Những Người Tù Cuối Cùng – Phạm Gia Đại (Phần III)

Phần III: Hạnh Phúc Mong Manh

Anh ngồi bên những luống cải, rau muống và mấy cái dàn mướp, bí bầu và khổ qua, nghỉ một lát để chờ giờ nhập trại với các bạn trong đội 23. Các bạn anh hầu hết ai cũng tìm một mảnh đất nhỏ nào để canh tác riêng cho mình, nhờ thế mà vừa có được rau tươi sạch sẽ cho bữa cơm lại vừa giữ được sức khoẻ.

Anh là một trong 20 người tù chính trị của chế độ cũ còn sót lại sau bao nhiêu là đợt thả ở trại Hàm Tân Z-30D này. Vì số lượng còn lại quá ít nên trại đã hầu như để cho anh và các bạn được thoải mái lao động tự giác chứ không còn chế độ giao chỉ tiêu nữa, nên nhờ Trời cũng dễ thở hơn.

Bầu trời chiều nay một mầu xanh thẳm và trong vắt không gợn một áng mây. Anh nhìn ra chung quanh toàn là những cây Buông lớn nhỏ bao quanh khu vực sản xuất và những con suối róc rách chẩy qua gần đó, một vùng mà ngày trước là khu rừng thiêng nước độc ít ai dám ở, sau nhờ vào các người tù hình sự về đây đầu tiên rồi đến những tù chính trị về khai phá và đã làm cho khu vực này trở thành thuần hóa hơn và phát triển mạnh và đem lại sự sung túc cho trại từ dạo ấy.

Nhìn lại mình, anh vẫn không thể tượng tượng rằng mình vẫn còn sống, thật như là một phép lạ. Tay anh rờ một bẹ cải xanh đang vươn ra chắc nịch, nâng trái bí đã quá nặng lên trên dàn, để cảm nhận đích thực rằng mình vẫn còn hiện hữu trong một cuộc sống quá lênh đênh trên cõi đời này. Nhiều lúc anh cho rằng mình đã sinh ra dưới một ngôi sao xấu để tự an ủi mình mà thôi nhưng dầu sao thì mình vẫn còn đây dù là những người thân yêu nhất của anh thì bây giờ đã xa cách nghìn trùng.

Hạnh phúc nhỏ nhoi nhất của anh là những khi được thư từ hay những món quà nho nhỏ từ nửa bên kia vòng trái đất gửi về, dù là anh biết đêm hôm đó mình sẽ không thể nào đi tìm được giấc ngủ. Ban đêm, ngồi một mình trên chiếc giường đơn trong cái mùng vải trong khi đọc kinh và khấn nguyện trước khi đi ngủ, anh có lần thầm trách ông Trời bất công, tại sao vừa cho anh một chút hạnh phúc nhỏ nhoi thì đã lấy lại của anh một giấc ngủ? Tuy vậy, anh vẫn thầm nghĩ rằng số phận cuối cùng đã mỉm cười với anh bởi vì anh vẫn còn sống.

Những buổi chiều êm đềm như buổi chiều hôm nay với tiếng gió thì thào thổi qua rừng lá Buông, tiếng chim hót líu lo như gọi nhau bay về tổ ấm của chúng vì màn đêm sắp buông xuống, thì tâm hồn anh thật nhẹ nhàng và thấy như lòng mình lắng đọng và những cảnh vật chung quanh như mờ dần đi và cái con tầu ấy như từ từ hiện rõ dần ra như một cơn ác mộng mà anh không thể nào quên được…

Cuộc đời anh quả thật như một cuốn tiểu thuyết đầy những yếu tố bất ngờ kể từ khi anh và hàng ngàn người Việt Nam đã quyết định trở về quê hương trên con tầu Việt Nam Thương Tín (VNTT) định mệnh đó.

Chuyến trở về trên con tầu định mệnh mà đã vùi dập cuộc đời của hàng ngàn người chỉ vì lòng thương nhớ gia đình, thương nhớ quê hương của họ.

Khi miền Nam đang chìm trong khói lửa của biến cố 30 tháng Tư tang tóc thì anh may mắn đi thoát được đến đảo Guam, bến bờ của Tự Do – niềm ao ước vô biên của hàng bao nhiêu triệu người Việt Nam vào ngày mà Sài Gòn sụp đổ và những năm tháng sau đó.

