Những Viên Đạn – Khoa Hữu (1/2)

Những Viên Đạn – Khoa Hữu (1/2)

Vào truyện,

Khoảng cuối năm 1967. Một giang đoàn Mỹ đổ bộ đơn vị chúng tôi vào phía tả ngạn Đông Vàm Cỏ Tây. Suốt một ngày hành quân không thấy một bóng người, chỉ còn ruộng, vườn hoang hóa đầy dấu vết của bom, đạn. Từng nhóm mộ đất trên những gò cao, mưa nắng đã bào mòn, một vài thân cây làm dấu cắm trên mộ ngả nghiêng. Mỗi nhóm mộ là của một dòng họ, gia đình riêng biệt…

Năm 1970 hành quân sang Campuchia, tôi bị thương ở lại tiền cứ. Vì máy bay trực thăng Mỹ hiếm chỉ dành chở những chiến binh tử trận và những người bị thương nặng.

Đêm ở tiền cứ tôi gặp lại một người bạn học, Đại Úy H đại đội trưởng và đại đội của anh đang giam giữ hơn mười tù binh dưới hố sâu đào bằng xe ủi phía trên giăng kẽm gai.

Đêm ngồi nói chuyện với H, có một tù binh trẻ bỗng bị đau ngất cầu cứu. Vị thượng sĩ thường vụ:

– Mặc xác nó.

Tôi nhìn H và anh quát lên:

– Gọi y tá

Anh tù binh trẻ bình phục. Tôi xin phép H cho người tù binh trẻ ở lại trên mặt đất, được tự do không trói tay, cột chân. Tôi làm quen mời thuốc lá, lắc. Mời kẹo chocolate, lắc. Hỏi thăm quê quán, gia cảnh, lắc. Những cái lắc đầu còn thù hận. Tôi điềm nhiên, không phản ứng. Bỗng bất thần người trẻ tuổi ấy hỏi lại tôi: “Chú quê miền Bắc?”. “Ừ, chú đang bị thương”. “Ừ, em hay bạn của em bắn đấy”. Tôi vẫn điềm nhiên.

Sau đó người thù binh trẻ đổi thái độ, đã chịu hút thuốc, ăn kẹo chocolate, kể về quê quán và kể câu chuyện tôi viết ra đây, chuyện kể từng lời dẫn trí nhớ tôi về con Kinh Giữa, những nhóm mộ đất, sông Vàm Cỏ Tây ngày ấy… Đến sáng tôi về vị trí của tôi, người tù binh ấy về lại chỗ giam giữ. Câu nói cuối cùng của người tù binh tôi còn nghe: “Em là anh em họ với thằng Bửu. Thằng Bửu tự nguyện tử thủ cầm chân địch cho đơn vị an toàn rút lui, hy sinh ở miền Đông. Chú có về lại Kinh Giữa nhắn dùm”. Tôi đã quên không hỏi tên người tù binh trẻ đó.

Năm 1970 về Sài Gòn nghỉ phép dưỡng thương tôi viết lại câu chuyện này, duy nhất một ý nghĩ, nói về sự chịu đựng, hy sinh của dân tộc tôi, từ cả hai phía.

Bốn mươi năm sau, 2010 tôi mới có ý định phổ biến câu chuyện này với chủ tâm khác gửi đến những người cầm bút từ phía khác “Lịch sử chưa bao giờ là một ngộ nhận, xin hãy viết lại lịch sử bằng trái tim và sự trân
trọng”

Sài Gòn 2010

Khoa Hữu

Một

*

Chú hai Cực không chọn nơi để sinh ra, cũng không chọn cho chú một số phận… Nhưng chú đã được sinh ra bởi một mơ ước u buồn của cha mẹ, bởi một nỗi nhục nhằn nào đó chất chứa không hết trong lòng người. Nguồn gốc, tổ tiên, chú từ đâu ? Quê hương chú từ đâu? Nào ai biết…

