Nỏ Thần, Áo Mỵ Châu Và “Kẻ Thù” Của Tự Do Kinh Tế Ở Việt Nam – BBC

Để giữ yên bờ cõi An Dương vương có nỏ thần, nhưng vì mất cảnh giác trước mưu ‘nam nhân kế’ của Triệu Đà mà mất nước. Khi được Rùa vàng báo: “Kẻ ngồi sau ngựa chính là giặc đó!” thì đã muộn. Tuy là truyền thuyết, nhưng bài học còn có giá trị muôn đời.

Tự do kinh tế được ví như ‘nỏ thần’ thịnh vượng cho các quốc gia. Việt Nam trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường, dường như dần nhận thấy như vậy.

Thế nhưng, các rào cản được dựng lên bởi ‘kẻ thù’ núp bóng ý thức hệ xã hội chủ nghĩa giáo điều đang hạn chế công dụng của nỏ thần. Góp phần cảnh báo về sự nguy hiểm của ‘kẻ thù này’ là mục đích của bài viết này.

Chính sách ‘đột phá’

Chính sách tự do kinh tế là công cụ giúp đất nước hướng tới tăng trưởng kinh tế và thịnh vượng. Hoạch định một chính sách đúng đắn là công việc khó khăn, nhưng để theo đuổi, chi tiết hoá và thực hiện có hiệu quả là cả một quá trình bền bỉ, quyết tâm vượt qua trở ngại, nhất là trong bối cảnh thể chế hiện nay. Nhận diện đúng ‘kẻ thù’ của tự do kinh tế khiến cho chính sách được thực thi thuận lợi và có hiệu quả hơn trước mắt cũng như lâu dài.

Chúng ta có thể chỉ ra không ít những thất bại chính sách kinh tế trong quá khứ ở Việt Nam, như cải cách ruộng đất, cải tạo công thương, ‘giá lương tiền’ trước đây … cho đến ‘quả đấm thép’ từ các tập đoàn kinh tế nhà nước gần đây. ‘Bắn súng lục vào quá khứ’ không tức thì tạo thay đổi thực trạng, nhưng chỉ ra ‘kẻ thù’ của tự do kinh tế là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng cho cải cách trong bối cảnh hiện nay.

Chính sách kinh tế rất rộng, bao gồm nhiều bộ phận, nhiều nội dung tuỳ theo cách tiếp cận, góc nhìn. Đối với Việt Nam ‘nghị quyết Hội Nghị Trung Uơng 5 khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế’ được xem là chính sách hướng đến tự do kinh tế, trong đó thúc đẩy ‘tự do kinh doanh’ là một lựa chọn thực thi.

Các nghị quyết và hành động của chính phủ, đặc biệt Nghị Quyết 19/NQ-CP về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế là những nỗ lực triển khai phù hợp. Hiệu quả là tăng trưởng kinh tế có thể thấy trong ngắn hoặc trung hạn, nhưng để đảm bảo tính bền vững trong dài hạn còn rất nhiều việc phải làm.

‘Đột phá’ tạo ra chống đối

Những ai nghiên cứu về ‘tự do kinh doanh’ (Laisser-faire) chắc hẳn còn nhớ câu chuyện về lời thỉnh cầu vua nước Pháp lúc bấy giờ là Louis XVI của thương nhân Le Gendre “Xin cứ để cho chúng tôi làm”.

Trên quan điểm thực tiễn, tự do kinh doanh là phản ứng của những doanh nhân năng động bị nền kinh tế chỉ huy đè nén. Mọi cản trở tự do kinh doanh, mọi giới hạn hoạt động kinh tế là một sự vi phạm đến quyền cơ bản của con người, đồng thời là một sự đe doạ cho trật tự kinh tế tự nhiên.

Hơn ba thế kỉ từ đó đến nay triết lý kinh tế tự do kinh doanh được một số quốc gia, trong đó có nước Cộng hoà Pháp, nâng lên thành chủ thuyết, và nhờ đó họ phát triển lên trình độ cao về kinh tế xã hội như ngày nay. Chủ thuyết này hoạt động dựa trên các nguyên tắc của thị trường, và thể chế dân chủ với tam quyền phân lập và xã hội dân sự đồng hành như một sự tất yếu.

Hơn một triết lý kinh tế, hệ tư tưởng này đã và đang tạo nên thịnh vượng cho nhiều quốc gia trên thế giới, không chỉ về vật chất, kinh tế mà còn về tinh thần, giá trị xã hội của con người.

Cộng Hoà Pháp là nước phát triển, nhưng nhiều nhà nghiên cứu hẳn khó quên câu chuyện về Anne Robert Jacques Turgot (1727-1781). Ông là nhà kinh tế học người Pháp, nhà cải cách đã được vua Louis XVI bổ nhiệm làm tổng thanh tra tài chính, đã từng chịu thất bại trong nỗ lực áp dụng chương trình kinh tế tự do vào nước Pháp.

Trước sự chống đối của những kẻ bảo thủ ông bị cách chức. Khi đó ông viết bức thư gửi cho vua Louis XVI:

“Xin Bệ hạ chớ quên rằng chính sự yếu đuối đã đưa cái đầu của vua Charles I lên đoạn đầu đài. … người ta nghĩ Ngài yếu, và thỉnh thoảng tôi lo rằng tính cách của Ngài có điều thiếu sót”.

