Những Viên Đạn – Khoa Hữu (2/2)

Những Viên Đạn – Khoa Hữu (2/2)

Bốn

*

Con bò đực đã chết.

Chú đã đắp đất thành cái hầm nổi chung quanh chuồng con bò đực. Buổi chiều chú bỏ ít rơm khô cho nó nhai qua đêm. Nhưng nó chẳng được sống qua đêm. Tại số nó như vậy. Tại số nó hay số phận chú ? Mất con bò đực là mất đến tài sản cuối cùng, ai sẽ thay con bò đực làm bạn đường đời với chú chia sẽ nỗi khốn khổ này. Ai sẽ kéo cho chú cái cày, cùng chú hai sương một nắng. Một vết đạn sắc mở vết thương dưới con mắt trái con bò đực, máu và sự sống thoát ra từ đó, hàng trăm mảnh khác ghim cắm vào những cột, cây, rải rác trên mặt đất, những mảnh đạn mầu rêu nhạt, có in nét chữ đen, nét chữ vàng. Ôi, oan nghiệt. Bom đạn này từ đâu tới đây nổ trên đầu chú, khắp vườn ruộng, cây trái và bây giờ đến con bò đực. Một vệt máu đã đông đặc từ vết thương chảy xuống hai mép hé mở, cặp mắt trắng dã. Nó chết chúi đầu xuống đất như đã cố thở những hơi thở cuối cùng nơi chốn thân yêu. Có lẽ trong đời chú chưa bao giờ chứng kiến một cái chết thương tâm của một con vật trung nghĩa như thế.

Con bò đực già của cha chú để lại khi xưa, chú đã bán khi nó không còn sức lực. Người ta đòi giết thịt nó trước mắt chú, tàn nhẫn như một con dao sắc cắt vào lòng chú. Cái luật về sự sống còn không thuột về chú, con người có thể làm những đều họ muốn, nhưng chú đã không giết con bò đực già, lạc loài.

Bây giờ, con bò đực trẻ lại chết, chú quanh quẩn bên xác con bò, đi ra đi vào chẳng biết phải làm gì. Đầu óc chú rỗng không, ù lì cảm giác như chính chú trúng phải mảnh đạn, dòng máu chú chảy quanh cặp môi hé mở.

Con Sớm giục giã chú, lay gọi chú, rồi nó tất tả chèo ghe đi kêu người để bán xác con bò đực.

Xế chiều con Sớm chèo ghe trở về, theo sau nó là một cái ghe khác có mấy người đàn ông lạ mặt, lực lưỡng. Họ cột ghe chổ lõm con sông, đi quanh co theo đường bờ ruộng. Họ trả giá với con Sớm sau khi coi xác con bò đực. Họ lột da, xả thịt nhét vào những cái bao mang theo và họ theo đường bờ ruộng quanh co trở ra chổ buộc ghe. Có một người đàn ông trẻ hơn trong số họ đi sau cùng, tay cầm sừng con bò đực, lắc lư cái đầu con bò đực bị chặt đứt trong không khí. Xế chiều hôm đó, ngày hạ tuần, có một chút nắng không đủ làm ấm cái giá rét trong lòng chú hai Cực, cũng không đủ khô những giọt máu còn sót trong xương thịt con bò đực nhỏ giọt trên bờ cỏ những người lạ mặt kia đã đi qua.

Ba ngày liền chú nằm li bì như đau nặng, bỏ ăn, bỏ uống. Trong căn hầm ẩm ướt, tối mù, chẳng phân biệt được ngày, đêm bên ngoài, chẳng có tiếng một con vật thân thuộc nào của đồng ruộng cho chú biết giờ giấc, trưa hay chiều, tối. Chẳng còn một ý niệm nào nhắc nhở chú còn sống.

Đạn trọng pháo từ phía thị trấn vẫn bắn, nổ âm âm lên cái bóng tối ấy, lên cái ranh giới riêng của chú: giữa sống và chết. Tội nghiệp con Sớm. Nó chờ chực bên cạnh chú và nó khóc. Có một lúc nào đấy, chú cảm thấy những giọt nước mắt con Sớm nhỏ lên mặt, làm chú tỉnh lại.