Vậy mà anh đã quyết định trở về sau một thời gian ngắn đến được đảo Tự Do này bởi vì vợ con anh đều bị kẹt ở lại Sài Gòn.

Hình ảnh người vợ hiền và những đứa con dại còn ở lại quê nhà cứ ám ảnh tâm trí anh dù là anh đang được sống trong bầu không khí Tự Do và tạm đầy đủ về vật chất trên đảo này.

Trách nhiệm người chồng, người cha trong hoàn cảnh loạn ly đã không quay về kịp để đón vợ con mình và đành phải ra đi ngậm ngùi một mình đã làm cho anh bao đêm thao thức và đó cũng là tâm trạng của những người quyết định lên tầu VNTT để trở về quê hương.

Nhưng có một điều họ quên rằng quê hương của họ nay đã đổi thay, căn nhà xưa nay đã đổi chủ.

Khi những người trong đoàn bước qua cái cổng sau cùng để lên chiếc tầu VNTT thì những người Mỹ trong chương trình định cư đã hết lời khuyên can họ nên quay lại vẫn còn kịp bởi vì về tới Việt Nam (VN), họ sẽ bị giam giữ và tù đầy; nhưng lòng thôi thúc vì thương nhớ vợ con gia đình và quê hương đã thắng.

Anh cũng như họ bỏ ngoài tai những lời cảnh cáo của giới chức Hoa Kỳ và bước lên con tầu định mệnh.

Khi con tầu nhổ neo quay mũi hướng về hải phận VN thì họ không thấy đâu cái anh chàng mà tranh đấu hăng nhất thậm chí còn đốt phá một số căn lều trên đảo để đòi về VN mọi giá cho bằng được đâu nữa. Lúc ấy mọi người mới lờ mờ hiểu ra rằng anh ta là một Việt Cộng (VC) nằm vùng thì cũng đã quá trễ rồi.

Hoá ra là VC trong kế hoạch hậu chiến của chúng đã cài người vào giòng người di tản qua Mỹ để tiếp tục phá hoại trong cộng đồng chúng ta tại hải ngoại.

Con tầu vẫn lặng lẽ rẽ sóng và khi người tài công báo cho biết là sắp vào hải phận Nha Trang thì mọi người đều reo hò mừng rỡ vì người Quốc Gia chúng ta ai lại không nặng lòng vì gia đình vợ con và vì quê hương đất nước?

Nhưng niềm vui đó không kéo dài được bao lâu thì được lệnh từ trong bờ đánh ra là tầu phải bỏ neo ngoài khơi và không được tiến gần sát vào bãi biển khi chưa có lệnh làm mọi người đều thắc mắc.

Họ phải chờ đến gần tối thì mới thấy ba con tầu nhỏ có võ trang và bộ đội trên đó ra đón và đưa hết họ vào bờ để con thuyền VNTT lẻ loi nằm lại cho sóng vỗ rì rào ngoài khơi.

Lúc đó họ mới cảm thấy một cái gì nguy hiểm đang rình rập chung quanh nhưng đã quá muộn màng vì một màn lưới giăng ra đã phủ chụp xuống đầu họ bất ngờ, tóm gọn hết toàn bộ những người trở về trên con tầu VNTT. Một lực lượng vũ trang hùng hậu và một đoàn xe vận tải đã chờ sẵn để chào đón họ trên bãi biển.

Tất cả đều bị tống giam theo lệnh từ trên đưa xuống trong sự ngỡ ngàng đến cùng cực của mọi người và những lời phân bua giải thích như tiếng kêu trong sa mạc.

Một vài ngày sau thì những đàn bà và con nít được thả ra cho về trước, còn các thanh niên và đàn ông đều phải trải qua cuộc thẩm tra ngày đêm vì họ nghi ngờ rằng tình báo Mỹ đưa người về lại VN để đánh phá “cách mạng”. Anh đúng là từ trên Thiên Đường phút chốc rơi xuống Hỏa Ngục trên đất nước của mình.

Anh đã bị họ khám xét không còn một chỗ nào trên người thoát khỏi cặp mắt cú vọ của mấy tên công an và phản gián. Những lời khai của anh là vì nhớ vợ con mà quay về không được họ chấp nhận và những cuộc hỏi cung như liên tu bất tận làm cho anh kiệt sức.

Họ khám xét từng centimét trên con người của anh từ cọng tóc đến ngón chân, thậm chí soi cả vào cổ họng, hốc mũi, hai vành tai cho đến cả hậu môn làm cho anh cảm thấy mình không còn là con người nữa trong tay của họ. Những tháng ngày giam giữ sau khi tầu về đến VN là những ngày tháng kinh hoàng cho anh và những người trở về.