Người Pháp từ một miền đất xa lắc, mịt mù trong trí nhớ đã đến đất này thống trị, khoác một cái ách lên cổ ông cha chú, lên lớp người cùng khổ. Sử sách đã làm mốc thời gian 80 năm. Với chú hai Cực chẳng cần, chú chỉ cần nhớ đã nhận cái số phận đó từ bao giờ: Nguyễn Cơ Cực sinh năm 1920, thôn, xã, huyện… Tấm giấy khai sinh cho chú một ý niệm, về nơi chốn đã được chào đời. Ông cha chú, cha truyền con nối làm tá điền cày thuê cuốc mướn cho bọn chủ đất. Theo thời gian, theo chân bọn quan quyền người Pháp chiếm đóng Nam bộ, bọn quan lại bản xứ đã chiếm hữu vườn ruộng, cửa nhà bằng chính công sức mồ hôi, nước mắt của ông cha chú, thậm chí cả đến lòng thương tổn xót xa. Bọn người bản xứ ấy làm giàu trên xương máu của lớp nông dân, chúng thâu tóm trong tay những vùng đất được thiên nhiên ưu đãi, thúc ép, dồn đẩy lớp người như cha ông chú đến những vùng đất hoang dã, khắc nghiệt. Có lẽ, ngày chú trào đời đánh dấu những khánh tận cuối cùng của dòng họ. Cha mẹ đặt tên đứa con đầu lòng: Nguyễn Cơ Cực.

Số phận nào đã đưa đẩy lớp người lang bạt, mất nhà cửa theo sông Vàm Cỏ Tây về khai hoang, lập nghiệp ở mảnh đất này. Khí hậu phản phúc của thiên nhiên, sự giận dữ của đất, chất độc từ loài cây dại ngâm trong nước, biết giết người, hành hạ con người. Một khoảnh đất vô danh của Đồng-tháp-mười mênh mông đầy dấu vết của cái chết: Bộ xương một loài thú hoang, xác một con rắn độc, cả đến những hồn ma rừng rú, cả đến những tiếng động những hình bóng đã mất tích…

Một cơn giông bão nào trên sông Vàm Cỏ Tây lạnh lùng xô dạt mũi ghe lớp người ghé bến. Tiếng gọi nào của đất ngủ vùi trong làn nước phèn ngập đã ngàn năm, lay động tấm lòng nhân hậu của đất thức dậy.

Đoàn người du mục ấy gồm bảy người của hai gia đình, hai dòng họ khác nhau, nhưng cùng có chung một số phận. Tuổi tác họ khác nhau giống đực và giống cái nhưng trên nét mặt mỗi kẻ, trên màu da, và trên hai vai họ như có một bàn tay cai trị đã bôi bẩn, đã đè nén họ xuống tận cùng. Họ như một đám người hành khất lạc loài, một nòi giống lưu đầy trên chính quê hương.

Chú hai Cực ví như một sinh vật đã được tự nhiên lớn lên.

Ngày ấy cha mẹ chú hai Cực dựng một cái chòi lá trên một gò đất cao. Và đồng loại với gia đình chú là gia đình Tư Hưng trên một gò đất khác cách nhau khoảng nửa cây số. Họ làm việc, làm quen với đất, đổ mồi hôi nước mắt để đất biết khoan dung, tha thứ cho sự xúc phạm của họ. Họ khai hoang chặt cây, nhổ lác, đắp bờ. Thân thể, tay chân, họ chảy máu. Máu sẽ làm cho đất hả giận, máu cũng để tạ lỗi với đất trời. Họ hiến cuộc đời cho đất và đất sẽ biết thủy chung.

Đời sống gia đình hai dòng họ được tạo dựng từ đấy yên ổn, bất trắc những đứa trẻ sinh ra kế tục nhau lớn lên yên ổn, bất trắc như mỗi vụ mùa, như cây trái trên đồng…

Cái thôn xóm vô danh bên phải sông Vàm cỏ tây, lầy, mặn phèn, hoang dã đã có lửa, có tiếng người, có khói bếp ấm áp thở cùng hơi thở của đất.