Ngày mùa đông ngắn hơn, hầu như không có mặt trời, khoảng 4 giờ chiều sương đã phủ dày đặc trên mặt sông, mù mịt, hơi nước như đặc lại mầu trắng li ti. Hai bờ con sông Vàm Cỏ Tây hoang vắng lạ lùng, những hàng cây cắt lên nền trời một mầu khô chết.Thằng Bửu lặng lẽ chèo xuồng thả theo con nước xuôi, quan sát như cố vận dụng một cái gì trong trí nhớ nó. Trên trán thằng Bửu mồ hôi lấm tấm mặt dù gió lạnh. Có thể giờ này trọng pháo sẽ bắn rải theo bờ thềm của con kinh giữa, nó linh cảm một điều chẳng lành, cây cỏ hai bên bờ con sông đã báo cho nó biết vậy. Hôm nay thằng Bửu trở về vì nó có hẹn với con Sớm lúc trăng lên.

Nó không biết mặt cha và mồ côi mẹ năm mười lăm tuổi. Căn nhà hẹp như một cái chòi từ thời ông nội nó để lại. Kể như quê hương, thôn xóm nó ở đây. Cha nó và chú ba Lợi đi theo cách mạng từ thời chống Pháp không trở về. Bây giờ nó mới được biết vậy.

Năm cha nó đi cũng là năm mẹ nó sinh nó. Nó chào đời trong cái góc nhà lá, cô quạnh, có một cái bếp lửa để un khói muỗi, vừa để ấm lòng người mẹ nhọc nhằn. Thoáng chốc đã hai mươi ba năm, thoáng chốc đã tám năm mẹ nó chết như rành rành hình bóng trước mắt. Nó đột ngột thở dài, trong cái thiên nhiên đang chuyển động, sông nước có thấu hiểu tiếng thở dài của nó?

Hôm nay thằng Bửu trở về, tính ngày tháng trên ngón tay , vừa ba tháng. Hai năm nay nó bỏ căn chòi lá, bỏ hoang ruộng vườn đi biền biệt, ai biết nó đi đâu? Cứ vài tháng nó lại về, ngồi trước sân, đi loanh quanh thăm mộ ông bà nội, mộ mẹ nó trên một gò đất quây quần một gia đình.

Cái tình cảm thân yêu thiêng liêng đã giữ chân nó, tình yêu của con Sớm láng giềng cũng nảy nở trong lòng nó. Lòng Thằng Bửu se lại, hôm nay nó trở về để nói với con Sớm một điều đã thay đổi. Bây giờ bản thân nó chẳng thể quyết định được gì thêm, một con đường khác đã mở, có thể là con đường cha nó và chú ba Lợi đã ra đi ngày trước. Thằng Bửu không thể giấu mãi con Sớm, tội nghiệp con Sớm.