Họ xem xét kỹ từng tờ giấy, chiếc bút bi, áo quần, giầy vớ, và tịch thu hết vòng vàng, đồng hồ và dĩ nhiên tất cả đô la mà anh đem về.
Một số nhỏ sau đó được thả về, còn đa số bị chuyển đến trại giam khác và bắt đầu một cuộc hành trình đến một nơi vô định với một bản án không công bố và không có thời hạn vì chủ trương của họ là thà giam lầm hơn thả lầm.

Anh còn bị chiếu cố kỹ hơn nữa vì trước năm 1975, anh là nhân viên của tổng lãnh sự Mỹ tại Nha Trang nên họ kết luận ngay là điệp viên Hoa Kỳ và không cần xét xử gì lâu la hơn.

Giấc mơ được về sum họp với gia đình được nhìn thấy vợ con của anh tan ra như bọt sóng đại dương một cách thật không thể nào hình dung ra nổi với cái chế độ mới kỳ quái này trên cái quê hương này nữa.

Anh không những không được nhìn thấy vợ con mình, gia đình anh cũng không hề được thông báo là anh đã trở về để đến thăm anh mà thân anh tự dưng sa vào vòng tù tội không biết lúc nào ra.

Cuộc đời anh từ đó gian nan và phiêu lưu còn hơn câu chuyện người tù khổ sai Papillon anh từng đọc khi trước.

Sau nhiều năm qua nhiều trại giam và ra lưu đầy tại miền Bắc thì anh mới bắt đầu nhận được tin gia đình như một cái sét đánh ngang tai vì vợ con anh quá nhớ thương anh và không chịu nổi đời sống kìm kẹp và tàn bạo của chế độ Cộng Sản nên đã lên đường vượt biển. Anh từ bên kia bờ đại dương theo tầu trở về, không gập được những người thân yêu, rơi vào tù tội trong khi vợ con anh lại nghĩ rằng anh đang trên đất Tự Do và lao ra biển để tìm đường sum họp. Ông Trời quả thật là quá trớ trêu để cho con Tạo xoay vần như không.

Bao nhiêu năm sau đó anh sống như người mất hồn trong một thân xác trống rỗng cho đến khi qua những gia đình bạn anh đến thăm nuôi thì anh được tin là vợ con anh đã đến được bến bờ Tự Do bình yên, lúc đó anh bắt đầu bình tĩnh trở lại và cố gắng sống còn để mong còn có ngày đoàn tụ.

Những ngày tháng đầu tiên trong phòng biệt giam, ăn uống thiếu thốn toàn khoai sắn và thẩm vấn căng thẳng ngày đêm, đã có những lúc anh nghĩ đến sự giải thoát cho thân xác hết đau khổ, nhưng hình ảnh vợ con hiện lên làm anh lại cố gắng chịu đựng từng ngày. Sau một thời bị biệt giam, anh được đưa ra buồng giam lớn và may mắn được ở chung với các bạn tù chính trị chế độ cũ và sức khoẻ của anh dần dần hồi phục.
Năm 1979, khi từng đoàn người trong Nam tải hàng tiếp tế cho chồng con của họ đang bị giam trong các trại miền Bắc thì việc thăm nuôi đó, những sự hy sinh đó của gia đình đã đem lại luồng sinh khí cho những người tù này trong đó có anh.

Ngay cả những trại giam và những cán bộ phụ trách khu thăm nuôi cũng bẩy tỏ lòng thán phục với gương hy sinh của những người vợ, người Mẹ hay thân nhân vất vả từ Nam ra Bắc. Ngoài ra, anh cũng lên tinh thần khi biết phía bên kia bờ biển Thái Bình Dương cũng có nhiều cá nhân hội đoàn VN và Hoa Kỳ đang ngày đêm tranh đấu cho những người tù chính trị sớm được thả ra khỏi trại giam.

Nhờ vào những sự tranh đấu này và sự tiếp tế vật chất tiền bạc thuốc men từ gia đình mà cuộc sống của anh và các bạn trong lao động khổ sai và lưu đầy cũng bớt phần gian khổ và nhân phẩm được tôn trọng hơn. Những người tù này không còn phải mặc áo quần đóng dấu “cải tạo” sau lưng nữa, có thể mặc quần tây áo sơ mi gia đình gửi đến, và buổi tối được ở ngoài sân cho đến chín giờ thì mới phải vào buồng giam.