Loài người ở đây đã có thật, sự sống khác cũng đã có thật. Tiếng rống âm vang của con bò đực thứ nhất, màu xanh thân thuộc của lúa, của hoa trái ban ơn, tiếng hót của những loài chim rừng đến thăm viếng cái hạnh phúc giản dị, u uất

Bắt đầu có một thôn xóm không ghi địa danh trên bản đồ và một hạnh phúc không có trong trí nhớ.

Hai

*

Con sông Vàm Cỏ Tây đã chảy qua đây bao nhiêu nước, đã mang theo những lời than vãn, giằng dặc cả những tiếng thổn thức giữa đêm khuya khoắt. Cha mẹ chú hai Cực lần lượt qua đời, đã chết trẻ. Đó là cái giá phải trả cho đất, cái sức lực phải trả cho nhọc nhằn. Chết là một cách giải thoát cho cuộc đời họ. Nhưng còn kẻ sống. Và chú vẫn phải sống, vẫn phải lớn lên nối nghiệp cha mẹ, cái sự nghiệp là ước vọng một đời khắc khổ, chắt chiu, giành giật, mấy công ruộng đất đã thuần, cái cày, cái bừa, cái cuốc, con bò đực trung thành và một căn chòi lá.

Cha chú: Ba ông Khổ phiêu bạt từ nơi nào tới đây mang theo mẹ chú và chú năm vừa mười tuổi và người bạn đồng hành ông Tư Hưng. Ông ba Khổ thầm lặng chẳng hề mở miệng về đường đời ông đã trải qua, chẳng cười, chẳng nói hai hàm răng cắn chặt lại một nỗi oan ức. Cặp mắt nhỏ như cố nhỏ lại che giấu cho ông. Mưa nắng nhọc nhằn để lại trên trán ông những nếp nhăn sớm, một màu da của nước phèn, màu cây mục rã màu đất hoang trộn lại. Và khuôn mặt ông như dị dạng đôi khi méo mó đi một cách đáng sợ. Ông đã chết trước, ông đã mang theo cả những bí mật, cả những ước vọng của con cái, và như đã chôn theo cả mấy đời làm nô lệ của tổ tiên. Mẹ chú chết sau đó mấy năm, sau một cơn bệnh dài kiệt sức, bình thường giản dị như tất cả những người đàn bà lam lũ khác chẳng mất một giọt nước mắt, một tiếng kêu.

Vậy cái duyên số nào đã mang thím đến với chú hai Cực. Cái thiên chức tự nhiên của tạo hóa như giống cái, giống đực của thú vật, nhị cái nhị đực của hoa. Hoa kết trái, thú vật sinh tồn và con người cũng sinh tồn.

Thím hai Cực mồ côi được thiên hạ nhận làm con nuôi từ tấm bé, lớn lên, chăn trâu, cắt cỏ, làm thuê, ở mướn chẳng có gì để nhớ, vậy là hai nỗi đau khổ đã cộng lại. Rồi thím cũng sinh con, đẻ cái, đứa đầu thàng Minh, ba năm sau thím sinh lần thứ hai: Con Sớm. Chú hai Cực nghe nói năm sinh thằng Minh là năm Cách mạng khởi nghĩa. Chú nhớ vì năm đó bỗng nhiên hai người con trai Tư Hưng bỏ nhà đi biệt tích : Hai Thắng và ba Lợi

Cùng với thời gian, có những ân sủng và nghiêm khắc, nó cho sự sống nhưng đã cũng sẳn sàng hủy diệt đi. Vợ chồng Tư Hưng cũng lần lượt qua đời. Bây giờ trong căn chòi lá lớn, ngay ngắn của gia đình Tư Hưng còn lại một mình thím hai Thắng đang bụng mang dạ chửa. Đầu năm sau ngày hai Thắng bỏ đi thím sinh đứa con đầu: Thằng Bửu.