Mảnh trăng non đã lên một mầu sắc khác thường, cây lá xào xạc một ngôn ngữ khác thường, quê hương của thằng Bửu đang đón tiếp, đang trò chuyện với nó. Khúc lõm của con sông đã hiện ra, thằng Bửu ghé xuồng vào, nó lặng lẽ cột xuồng rồi lên bờ, chỉ còn thấy cái lưng nó lô nhô trong bóng cây. Thằng Bửu đến chỗ hẹn con Sớm. Mảnh trăng lưỡi liềm đã lên cao, soi bóng thằng Bửu lẫn với bóng cây soài bằng tuổi nó đã bị bứt hết lá, khô chết, nó chọn một chỗ ngồi quen thuộc, chờ đợi, mặt hướng về con sông Vàm Cỏ Tây, phía bên trái là căn chòi lá ông bà nó để lại, bên phải, căn chòi lá khác của chú hai Cực, nhà con Sớm, ”giờ này con Sớm đang làm gì?“. Bên kia sông dòng nước lấp loáng, bạc ngàn hoang dã là ranh giới của ánh trăng và bóng tối của mặt đất như một dải khăn viền đều đặn, một cái khăn sô quấn trên trán một thiếu phụ, cái không gian tĩnh mịch, tắt tiếng. Bỗng một con vạc lẻ loi bay ngang qua nhả một tiếng kêu khản đặc. Thằng Bửu rùng mình, không một ánh lửa, không một mùi vị thân thuộc, thậm chí đến tiếng kêu la của gia súc sống bên cạnh con người. Trong tâm trí thằng Bửu mơ hồ nhận ra một điều làm nó hết sức đau đớn, quê hương nó xa lạ, hắt hủi đến thế ư. Nó đứng dậy đi về phía cột ghe, đột ngột muốn bỏ đi, bỏ cả cuộc hẹn với con Sớm. Nhưng nó và con Sớm đã gặp nhau ở giữa đoạn đường ấy. Có một cái gì khác lạ khi thằng Bửu nhận ra con Sớm. Nó đứng lại chờ cái bóng lao đao ấy đến gần. Khi hai đứa đối mặt nhau, thằng Bửu cố ghìm một tiếng kêu gầm gừ trong cuống họng hai tay ôm lấy mặt. “Mày đau hả Sớm” VỪa tao đau” thằng Bửu ngó quanh “Bây giờ tao chẳng giúp gì mày được”, “Mày lại đi nửa hả Bửu”. Con Sớm hỏi không ngó thằng Bửu, nó ngó quanh quất đâu đó, đưới chân chúng nó có hai cái bóng. Thằng Bửu trả lời con Sớm “Ừa mà lần này tao đi lâu lắm, chẳng biết đến bao giờ”. Thằng Bửu đã nói thêm với con Sớm những gì, tai nó không nghe, nó đã không thấy những gì mắt nó đang thấy. Tai nó ù đi, như sực tỉnh, nó đã thấy bóng con Sớm như xa lắc, ngoài tầm tay nó, ngoài tiếng kêu gọi của nó, miệng thằng Bửu như bị khớp cứng lại. Con Sớm chạy chập choạng, ngã nghiêng mất tích vào bóng tối căn chòi lá. “Thôi hết”. Thằng Bửu cố gắng đi thêm một quãng đường về phía nhà con Sớm, một quãng đường của những điều còn sót lại. Nó nhìn xuống những bước chân nó và chợt nhận ra vuông vải may làm khăn tay của con Sớm, thằng Bửu lượm lên nắm chặt trong tay. Bấy giờ ánh trăng ảm đạm trên hai vai nó, đầu cúi về phía trước một cái bóng trai tráng, vạm vỡ.

Cuộc chia ly của thằng Bửu, con Sớm thật giản dị, bởi cả hai đứa đều không thể ngờ được sau lần gặp gỡ ấy, chẳng còn bao giờ chúng gặp lại nhau….

Con Sớm đang ngồi khóc trên bậc đất nơi cửa hầm, những giọt nước mắt đau đớn không đủ chỗ chất chứa trong lòng nó ứa ra, không còn sức chịu đựng, cầm giữ. Nó ngồi bất động suốt đêm. Đến sáng chú hai Cực tỉnh lại, môi mấp máy. Nó ghé sát tai vào mặt chú, nó nghe được giọng thều thào, hụt hơi của chú. ”Sao mày khóc”, ” Con bò đực chết thật rồi hả”.

Những cây cành trong vườn nhà nó bị tước đập, bị chặt đứt, xé toác, cháy đen, trụi lá tưởng như chết tiệt đang cố nứt nú ngọn mầm. Nhưng hạt thóc chết trôi trên đồng ruộng cũng cố vươn lên ngọn mạ ngả nghiêng. Những ngọn gió từ biển mang mưa muộn màng đến. Trong những bất hạnh sức sống lại vươn bật lên mãnh liệt.

