Những Que Diêm Không Cháy – Nghi Phương

Những Que Diêm Không Cháy – Nghi Phương

Quyên – vợ tôi mất mới đó mà đã hơn một năm. Nhanh quá. Mới ngày nào tôi còn ra vô tất tả trong bệnh viện để chăm sóc cho Quyên. Ấy thế mà… Cứ mỗi tối đi làm về ngang qua con đường dẫn vào bệnh viện là tôi lại se lòng. Vẫn là cái ông gác cửa người da đen trong bộ đồng phục cứng đờ và những cái băng ghế mà tôi đã ngồi lê lết chờ Quyên ở mỗi ca phẫu thuật. Tội nghiệp vợ tôi quá. Từ ngày chân ướt chân ráo qua xứ người Quyên đi làm đầu tắt mặt tối để lo cho cả ba cha con đi học. Đến khi tôi ra trường rồi hai đứa con cũng đỗ đạt ra trường thì cái đòn gánh nặng trĩu cong vòng qua bao nhiêu năm tháng không còn chịu đựng nổi nữa. Nó gãy ngang cái rụp. Người gánh lăn ra chết.

Tôi chôn cất Quyên tử tế nhưng nỗi buồn thì chẳng thể nào chôn được. Nó vẫn hiện hữu đó, trơ trơ ra đó, gặm nhấm lấy tôi. Quyên như người trồng cây mà chẳng bao giờ hái được quả. Thật đau lòng. Nghe lời bạn bè tôi đi đó đi đây cho khuây khỏa nhưng làm gì làm, mỗi khi bước chân về nhà thì cái buồn lại dâng trào làm tôi như bị nhận chìm trong cái cảm giác trống vắng và thê lương…

Nhà tôi có hai tầng. Tầng trên có hai phòng ngủ. Trước đây thì một phòng ngủ dành cho hai đứa con, một phòng dành cho hai vợ chồng. Sau này thì hai cháu đi làm xa không còn ở đó nữa. Quyên mất đi rồi thì tôi cũng không muốn lên lầu ngủ một mình trên cái giường rộng thênh thang như sân bóng để làm gì. Tầng trên coi như hoàn toàn bỏ trống. Tôi dọn mọi thứ xuống tầng dưới, ăn cơm xong thì ngã ra trên cái ghế sofa mà ngủ cho rồi. Ngày Quyên mới mất tôi hay chiêm bao thấy nàng lắm. Tôi nghĩ trong vòng bốn mươi chín ngày người chết chưa đi đầu thai nên chắc Quyên vẫn còn quanh quẩn bên tôi. Sau bốn mươi chín ngày thì tôi vẫn chiêm bao thấy Quyên nhưng thưa hơn. Đến sau một trăm ngày thì tôi vẫn thấy. Tôi lấy làm lạ nên đi hỏi han người nọ người kia nhưng ai cũng bảo là do tôi nhớ Quyên quá nên thấy trong mơ chứ không có gì lạ.

Tuy mơ nhiều nhưng những giấc mơ ấy không có gì làm tôi sợ mà trái lại là khác. Trong mơ Quyên không còn mang cái hình hài hốc hác tiều tụy như ở bệnh viện mà luôn xinh đẹp, dễ thương, trẻ trung và nhanh nhẹn như dạo nào. Có lúc tôi thấy Quyên và tôi đi dạo bên bờ sông. Mặt sông xanh biếc lờ lững những dề lục bình. Có một cây gì to lắm, cành de ra trĩu đầy quả. Tôi đưa tay hái cho Quyên. Quyên cười khanh khách. Có lúc tôi lại thấy hai vợ chồng đi xem phim, rồi đi chợ mua rau cải, có lúc thấy Quyên ôm về một cái bao gì to tướng. Tôi hỏi:” Em đem gì về vậy?” Quyên cười tươi hớn hở lấy ra cho tôi xem bao nhiêu quà với cái áo đầm con nít xinh xắn mà bảo:” Anh coi em mua cho con Tí nè. Anh thấy đẹp không?” Tôi gật đầu mỉm cười:” Đẹp lắm.” Quyên cười rạng rỡ, ánh mắt chan hòa yêu thương. Tỉnh dậy đầu tôi vẫn còn gối trên cánh tay tôi. Tôi nhớ Quyên quá. Tôi mặc kệ không còn đi hỏi han ai về những giấc mơ của mình nữa. Tôi thả trôi theo ngày tháng, sống lẫn lộn thực hư. Có lúc tôi mơ thấy Quyên ba đêm liên tiếp mà lúc nào cũng toàn chuyện vui.