*

* *

Con sông Vàm Cỏ Tây bắt nguồn từ đâu, chảy qua những nơi nào, đổ về đâu chú cũng không biết, nhưng sông Vàm cỏ vẫn miệt mài làm cái công việc mang nước, mang sự sống từ nguồn về một cách nhẫn nại, công ích. Dẫu trải bao đời nay, con sông vẫn lạnh lùng, thách thức nó mang những cuộc đời cơ khổ theo nó. Hai bên bờ đã mọc lên những thôn xóm nhỏ vô danh, cây cũng mọc lên chi chít, hoang dã thành rừng, nào đước, chàm, dừa nước, cả những loài cây ăn trái đây đó cũng dại dột mọc lên. Bạt ngàn nước bạt ngàn rừng ngập, mảnh đất mênh mông vô thừa nhận, chẳng ai tranh giành. Và gia đình chú đã tranh giành với thiên nhiên để làm chủ một sự nghèo khổ đến xót xa.

Trong trí nhớ của chú hai Cực ba mươi tám năm xa lắc, giòng giã, mù mịt từ cậu bé mười tuổi áo vá, chân đất, mù chữ theo cha đến đây, theo cha trên luống cầy. Cha chú làm con bò đực, mẹ chú cầm cày, cầm bừa. Gia đình chú ba con người xa lạ cầm dao, cầm cuốc, cầm rựa, quần quật từ sáng đến tối, phạt cỏ, chặt cây, cuốc đất. Cái sức mạnh dị thường khiến cha chú có thể kéo bật lên lớp đất dẻo chằng chịt những rễ cây dại đứt phừng phựt xới lên thành luống. Đôi khi mẹ chú thương chồng, đôi khi đất bất trị, mẹ chia sẻ với cha cái ách trên vai. Hai người cùng mang một cái ách oằn lưng trên luống đất. Chú cầm cày chập choạng theo sau và lòng chú quặn đau.

Cái hạnh phúc gia đình chú, tưởng như xa lạ, lạnh lùng chẳng có nụ cười. Cuộc đời nhẫn nhục, liều lĩnh, thách thức cha chú, tình yêu thương đơn giản như sông, như đất mênh mông của mẹ đã khai mở cho chú một trí tuệ khác, mẫn cảm và một tấm lòng. Tuổi thơ chú đã được lớn lên như thế để thành một người đàn ông

Rồi đất cũng trả công cho người, cây cho trái, đồng ruộng cho lúa, cho hoa màu. Cha chú mua được con bò đực thứ nhất. Con bò đực thân yêu, bạn súc vật đầu tiên của chú. Nhưng số phận đã không buông tha cái khốn khổ của xóm ấp này. Chiến tranh đến gần mang đi hai người bạn của chú, thằng Thắng, thằng Lợi bỏ cày, bỏ bừa đi biệt tích. Ôi, sự tàn nhẫn lặng lẽ. Mười lăm năm sau ngày sinh thằng Bửu, thím hai Thắng qua đời. Rồi đến lượt vợ chú bỏ chú lại cảnh gà trống nuôi con. Thằng Minh mười bảy, con Sớm mười bốn

Ba mươi tám năm mù mịt xa lắc, đau đớn khác thường mà tưởng chừng như mới hôm qua.

Ba

*

Chiến tranh đã trở lại khốc liệt hơn. Sau khi chôn cất vợ, chú thu xếp thằng Minh lên thành phố nhờ cậy một người quen biết. Chú đã suy nghĩ chín chắn trước khi quyết định. Trong thâm tâm chú chẳng mong mỏi gì ở tương lai thằng Minh, chú làm sao thay đổi được số phận nó. Chú nghĩ, thôi cho nó tạm lánh thân vài năm hết chiến tranh lại trở về…