Chú hai Cực bình phục mau chóng, con người nông dân cần mẫn trong chú sống lại cùng tiếng gọi của ruộng đồng. Chú cùng con Sớm chuẩn bị làm mùa muộn. Và chú sẵn sàng làm con bò đực đi trước cái cày, chú khoác lên vai cái ách như cha chú như xưa. Con Sớm sẽ cầm cày, vỡ đất. Oi, cái mong ước giản dị, khắc khổ của hai con người duy nhất còn sống sót trên đồng ruộng của họ. Chú hai Cực bỗng mạnh mẽ như con bò đực, chú cong ngả người về phía trước kéo cái lưỡi cày đi phừn phựt, xẻ đất không mệt mỏi, không cần nghỉ ngơi để lấy lại hơi sức. Con Sớm theo sau cái cày đến vã mồ hôi. Hai cha con chú làm việc từ sáng đến chiều và mỗi buổi chiều chú và con Sớm trở về trước cái giờ định mệnh. Như thông lệ, đạn trọng pháo bắt đầu bắn từ các phía, và đạn nổ rải lên đồng ruộng bên này cả phía bên kia sông. Mỗi lần tháo cái ách ra khỏi vai, chú lại nhớ con bò đực, nhớ xót xa. Chú đổ mồ hôi chăm sóc ruộng đất, hy vọng ruộng đất sống lại. Nhưng làm sao con bò đực sống lại được.

Những cố công của hai cha con chú hai Cực đều vô ích. Đất chết thật, thóc không thể nảy mầm trên ruộng. Mỗi ngày đạn trọng pháo bắn càng nhiều bất kể ngày đêm, giờ giấc. Ruộng đồng đang xa chú, cây trái đang phản bội chú. Cả ngày chú loanh quanh, từ sân ra vườn, từ vườn ra ruộng. Cả ngày hết đứng lại ngồi, quên ăn, bỏ ngủ. Chú gầy sút thảm hại, đôi vai bắt đầu co lại, còng xuống. Giá ruộng đất, cây cỏ có linh hồn, cả ngọn gió mùa thổi đến đây có linh hồn. Giả dụ thiên nhiên còn biết trắc ẩn và chú cảm thấy linh hồn con bò đực vẫn quanh quất đâu đây.

Có đêm nằm trơ trọi trong hầm, gác tay lên trán. Chú mơ thấy cây cối trong vườn xanh tốt hoa trái như thật lúa triễu hạt trên đồng. Con bò đực hùng vĩ mở to cặp mắt hiền lành, cái lưỡi nhám sắc liếm lên bàn tay chú. Cái cày, cái bừa, cái cuốc cũng có tiếng nói, tiếng những loài chim đêm đi kiếm ăn bay qua bóng đêm xanh mát, đằm thắm, một con vạc mê mải lẻ bạn kêu gọi bầy. Cả cái không gian có sương muối, có khói phủ, có hơi thở đầy ắp tiếng động thân mật của ruộng đồng. Con giun, cái kiến cũng có được sự sống. Bây giờ mỗi đêm trong giấc ngủ mê mệt chú hay mộng mị như có một tiếng gọi miên man, khoắc khoải trong đầu chú hay ở đâu đó, trong góc căn hầm, tít bên kia sông. Một loạt đạn trọng pháo từ phía thị trấn bắn xuống, cắt đứt, giật chú ra khỏi cơn mộng mị. Tỉnh dậy, chú nằm trằn trọc đợi sáng.

Nhưng đêm nay, chú chẳng cần chờ đợi sáng. Một trái đạn oan nghiệt đã nổ như long trời, lở đất, bên ngoài cửa hầm. Đào một hố sâu dưới đất, hất tung nửa căn hầm và làm chú ngất đi. Những mảnh đạn đã ghim vào đâu đó trên người con Sớm chẳng kịp một tiếng kêu, mái chòi lá bay ra xa bốc cháy. Khi tỉnh lại, định thần.trong ánh lửa chú nhận ra con Sớm nằm sấp bên trong cửa hầm, chú ôm lấy thân thể bất động của con gái chú còn nóng hổi, đẫm máu, chú ôm khư khư trong hai tay chẳng biết đến bao lâu.

Chú hai cực chôn con Sớm trên cái gò cao ở đồng trong, nơi ba má chú và mẹ con Sớm yên nghỉ.