Một ngày nọ tôi ra mộ thăm Quyên và nhận ra khoảng đất trống bên cạnh vợ tôi đã có người nằm. Mộ bia không có hình nhưng theo những dòng chữ khắc ở đó thì người mất là một người đàn ông lớn hơn tôi bốn tuổi, mất đã được ba năm. Như vậy là mộ này được cải táng từ nơi khác về. Mộ rất tươm tất, sạch sẽ, xung quanh có rất nhiều bông tươi và bình nhang thì cũng đầy những cái chân nhang. Có vẻ như người này có nhiều thân bằng quyến thuộc. Tiếng chuông của ngôi giáo đường lại văng vẳng vang lên trong buổi hoàng hôn tịch mịch. Tôi lau chùi mộ Quyên cho sạch sẽ xong thắp nhang cắm lên cho Quyên và những người xung quanh. Tới người hàng xóm mới tôi cũng cắm cho anh một cây nhang và lầm thầm van vái cho anh an nghĩ nơi chốn vĩnh hằng.

Trời ập xuống tối thui khi tôi về tới nhà.

Vẫn là tiếng chìa khóa rột rẹt khô khốc vang lên, vẫn là cái công tắc điện kêu cái “cắc” khi tôi bật đèn bước vào và bên trong vẫn là cái bầu không khí im lìm, lạnh lẽo và cô đơn…

Chẳng còn cái gì trong tủ lạnh ngoài một ít canh rau củ từ hôm qua và nửa con cá muối. Tôi hâm các thứ ấy lại và ngồi ăn lặng lẽ. Xong bữa tôi tráng miệng bằng một quả cam. Ngày còn độc thân tôi chẳng bao giờ ăn trái cây. Từ ngày lấy vợ Quyên ép tôi ăn trái cây cho có chất tươi, riết rồi quen, tôi thấy ngon, ngày nào không có trái cây là không chịu nổi. Đồng hồ điểm chín giờ. Tôi leo lên sofa bật Tivi xem rồi ngủ thiếp đi hồi nào không biết. Những âm thanh trong Tivi cứ vang vọng chập chờn trong giấc ngủ của tôi cho tới một lúc tôi giật mình vì nghe có tiếng động lạ phát ra từ trên lầu.

