nhận ra đang ở trong trại Cải Huấn Thủ Đức.

Khi bốn chục người được dồn chung vào một căn phòng xong thì cánh cửa sắt to lớn nặng nề đóng sầm lại và khoá trái bên ngoài.

Một năm ở trại Long Thành, họ đã để cửa ngỏ, bây giờ lần đầu tiên họ chính thức đối xử với chúng tôi như những tù nhân.

Sau ba ngày giam giữ tại trại Thủ Đức, đêm ngày thứ ba nghe thấy tiếng lách cách mở khoá, chúng tôi ngồi dậy và được lệnh nhanh gọn tập trung di chuyển nữa.

Ra đến sân trại thì thấy chai lọ và các vật dụng cá nhân linh tinh vất đầy sân bừa bãi, như vậy là đã có những toán khác vừa ra đi xong.
Hai chiếc xe âm thầm chạy trong đêm hướng về thành phố, tim tôi tự dưng đập mạnh hơn khi nghĩ đến những người thân yêu chắc giờ này đang say ngủ nhưng rồi hai chiếc cam nhông không đi vào thành phố mà lại rẽ vào phi trường và đổ đám tù nhân xuống bên cạnh chiếc máy bay vận tải khổng lồ Hercules C-130 của HK để lại cho Không Quân VNCH,

Ngồi trên chiếc C-130 với phi công là một trung tá cũ của không quân VNCH lòng tôi ngổn ngang trăm mối vì chỉ mới mấy ngày qua mà bao nhiêu là biến đổi và không biết tương lai mình và các bạn mình sẽ đi về đâu?

Chiếc C-130 này là loại máy bay mà tôi sử dụng nhiều nhất trước kia khi còn làm việc cho Đệ Thất Không Đoàn Hoa Kỳ trong những chuyến bay ra miền Trung nhưng không ngờ bây giờ tôi lại ngồi trên chiếc ghế vải này trong thân phận tù tội, cuộc đời quả thật không ai học được chữ ngờ. Sau này tôi được tin là viên trung tá phi công VNCH chở tụi tôi chuyến đó và một vài chuyến nữa xong cũng được Đảng và Nhà Nước Cộng Sản chiếu cố “khoan hồng” cho đi “cải tạo”. Họ chỉ sử dụng một số nhân tài của miền Nam tạm thời xong là cho đi luôn nếu có dính dáng gì đến chế độ cũ.

Một thời gian sau, tôi còn nghe được tin là đám “Mặt Trận Giải Phóng miền Nam” cũng được Hà Nội cho đi chỗ khác chơi, và “Thành Đồng” đã trở thành “đồng nát” hết.

Chiếc C-130 cứ bay lặng lẽ hết giờ này qua giờ khác, chúng tôi nhìn nhau tự hỏi hay là họ cho phi cơ bay vòng vòng sợ chúng tôi đoán biết được nơi sẽ đến? Có anh em đoán rằng họ sẽ đem tù ra Phú Quốc để giam giữ tại đó nhưng sau khi bay được khoảng gần bốn tiếng đồng hồ thì tay cán bộ ngồi cạnh tôi, tóc bạc, không đeo cấp bậc quay sang hỏi tôi là đã đi trên chiếc C-130 này lần nào chưa và có biết đi đâu không. Khi ông ta hỏi lần thứ nhì thì tôi mới trả lời là đã nhiều lần rồi và không biết. Khi ông ta nói nơi máy bay đang đáp xuống thì tất cả các anh em ngồi gần nghe được thẩy đều bàng hoàng.

Chiếc Hercules khổng lồ đang lượn cánh để đáp xuống phi trường Gia Lâm, miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Chúng tôi cũng như hàng vài chục ngàn người tù chính trị khác đã được phân loại “nguy hiểm cho chế độ” và phải được di chuyển ngay bằng mọi phương tiện từ Nam ra Bắc. Bứng chúng tôi khỏi mọi gốc rễ miền Nam để họ rảnh tay đưa miền Nam mau chóng vào quỹ đạo của xã hội chủ nghĩa.
Lúc đó trời đã rạng sáng và vào cuối mùa Hè, chúng tôi đặt chân xuống đất bên cạnh những túi xách hay ba lô cá nhân, hai người một vẫn bị còng lại với nhau suốt chặng đường từ trại Cải Huấn Thủ Đức ra sân bay và trên máy bay.

Nhìn sân bay Gia Lâm, một sân bay được coi là lớn vào hàng thứ nhì tại miền Bắc mà hoang tàn và hoang phế như một sân cỏ với những đám cỏ tranh và bông lau cao đến nửa người mà không ai buồn ngó ngàng tới, tôi như có một linh cảm không lành về đợt chuyển trại này. So với sự nhộn nhịp của phi trường Tân Sơn Nhất thì sân bay Gia Lâm này là vùng đất chết. Tôi như cảm nhận được cái gì thật lạnh lẽo u ám không sinh khí khi vừa đặt chân xuống sân bay và miền đất hoang dã này.

Qủa thật chỉ trong một đêm, không ngờ chúng tôi đã giã từ miền Nam thân yêu để đặt chân lên miền Bắc xã hội chủ nghĩa hoàn toàn xa lạ như đến một đất nước khác không phải trên quê hương mình. Trên bước đường lưu đầy, tôi cũng không thể nào ngờ rằng bao nhiêu những gì tăm tối nhất, đọa đầy nhất, ngục tù nhất trên thế gian đang chờ đón tôi và các người tù này trong suốt mười hai năm trời ròng rã.

Nếu lúc đó họ ban cho mỗi người chúng tôi một phát súng thì họ còn một chút nhân đạo nhưng mười hai năm lao động khổ sai lưu đầy trong tình trạng thiếu ăn thiếu mặc và suy dinh dưỡng, qua những mùa Hè nắng chói chang kiệt sức ban ngày và oi bức mất ngủ ban đêm và những mùa Đông dài âm u lạnh thấu xương tủy thì chúng tôi chợt hiểu rằng họ không muốn cho chúng tôi chết đi dễ dàng.

Chính sách “khoan hồng nhân đạo” đó làm chúng tôi sống dở mà chết đi cũng không được bởi vì họ đã áp dụng đúng mức cái phương pháp “cải tạo” của Nga Sô và Trung Cộng trong các trại tập trung. Họ đã tìm ra cách trả thù thâm độc nhất là để cho chúng tôi sống nhưng chết đi từng giờ, từng ngày, từng tháng, và từng năm.

Chúng tôi đã vừa bước chân vào chốn Địa Ngục trần gian, nơi không có ngày tháng, nơi hoang vắng tình người, nơi mà sự sống và cái chết luôn kề cận bên nhau như bóng với hình, và nơi mà tính mạng con người không hơn cọng rơm và cỏ rác.

Cánh cửa của Địa Ngục vừa mở rộng ra để đón nhận chúng tôi vào.

Đọc tiếp phần III: https://www.tvvn.org/nhung-nguoi-tu-cuoi-cung-pham-gia-dai-phan-iii/

Share this post