Thấm thoát được ba tháng, mùa mưa đã dứt hẳn, ngọn gió mùa ngừng thổi từ biển cả mặn mà về đây đầy ắp cánh đồng hoang dã. Với chú hai Cực có nghĩa là những tiếng gọi náo nức ngày mùa cuối cùng đã tắt hẳn trong tâm trí chú.

Một đêm, chú hai Cực ngồi ở góc mảnh sân con, hai tay ôm mặt, hai chân bỏ thõng ngâm trong góc ruộng trũng còn ngập nước. Chú ngồi rất khuya, không cử động. Nhìn xa chú như một gốc cây già cụt đang mòn rã. Rất khuya một trái đạn đã nổ gần phía sau lưng chú, hất tung chú xuống ruộng nước, một mãnh đạn vô tình mầu rêu nhạt, có nét chữ mầu vàng, có nét chữ mầu đen…

Một dòng máu chảy ra, từ thân thể chú loang lớn trong nước và tan rã thản nhiên. Có lẽ, điều ân hận trong mấy tháng gần đây chú bỗng có ý định đi thăm thằng Minh, con trai chú bặt tin, nhưng lần lữa mãi, chú chẳng còn kịp đi. Vô ích, bởi không kịp đi đã bớt cho chú thêm một điều đau lòng. Thằng Minh cũng đã chết, Người bạn thằng Minh (nơi nó khai nhờ địa chỉ báo tin) đã tóm tắt câu chuyện, Thằng Minh bị bắt lính gửi lên chiến trường cao nguyên tử trận.

Một đám mây, ngọn gió đã qua trên bầu trời lúc ấy đó là sự chứng kiến duy nhất về cái chết của chú hai Cực.

Năm

*

Thằng Bửu trở về thăm thôn xóm cũ, nửa đêm hạ tuần đen đặc. Chiếc ghe nhỏ ẩn nấp dọc bờ phía bên có nhà cửa, xóm ấp sông Vàm-cỏ-tây. Hai người đồng đội lặng lẽ chèo, thằng Bửu ngồi giữa lòng ghe, gác cây súng ngang đùi, ngón cái của bàn tay phải để lên chốt an toàn và ngón trỏ để trong cò súng, cái cảm giác lặng ngắt của bàn tay nó trên, cây súng, duy nhất cho nó cảm giác nó đang trở về. Đầu óc miên man, ào ạt những hình ảnh, xúc động chồng chất những góc cạnh trong trí nhớ. Một ngọn gió thổi lên mặt nó, một chút thanh thản làm dịu đi chút phiền muộn, tư lự … Chiếc ghe lẳng lặng ngược dòng sông khuất lấp trong bóng tối. Và cả ba gã trai tráng chẳng kẻ nào mở miệng. Có lẽ đã đến chổ lõm con sông, thằng Bửu ra dấu cho ghe dừng lại, và cả ba người cùng kéo chiếc ghe giấu lên bờ.