Hình như cái tiếng động ấy phát ra càng lúc càng lớn. Đến bây giờ thì tôi giật mình tỉnh hẳn và ngồi nhổm lên nghe ngóng. Tiếng ấy giống như tiếng của những vật gì va quẹt vào nhau nhưng khó đoán là vật gì. Tôi đứng dưới chân cầu thang bật đèn và nghe ngóng hồi lâu. Tiếng ấy khi có khi không, rất khó hiểu. Kẻ trộm chăng? – tôi tự hỏi. Vơ lấy cái chày giã cua trên quầy bếp tôi rón rén bước lên tầng trên và khe khẽ mở cửa căn phòng của mình. Trong phòng không có ai cả, trống trơn và không có gì bất thường ngoại trừ cánh cửa sổ mở mà từ đó tiếng cành cây va đập vào nhau phát ra những tiếng động vọng xuống dưới nhà. Thì ra là đây. Tôi tới đóng lại cánh cửa sổ mà không khỏi ngạc nhiên. Đã lâu tôi không hề bước chân lên lầu. Cửa sổ không bao giờ mở ra mà nay lại mở. Lạ thật. Tôi đến kiểm tra lại chốt cửa thì không thấy gì lạ, nhìn ra bên ngoài thì những cành cây vẫn còn đang quằn quại dưới cơn gió lớn. Bầu trời đen kịt, vần vũ như sắp có giông.
Thốt nhiên tôi giật bắn người. Tôi sực nhớ là chiều hôm qua tôi vừa dọn hết đồ đạc trong nhà xe ra ngoài vườn để lau dọn sàn nhà cho sạch, đồng thời xem đồ vật nào không xài thì cho từ thiện. Công việc còn dang dở thì tôi bỏ đó đi thăm người cô bị bệnh. Sau đó thì quên khuấy mất. Ngoài vườn còn ngổn ngang va li, quần áo cũ, giày cũ, nệm cũ, máy hút bụi, khung ảnh, đồ vật lưu niệm….Nếu mưa xuống một trận là tiêu tùng. Tôi hốt hoảng chạy bắn xuống thang lầu, mở cửa ra vườn đem tất cả cho vào nhà xe như cũ. Hai mươi phút sau thì trời đổ mưa như trút. Hú hồn. Tôi băn khoăn tự hỏi tại sao cái cửa sổ trên lầu lại mở ra một cách bí ẩn như thể. Để nhắc nhở mình chăng? Ai nhắc? Tôi rùng mình không dám trả lời câu hỏi ấy. Chẳng lẽ là Quyên? Mưa gió ngoài kia vẫn đập ào ào trên mái ngói. Tôi run run thắp cây nhang cắm lên bàn thờ cho Quyên. Hai mắt Quyên trong ảnh nhìn tôi trìu mến. Nước mắt ứa ra tôi khấn thầm:” Có phải em đã mở cái cửa sổ ấy ra không Quyên? Sự tận tụy của em đối với anh đã quá đầy đủ rồi còn gì, sao lại còn đem qua bên kia thế giới làm chi nữa. Em đi đi. Đừng vướng bận gì ở đây nữa. Hãy thanh thản mà đi đi…” Khấn xong tôi trở lại cái sofa trùm chăn ngủ. Trong lúc đang mơ màng tự dưng tôi giật mình vì có cảm giác như có ai đang đứng cạnh mình. Tôi hốt hoảng ngồi bật dậy mắt ráo hoảnh như muốn nhìn xuyên thấu bóng đêm thì không thấy ai cả. Được một lát tôi nằm xuống ngủ tiếp thì lại nghe khe khẽ vang lên bên tai tiếng chân ai bước lên lầu, sột soạt một chút rồi mất hẳn không còn nghe thấy gì nữa.
Sau chuyện ấy một thời gian thì tôi không còn chiêm bao thấy Quyên nữa. Tôi nghĩ có lẽ là Quyên đã đi như tôi vẫn thầm khấn nguyện cho Quyên. Tôi cũng dần quen với đời sống của một chú gà trống đơn độc, không nuôi ai chỉ phải nuôi chính mình. Nước mắt tôi không còn chảy ra nữa mà chảy ngược vào trong khi nhìn ảnh Quyên trên bàn thờ. Bạn bè ai cũng mong tôi làm lại cuộc đời nhưng dường như tôi đã chai đi rồi. Tôi chẳng buồn để ý đến ai nữa. Suốt tuần tôi cặm cụi đi làm, cuối tuần thì ra thăm Quyên.
Sáng hôm ấy tôi cũng chuẩn bị một ít trái cây và hoa quả như thường lệ để ra viếng mộ. Lúc sắp thắp nhang thì tôi sực nhớ là hộp quẹt còn để quên trong xe. Tôi ra xe lục lọi một hồi. Quái. Cái hộp quẹt máy. Tôi nhớ là có đem theo rõ ràng, để ở cái hộc ngay chỗ ngồi. Sao không cánh mà bay thế này. Tôi lục tung hộc nọ hộc kia cuối cùng tìm được một hộp diêm nằm kín đáo trong đám đồ lặt vặt sau thùng xe. Hộp diêm này đã cũ lắm. Trên nắp hộp diêm còn có tên một nhà nghỉ mà trước đây tôi và Quyên từng đến. Tôi nhớ ra rồi. Lâu lắm. Từ hồi hai đứa con tôi còn nhỏ. Cả nhà đi biển chơi và mướn phòng ở nhà nghỉ đó. Trong nhà nghỉ người ta hay để một số đồ linh tinh cho khách xài như hộp khăn giấy, kim chỉ và cả diêm quẹt cho những người hút thuốc. Khi trả phòng thì Quyên đã lấy hộp diêm đó mang về. Sau bao nhiêu năm chẳng hiểu sao nó lọt ra ngoài cái thùng xe này một cách lạ lùng và tìm đến tay tôi trong cái lúc tôi đang rất cần nó. Mừng quýnh, tôi cầm hộp diêm chạy vào nơi mộ Quyên. Tôi rút những que diêm ra đánh lửa thắp nhang nhưng thật bực mình. Tất cả những que diêm đều không cháy. Tôi quẹt tới quẹt lui đến gần rách cả giấy mà chẳng que nào cháy. Chợt một giọng nói nhỏ nhẹ vang lên bên tai tôi:

– Tôi có hộp quẹt đây. Anh lấy mà dùng.