Thằng Minh đi được ba năm, quãng thời gian ngắn ngủi cũng đủ làm thay đổi thêm khuôn mặt cái xóm ấp nhỏ bé này. Bây giờ là tháng tư âm lịch. Mùa mưa sớm đã bắt đầu, gió thổi từ biển vào đất liền, mang những trận mưa lớn, mây xuống thấp, vần vũ và mặt trời chỉ hé lúc bình minh, một chút nắng đủ khô ngọn cỏ vào lúc giữa trưa. Đó là không gian, khí hậu của một mùa khác mùa trước, ranh giới giữa hai mùa: Mưa và nắng. Nhưng đối với người nông dân, với chú đang náo nức chờ đợi mưa như tiếng gọi của ngày làm mùa, một niềm hy vọng khao khát nức nở.

Bây giờ chỉ còn lại hai cha con chú lặng lẽ, cô quạnh. Con Sớm, con gái chú vừa mười bảy. Cái sức sống bí ẩn, mãnh liệt từ trong mạch máu vươn lên, căng đầy, hừng hực. Cái sức sống ấy mở bật đội mắt to, đang chất chứa một nỗi u uẩn của mẹ nó. Hai cha con sống trong cái chòi lặng lẽ như hai cái bóng. Con Sớm theo chú làm tất cả công việc của thằng Minh để lại tháo vát, táo bạo như một người đàn ông chẳng hề mở miệng than trách.

Chiến tranh mỗi lúc một đến gần xuất hiện như cái bóng đen lớn, bom đạn mới đầu còn xa rồi dần dần trùm phủ lên thôn xóm. Các loại trọng pháo bắn đến từ các phía Quận, Thị Trấn chung quanh nổ chụp trên đầu đạn đào đồng ruộng thành những cái giếng nhỏ. Có đêm, từ bên kia sông bỗng ầm ầm chớp giật rung chuyển khủng khiếp từng dây lữa chằng chịt tưởng bất tận. Căn chòi của chú rung lên , dãy rục dưới sức hơi ép lửa nóng hực. Con sông bây giờ cũng lặng bóng ghe thuyền qua lại, xuôi, ngược. Chiến tranh đã thực sự đến tận thôn xóm, cây cối bị cháy nám đen, xé toạc, cỏ cũng vàng trên mặt đất, lúa trong ruộng cằn khô. Có những lúc chú đau đớn ngồi hàng giờ trên bờ ruộng nhìn xuống. Đã thấy những con cá nhỏ chết, xác những sinh vật thân thuộc của đồng ruộng nổi lềnh bềnh, rã mục. Trên cao lá vàng rụng trái mùa. Đã có một chất độc khác ngấm trong nước, rắc lên cây cỏ ngoài chất độc của thuốc bom đạn cháy vì sự rỉ sét kim loại. Lúa không trả nợ thóc cho người và con bò đực gầy rộc vì thiếu cỏ.

Sớm mai, chú ra ruộng, vỗ về con bò đực trước khi mang lên vai nó cái ách, kéo cày. Chú muốn nói hết tâm sự của chú, nhưng con vật làm sao hiểu hết tiếng người. Chú trân trọng nhẹ nhàng với nó. Một người đàn ông, một con bò đực cùng nhau kéo đẩy chung một số phận. Con Sớm ngồi trên bờ ruộng, mạ gieo cho ngày cấy muộn, đã chết. Những thửa ruộng cấy xong, thân mạ tả tơi úa héo không đủ sức vươn lên. Lòng thương xót và nước mắt con Sớm không đủ làm cây lúa sống lại. Con bò đực những lúc nghỉ ngơi, khi chú tháo khỏi vai nó cái ách, chẳng tìm đâu ra miếng cỏ tươi, đôi mắt nó cũng buồn bã, u uẩn. Chú dỗ dành âu yếm nó, hai mắt nó mở lớn , long lanh tưởng chừng có hai giọt nước mắt trong khóe mắt. Con bò đực cũng biết khóc ? Chú liều lĩnh cùng con Sớm chèo ghe qua sông, vào sâu trong các kinh, rạch cắt cỏ, chú đoán chừng nơi nào chưa có con người đặt chân đến cỏ sẽ mọc đàn, mọc đống. Chú thất vọng, nơi dây vết bom đạn còn dữ dằn hơn thôn xóm chú, bom đào thành những ao lớn, cách đều nhau, cây cỏ thì chết rạc. Màu sắc cái cảnh hoang tàn này thoạt trông như những vết lở trên da thịt ung thối lâu ngày.