Thằng Bửu đi trước theo đường bờ ruộng về phía nhà nó, từ xa một mầu xám đặc của đất, của cây và bầu trời trộn lẫn. Đường đất mấp mô như mới được đắp thêm ngổn ngang, lăn lóc, chồng chất đất. Không một tiếng động, cả gió trên cây và các loài sinh vật khác ngoài tiếng bước đều đặn từng bước chân của ba người, Người đồng đội đi sau có thể nghe hơi thở dồn dập của thằng Bửu” Còn bao xa nữa” một người hỏi “đến rồi” Thằng Bửu đáp” Vùng quanh kích tự do mà” một người nói. Thằng Bửu dừng lại, phía đầu sân bên kia đã bị đào sâu bởi một trái đạn pháo cỡ lớn, lửa đã thêu rụi căn chòi lá từ bao giờ, mùi cay sè của thuốc đạn cháy nám trên đất, mùi nồng to than của lá gồi, của cây đước còn được giữ lại trong các khe nứt của đất, còn ngậm lại đâu đó trong dấu vết của sự hủy diệt dở dang. Sự chết ở đây đã đến tận cùng gốc rễ. Thằng Bửu đi loanh quanh, rồi đi về hướng mộ mẹ, ông bà nội, rồi cùng đồng đội đi ngược lên phía nhà con Sớm. Ba cái bóng thẳng hàng, nhấp nhô “ đi hả, Bửu”. Một người nào đó hỏi. Không có tiếng đáp, một loạt đạn trọng pháo bắn từ phía thị trấn gầm rú qua trên đầu nổ bên kia sông, đất rung chuyển xa cách một dòng nước như sấm sét. Thềm vành đai trắng. Một người nhận xét ”Chất độc ở đây có thể ngấm xuống sâu cả thước”. Một người khác trả lời thằng Bửu nghe lơ đãng, một cơn gió nhẹ rùng mình, mơ hồ cảm thấy mùi người chết trong không khí. Càng đi gần đến nhà con Sớm, mùi tanh tưởi như đặc lại, nồng nặc. Nó đứng sững trong mảnh sân nhà con Sớm, bây giờ cái chòi lá nhà con Sớm cũng chỉ còn lại căn hầm đất đã bị sạt lở, mọi thứ gãy, vỡ, tan nát, ngay dưới chân nó đạn đào một hố sâu. Nhưng ở đây còn có hai con người đang sinh sống. Họ đi đâu? Một mùi xác chết rữa thối vừa bắt gặp nhắc nhở thằng Bửu. Nó đi quanh sang góc sân bên kia chỗ tiếp giáp với một góc ruộng nước và gặp một xác người. Tay thằng Bửu run run bật ngọn đèn bấm mang theo, một người đàn ông tóc ngắn, áo ngắn tay, quần cụt nằm úp xấp chúi đầu xuống ruộng nước. “Chú hai Cực thật rồi”. Nó lẩm bẩm những đều vô nghĩa trong miệng. Hai người đồng đội của nó cũng tách ra đi tìm kiếm. Một người trong bọn hỏi “Chúng ta chôn cất cho tử tế chứ?”. Vẫn giọng người đó nói “Ông già con Sớm đấy”. Trong hơn hai năm gian khổ cùng những người đồng đội này, đôi lần thằng Bửu đã hé mở tâm sự, lai lịch nó, những điều tưởng chừng như nó đã quên…

Ba người đã vớt xác chú hai Cực bằng cái áo ny long của thằng Bửu mang theo, gói kín, buộc kỹ lại, chôn ở ngay hố đạn góc sân. Mùi nồng nặc của xác chú hai Cực đã rữa thối rồi cũng tan trong không khí, tan trong trời đất như nỗi đau đớn một đời chú đeo đẳng cũng chôn vùi theo chú trong đất. Ai hiểu được. Thằng Bửu nhớ đến vuông vải trắng làm khăn tay của con Sớm nó cột vào một mảnh gỗ, cắn ngón út cho chảy máu và hết sức cố gắng, nắn nót ngón tay út vụng về, run bật của một gã trai ngoài hai mươi tuổi vừa được học vỡ lòng: ”Chôn chú hai Cực ngày… năm…”. Thằng Bửu nghĩ “Ừ, một ngày nào con Sớm, thằng Minh cũng trở về …” nó viết chữ Bửu phía dưới và bọc kín bằng mảnh ni lông còn lại cắm lên mộ chú hai Cực.

Ba người lặng lẽ đi theo hàng một nhấp nhô trên đường bờ ruộng mất hút vào phía bóng tối chỗ buộc ghe bên bờ sông Vàm-cỏ-tây.

*

Hai tháng sau ngày thằng Bửu chôn chú hai Cực, vào một đêm tối trời đáng nguyền rủa, thằng Bửu đã hy sinh ở một xóm ấp nhỏ vô danh thuộc miền Đông. Dòng máu nóng của sự sống đã tự do chảy đến cạn cùng từ vết thương nơi ngực giữa trái tim mở ra làm ấm áp cỏ và đất dưới người nó. Về sau đồng đội thằng Bửu đã tìm được xác nó, bộ bà ba đen mặc trên người sũng máu, đã khô, một cuốn sổ tay nó viết duy nhất một dòng địa chỉ báo tử: Nguyễn Thị Sớm, kinh giữa, sông Vàm Cỏ Tây và không còn gì khác

Sài Gòn.
1970

Share this post