Ngẩng lên tôi nhìn thấy một người đàn bà xa lạ đang đứng cạnh mình. Chị ấy chìa ra cái hộp quẹt và một lần nữa thúc giục:

– Chắc diêm cũ quá không cháy được. Anh lấy hộp quẹt của tôi nè.
Tôi đỡ lấy cái hộp quẹt máy từ tay người phụ nữ xa lạ ấy và khẽ gật đầu:
– Cám ơn chị.
Đợi tôi thắp nhang xong thì người phụ nữ cầm cái hộp quẹt trở về ngôi mộ bên cạnh. Chị cho những cái hoa đã héo vào bao để chút nữa bỏ thùng rác, đồng thời bày những cái hoa tươi lên mộ. Tôi bảo:
– Tôi ra đây hoài, thấy mộ này mấy tháng nay mà không gặp ai. Nay mới gặp chị.
Người phụ nữ đáp:
– Tôi mới cải táng nhà tôi về đây.
Tôi chỉ qua nấm đất của Quyên bảo:
– Nhà tôi thì nằm ở đây. Vậy mình là hàng xóm… hàng xóm trong nghĩa trang…
Người phụ nữ ngước nhìn tôi cười gượng gạo. Cái cảnh nghĩa trang đìu hiu quá. Tự nhiên tôi cũng mủi lòng trong câu nói của chính mình. Tôi nhớ tới căn nhà của mình mà lát nữa tôi trở về, nghĩ tới những cái tôi sắp phải đối diện trong chốc lát nữa đây. “Không còn ai nữa trong nhà. Ngoài hoàng hôn lạnh lẽo và cô đơn”. Hai câu thơ buồn bã ấy không nhớ ai viết vang lên trong đầu tôi. Người đàn bà mở cái bánh lá ra mời:
”Anh dùng lấy thảo. Bánh này nhà tôi lúc trước hay ăn nên tôi đem ra cúng.”
Tôi hỏi:
“Lúc trước chị ở đâu mà cải táng anh đem về đây?”
Người phụ nữ đáp:
“Dạo trước tôi theo chồng sống bên miền Bắc. Cách nay ba năm thì anh ấy mất. Tôi trở về đây sống cho gần cha mẹ, cải táng chồng tôi về đây luôn cho tiện chăm sóc.”
Những sợi tóc của người phụ nữ lòa xòa một bên mặt, rũ xuống che đôi mắt buồn sau hai hàng mi rậm rạp. Tôi và chị có nói qua nói lại vài ba câu gì nữa rồi chị ấy cáo từ ra về. Tôi nhìn theo tà áo phất phơ của chị trên lối đi trong nghĩa trang giữa những thân cây cao vút đang rì rầm xào xạc. Có một con chim màu đen đang đậu trên bờ tường kêu lên quang quác.