Chú mua rơm rạ khô về cho con bò đực, rải ra cho nó nằm nhớ cái bộ vó hùng vĩ trên luống cày ngày trước với cái thân hình tàn tạ, da bọc xương của nó bây giờ. Tưởng đến sự cọ xát của những đầu xương nhô ra trên mặt đất cứng, chú lại đau lòng. Những lúc ngồi cả buổi chiều nhìn con bò đực cột dưới gốc cây nhai buồn bã từng miếng rơm khô chát, chú chẳng còn cách nào lấy lại phần xương thịt đã mất đi vì thiếu cỏ, thiếu việc làm. Bao lâu rồi chú không nghe tiếng rống lên của nó như kiêu hãnh về cái giống đực, về con vật biết trung nghĩa với con người. Vào một đêm có trăng mảnh trăng lưỡi liềm treo trên những cành cây lô nhô, nhìn xa cắt lên nền trời những hình thù quái dị, ánh trăng mờ nhạt, buồn hiu. Thiên nhiên, chung quanh chú im ắng, lắng ngủ, chẳng còn tiếng một con gà trống nào gáy lên, báo giờ giấc cho người. Một vài con dế hèn hạ, vô tích sự, sống sót, dai dẳng đập cặp cánh thành những âm thanh lạc lõng. Chú nằm tưởng nhớ, trằn trọc. Những đêm ngày mùa qua trong tâm trí chú, những vụ gặt đã qua thật rồi ư? Chú tưởng chừng như có một sức nặng đang dồn ép trong lồng ngực, tức thở. Một tiếng gọi nào xa lắc, mơ hồ chú còn nghe thấy, những hình ảnh đã khuất lấp, mù mịt mà mắt chú còn nhìn như thật. Chú mở mắt trừng trừng trong bóng tối.

Chú hai Cực đã gần năm mươi tuổi rồi, cái cơ ngơi nửa đời chú tiếp tục gây dựng thêm chẳng là bao, nhưng gần gũi, thân thiết như xương với thịt, như máu trong huyết quản. Người ta đã tước đoạt mơ ước của cha mẹ chú, tay trắng đến đây.Bây giờ người ta rải chất độc xuống ruộng vườn chú, bắn trọng pháo bất kể lên đất đai,nhà cửa,bất kể lên sinh mạng cha con chú,”Thời buổi con người hơn gì con vật?” chú thiếp đi.

Một loạt trọng pháo từ phía thị trấn bắn xuống đánh thức chú dậy, hất tung chú lên.những tiếng nổ như sét đánh, dữ dội, rất gần, mùi khói đạn mù mịt, khét lẹt.

Sáng hôm sau chú thức sớm, lại thăm chừng con bò đực. Chú bỏ thêm rơm khô vào máng ăn, vỗ vỗ lên đầu nó. Chú đi thăm vườn tược, ruộng bãi của chú, đạn khoét sâu xuống ruộng hất ném đất tứ tung, cây trong vườn gẫy, dập. Mỗi lần mất đi một ít, mai kia chắc chẳng còn gì, chú lầm lũi, ngao ngán trở về.

Chú và con Sớm bắt đầu làm hai cái hầm nổi, một cho cha con chú và một cho con bò đực.

Xem tiếp phần hai: http://www.tvvn.org/forums/threads/nh%E1%BB%AFng-vi%C3%AAn-%C4%90%E1%BA%A1n-khoa-h%E1%BB%AFu-2-2.75392/

Share this post