Anh dù là qua bao nhiêu gian truân bao nhiêu là thăng trầm như từ cõi chết trở về cõi sống nhưng lúc nào anh cũng tỏ ra hoà nhã và vui vẻ với mọi người chung quanh nhất là với các bạn tù đống cảnh ngộ và được anh em thương mến.

Nhiều người cũng về từ tầu VNTT và cũng bị lưu đầy ra miền Bắc nhưng dần dần họ được thả ra về hết. Anh Hoá, Trung Úy cũng vì theo tầu về mà bị giam mười ba năm là người bị giam lâu nhất sau anh. Sau đợt thả lớn vào tháng chín năm một chín tám bẩy và dịp Tết năm một chín tám tám thì chỉ còn chín mươi người tù chính trị còn lại trên đất Bắc trong trại Nam Hà và anh là người duy nhất còn lại của chiếc tầu định mệnh VNTT.

Thời gian sống chung tại trại Nam Hà, những khi kể về con tầu VNTT, anh kể lại với một sự bình tĩnh và chấp nhận số mệnh và không hề tỏ lời than trách Chúa hay Ơn Trên và vẫn dốc tâm cầu nguyện hằng đêm theo tôn giáo của mình. Anh cũng tìm niềm vui khi xin nhận con chó con Pepsi về nuôi và chia sẻ niềm vui đó cho cả đội. Đối với các cán bộ trại, anh luôn tỏ ra điềm tĩnh và sẵn sàng giúp đỡ cho họ hay khu gia binh nếu cần đến thuốc men hay vật dụng gì mà anh có và do đó anh cũng thâu được cảm tình và sự vì nể của các cán bộ trại giam. Chính vì những con người như anh mà cuộc sống của những tù nhân bên chính trị được cởi mở hơn và tình trạng căng thẳng giữa tù nhân và phía trại giam cũng không còn và lần đầu tiên mà nhiều người trong khu gia binh đã gọi anh và các bạn là ân nhân của họ. Mỗi khi có chuyển trại thì khu gia binh kéo ra đầy đường và giơ tay của mấy đứa con nhỏ đang bồng lên vẫy chào và luyến tiếc những người tù nhiều lòng vị tha này.

Có những cán bộ nữ thường xuyên liên lạc với chúng tôi về mua bán tại căng-tin chẳng hạn thì chạy xe đạp thẳng vào trại đến trước cửa buồng giam để chúc chúng tôi mạnh khoẻ khi vào trại mới, và mắt thì đỏ hoe và giọng nghẹn ngào xong thì lại vội vã chạy xe đạp ra sợ các người khác trông thấy. Có tên trực trại trước kia được mệnh danh là “hung thần” khi thấy chúng tôi lần lượt lên xe di chuyển vào Nam thì thốt ra một câu: ”Các anh đi rồi chúng tôi như chết đi nửa người và trại này sẽ hoang vắng lắm”.

Chúng tôi đều không ngờ rằng sau mười mấy năm bị tập trung “cải tạo” thì người bị cải tạo lại chính là họ, những người phía bên kia chiến tuyến.

Anh nhìn tôi và các bạn và trong lòng chúng tôi đang rộn lên một niềm vui vì kết cuộc thì sự nhẫn nhục chịu đựng và lòng vị tha của những người tù này đã khiến cho một điều không thể xẩy ra được đã xẩy ra, đó là những bông hoa đã nở ra được trong lòng Địa Ngục trần gian trên miền Bắc.

Anh là Hoàng Hiểu, người về từ con tầu VNTT, một trong 20 người tù cuối cùng, chỉ vì lòng thương nhớ vợ con mà đã phải trả bằng cái giá của mười bẩy năm tù đầy.

Anh được thả ra khỏi trại Hàm Tân, Bình Thuận ngày 29 tháng Tư năm một chín chín hai. Một năm sau thì anh được đưa vào danh sách Z-05 theo chương trình H.O. và qua Mỹ đoàn tụ với gia đình. Một cuộc đoàn tụ đầy xúc cảm và nước mắt nhưng là những giọt nước mắt của hạnh phúc sum vầy; một hình ảnh đoàn tụ mà anh cứ tưởng sẽ đến với anh mười bẩy năm trước khi anh leo lên con tầu VNTT để về lại quê hương.

Share this post