Tôi nhìn xuống những cây nhang mình mới đốt khi nãy nay đã cháy hết còn trơ những cái chân màu đỏ. Trên chân mộ còn vương vãi những cái que diêm không cháy. Tôi cầm lên một trong những cái que diêm ấy mà không khỏi thắc mắc. Quái lạ thiệt. Sao nó không cháy nhỉ? Chắc nó bị hơi ẩm trong bao nhiêu năm? Lẩn thẩn tôi cầm cái que và quẹt một cái trên vỏ bao. Bất thình lình que diêm cháy bùng lên mạnh mẽ. Tôi hốt hoảng nhìn sững ngọn lửa mà không khỏi bàng hoàng. Tại sao khi nãy nó không cháy mà bây giờ lại cháy? Hình như có một bàn tay nào đã sắp xếp cho những que diêm ấy không cháy và sự sắp xếp ấy hẳn nhiên là có một dụng ý nào đó. Thẫn thờ tôi nhặt hết những que diêm còn lại và quẹt vào vỏ bao một cách rất nhẹ nhàng thì que nào cũng cháy cả. Tôi cứ ngồi trơ ra đó hàng giờ, hai tay buông thõng chẳng buồn làm gì, đầu óc miên man suy nghĩ cho đến khi người bảo vệ tới nhắc là sắp tới giờ đóng cửa thì tôi mới đứng dậy ra về…
Sau lần đi viếng mộ ấy thì mãi đến hai tháng sau tôi mới trở lại vì bận rộn cho những chuyến công tác liên miên. Từ đằng xa, qua những hàng cây bụi cỏ và những bia mộ chập chùng tôi đã thấy một dáng người phụ nữ đang lúi húi bày biện bông hoa trên ngôi mộ của Quyên. Tôi chạy vội tới. Không ai khác chính là người phụ nữ hôm trước mà tôi đã gặp. Chị ngước nhìn tôi mỉm cười:
– Chào anh. Sẵn tôi ra thăm mộ nhà tôi, tôi qua thăm chị luôn.
Tôi bảo:
– Ôi, cám ơn chị quá. Chắc nhà tôi cũng vui khi có người qua thăm. Tôi đi công tác mấy tháng nay không ra được…
Người phụ nữ bảo:
– Anh đừng lo. Nếu anh không ra được thì đã có tôi ra thường xuyên. Tôi sẽ giúp anh giữ phần mộ của chị sạch sẽ. Anh yên tâm nhé.
Chị nói xong thì quay lại phần mộ của chồng mình ngồi xuống lấy miếng giẻ ra lau. Qua làn khói hương thong thả bay lên tôi nhìn thấy khuôn mặt người phụ nữ hiện lên hết sức dịu dàng, thân ái. Tôi nhìn chị. Chị cũng nhìn lại tôi. Hình như tôi thấy chị rất quen, quen lắm, quen như tôi từng gặp ở đâu đó. Cũng là đôi mắt ấy, vầng trán ấy, đôi môi ấy và rồi thoắt một cái tôi nhìn thấy Quyên đang đứng trước mặt mình, âu yếm đưa tay chờ đợi. Sau lưng Quyên là một không gian mờ ảo, bảng lảng khói sương, đầy những âm thanh ù ù chứ không còn là hình ảnh nghĩa trang với cây cối và những ngôi mộ nữa. Tôi nhìn Quyên trân trối, tay đưa ra nhưng hai chân như chôn chặt một chỗ, miệng mấp máy nhưng không nói được gì. Thoắt một cái tất cả những ảo ảnh ấy tan biến mất. Hai mắt tôi tối sầm, chân tôi dường như đang sụm xuống rồi tôi chẳng biết gì nữa. Bên tai tôi có tiếng người hốt hoảng cùng với hai bàn tay đỡ lấy thân người tôi:
– Anh. Anh làm sao vậy. Tỉnh lại đi. Anh có sao không?
Tôi lảo đảo gượng dậy nhưng không đứng lên được lại ngồi phịch xuống. Người phụ nữ lấy trong xách tay cái bình giữ nhiệt rót cho tôi ít trà nóng rồi bảo:
– Anh uống đi. Coi chừng có bị gì không. Để tôi đi kêu bảo vệ.
Tôi ngăn lại:
– Chị… chị đừng đi. Tôi hơi chóng mặt. Có vậy thôi chớ không sao.
Chị bảo:
– Chắc anh đang yếu trong người. Thôi anh thu xếp về sớm đi. Ở ngoài này rất dễ trúng gió.
Nói xong cả chị và tôi nhanh chóng gom góp nhang đèn hoa quả rồi ra bãi đậu xe. Đến lúc này thì tới phiên chị mếu máo vì cái xe của chị không cách gì nổ máy. Tôi giúp chị gọi dịch vụ kéo xe rồi hôm sau giúp chị đem cái xe đi sửa. Ngày qua ngày tôi và chị dần dần vượt qua những rào cản e dè và không còn là hai người hàng xóm ngoài nghĩa trang nữa. Những bận rộn và sự quan tâm cho một tình cảm mới mẻ đã làm cho nỗi nhớ về Quyên dần dần lắng xuống. Tâm trí tôi giờ đây không còn bị bủa vây bởi bóng tối hay những ám ảnh của ao tù quá khứ mà nó đã thật sự được khơi thông để ánh sáng ùa vào, đánh thức cái con người bấy lâu nằm sâu dưới đáy vực. Lúc này tôi đã biết chị tên là Trúc, có một đứa con gái đã lấy chồng và ở xa. Chị cũng như tôi, sống đơn độc một mình trong căn nhà thuê ở gần viện dưỡng lão để tiện ra vô chăm sóc cho người mẹ già. Chúng tôi từ từ trở thành hai người bạn rồi hai người yêu. “Hình như tôi thấy mình đã hồi sinh.” – tôi vừa nói vừa nhìn Trúc. Trúc còn chưa đáp thì tôi nói tiếp: “Trúc ơi, nếu chúng ta về ở chung, nếu chúng ta cùng nhau làm lại cuộc đời thì Trúc có đồng ý không?”
Trúc ngước lên nhìn tôi, vẫn bằng ánh mắt đằm thắm mà tôi đã nhìn thấy qua làn khói mong manh lượn lờ từ những cây nhang cắm ngoài mộ. Thế nhưng lần này thì tôi không còn thấy hình ảnh Quyên lồng vào Trúc trong mơ hồ hư ảo nữa. Trúc thật sự là Trúc, là sự xác thực không hề lẫn lộn, là tình yêu cũng như tâm hồn đã chết đi sống lại của tôi đang đâm chồi nẩy lộc. Sau này khi đã thành vợ thành chồng với nhau, Trúc kể:
– Hình như ông Trời sắp xếp cho em gặp anh hay sao ấy. Lẽ ra em đã phải cải táng anh Tâm về khoảng đất rất xa nằm giáp mặt đường bên kia của nghĩa trang. Cách hôm cải táng có bốn ngày thì người ta gọi cho em bảo là có khoảng đất tốt hơn, gần cửa ra vào mà người mua lúc trước đã hủy hợp đồng. Họ hỏi em có muốn lấy chỗ đất ấy không và em đã đồng ý. Thế là mộ của anh Tâm nằm cạnh mộ chị Quyên. Em gặp anh hình như do sự sắp đặt ấy.
Tôi nhìn Trúc mỉm cười. Không biết Trúc có còn nhớ những cái que diêm không cháy khi tôi dùng để đốt nhang cho Quyên ngoài mộ không. Nếu những cái que diêm ấy cháy thì tôi đâu cần mượn hộp quẹt của Trúc, đâu cần có cái sự dạo đầu làm quen ấy thì làm gì có cái ngày hôm nay. Không nói ra nhưng tôi biết tất cả là Quyên. Chính Quyên đã dun rủi cho tôi và Trúc đến với nhau. Chính Quyên đã đem lại màu xanh cho mảnh đất tưởng đã khô cằn trong trái tim tôi, chính Quyên đã dành cho tôi tất cả tình yêu và lòng tận tụy, dù đã ở bên kia thế giới.
“Quyên thương yêu – tôi thì thầm. Hãy cho anh nhìn thấy em trong chiêm bao thêm một lần nữa, một lần sau cuối có được không? Em hãy mặc chiếc áo đầm trắng có thêu hoa thủy tiên vàng, cùng anh và hai con đến nhà nghỉ trên bờ biển năm xưa. Em sẽ chạy nhảy, chơi đùa, cỡi ngựa với bé Tí, bé Tơ, còn anh thì sẽ lẽo đẽo theo sau mà chụp hình. Chiều chiều mình lại thả bộ lững thững xem người ta bán hàng rong bên bờ biển, mua những món quà lưu niệm mà em thích. Em sẽ khoác lên người cái mảnh vải có thêu hoa sặc sỡ của người dân địa phương, mua một cái kem, uống một ly nước cam pha rượu đỏ và nằm dài trên những cái ghế bố dưới hàng dừa tỏa bóng. Buổi tối khi thành phố đã lên đèn thì em lại kỳ kèo đòi ra biển ngắm trăng trong khi anh thì lại thích vào đại sảnh để khiêu vũ với mọi người. Em yêu thích cái tĩnh lặng bao nhiêu thì anh lại chuộng cái ồn ào náo nhiệt bấy nhiêu phải không Quyên. Hết kỳ nghỉ thì chúng ta sẽ trở về ngôi nhà thân yêu với bao nhiêu thứ lỉnh kỉnh mà em đã tha về làm cho anh phải phát cáu mà la em. Trời ơi, cái gì cũng rinh về. Ba cái đôi dép lát mỏng dính, tập giấy ghi chép, rồi hộp diêm nữa, nhà chật hết rồi nè em biết không. Em sẽ vừa cười vừa nũng nịu bảo, ờ, thôi kệ mà, có lúc biết đâu sẽ cần đến những thứ đó…
Em nói đúng đấy Quyên ạ. Anh cũng không ngờ là có lúc anh cần đến hộp diêm của em, cái hộp diêm mà anh từng cho là vô tích sự thì nay chính nó đã thắp lên ngọn lửa sưởi ấm lại căn nhà của chúng ta, đem lại cho anh cái hạnh phúc mà anh đã vuột mất. Em thương anh nhiều đến thế hả Quyên, một tình thương quá nhiều đến anh không mường tượng được. Thôi thì, em hãy cho anh nhìn thấy em một lần cuối trong chiêm bao, một lần cuối đi Quyên…”

Thế nhưng không nhớ là bao nhiêu ngày tháng đã kéo nhau đi, dù tôi có van cầu tha thiết như thế nào đi nữa thì Quyên cũng không bao giờ còn xuất hiện trong giấc mơ của tôi. Nàng đã ra đi vĩnh viễn, âm thầm và mãn nguyện…

Share this post