Không đầy hai mươi năm sau, vua Louis XVI bị đưa lên máy chém tại quảng trường Cách mạng, sau đổi tên thành quảng trường Concorde.

‘Thể chế do con người tạo ra, do đó họ có thể thay đổi nó’. Tuy nhiên, thể chế bất kỳ nào cũng dựa trên một hệ tư tưởng nhất định. Chúng ta không thể ‘oán trách’ những nhà sáng lập của hệ tư tưởng cộng sản chủ nghĩa, nhưng có thể phản biện về sự giáo điều của những người vận dụng nó trong thực tế.

Ý thức hệ xã hội chủ nghĩa giáo điều chính là kẻ thù của tự do kinh tế. Venezuela là bài học điển hình. Thế giới đang chứng kiến sự sụp đổ của nền kinh tế XHCN của nước này. Ý thức hệ kiểu này từng là công cụ của những kẻ cầm quyền mị dân như Hugo Chavez.

Đối với Việt Nam chủ trương đổi mới đất nước, lúc ban đầu, là xoá bỏ chế độ bao cấp của nền kinh tế tập trung, chỉ huy, là giải phóng các nguồn lực của đất nước, sức lao động và tài nguyên, để thoát nghèo. Dù manh nha, nhưng đó là thị trường, là ‘cứu cánh’ cho chế độ lúc bấy giờ.

Gần đây, khái niệm thị trường được gắn đuôi xã hội chủ nghĩa mà không thể làm rõ được nội hàm, thì liệu có thể cụ thể hoá bằng chính sách khả thi và luật pháp hoá nó trong thực tế.

Chính sách kinh tế ‘thực dụng’ ẩn chứa tính ‘cơ hội chủ nghĩa’ được xây dựng trên cơ sở lý thuyết mâu thuẫn giữa thị trường và xã hội chủ nghĩa sẽ không thể đảm bảo hiệu quả và tính bền vững của chính sách.

‘Tự do kinh doanh’ có vai trò như ‘nỏ thần’, nhưng đang chịu sự ràng buộc bởi ý thức hệ giáo điều, nên chỉ được coi là phương tiện ‘cứu cánh’ cho chế độ trước những thách thức thời cuộc.

‘Hiệu ứng ngược’ và hậu quả

Ý thức hệ giáo điều không chỉ là nơi ‘trú ẩn’ mà còn nuôi dưỡng cho một bộ máy hành chính cồng kềnh, đặc quyền đặc lợi, ‘con ông cháu cha’, sự tha hoá quyền lực, thoái hoá biến chất, tham nhũng của cán bộ đảng viên.

Áp dụng chính sách tự do kinh tế trong điều kiện hệ thống chính trị như vậy có thể thúc đẩy tăng trưởng, nhưng đồng thời sẽ gây ra những ‘hiệu ứng ngược’, những tác động ngoài ý muốn với những hậu quả nặng nề.

Một ví dụ điển hình: lợi dụng ‘sự khiếm khuyết’ của thể chế hiện hành, như sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước về đất đai, rất nhiều doanh nghiệp Việt tích luỹ ‘nguyên thuỷ’ tư bản để phát triển. Trong khi tự do kinh doanh, thực chất, phải dựa trên nền tảng của sở hữu tư nhân. Đó là một trong những nguyên tắc vận hành cơ bản của kinh tế thị trường.

Tự do kinh doanh một khi ‘thoát khỏi’ sự ràng buộc bởi các nguyên tắc này, hơn thế nó được thể chế hoá bởi chính quyền, vốn tồn tại dựa vào ý thức hệ xã hội chủ nghĩa giáo điều, buộc phải ‘quỵ luỵ’ các mối quan hệ với người có chức có quyền, và khi bị ‘ép duyên’ với quyền lực tha hoá, sẽ có sức tàn phá khủng khiếp.

Chúng cấu kết với nhau để tạo ra các doanh nghiệp sân sau, các nhóm lợi ích, mua chuộc, hối lộ… Chúng lũng loạn thị trường, cạnh tranh bất bình đẳng, chèn ép, ‘cá lớn nuốt cá bé’, gian lận thương mại, lừa dối người tiêu dùng. Chúng làm kiệt quệ tài nguyên và ô nhiễm môi trường. Chúng gây nên phân hoá giàu nghèo, bất công xã hội.

Chúng ta đang chứng kiến rất nhiều hiện tượng, hành động tiêu cực trong xã hội do bất cập của thể chế hiện hành.

Trong nửa đầu tháng 6 năm 2019 tiếp tục xảy ra 2 vụ việc khiến dư luận rất bất bình: Vụ án “sản xuất và mua bán hàng giả” liên quan đến việc khám xét kho nhiên liệu của ông Trịnh Sướng đã bị khởi tố ngày 4/6 và vụ Đoàn thanh tra Bộ Xây dựng ‘vòi tiền’ hối lộ ‘bị tạm giữ, lập biên bản’ ngày 12/6.

Những câu hỏi đang được đặt ra như tại sao những kẻ vi phạm luật pháp nghiêm trọng có thể ‘qua mặt’ chính quyền trong một thời gian dài? Tại sao các cán bộ chống tham nhũng lại tham nhũng? Chúng đáng bị xử lý về luật pháp, đáng trách về đạo đức, nhưng cũng đồng thời là hậu quả, ‘nạn nhân’ của thể chế đang suy thoái. Nhiều đại án trước đây xử ‘quá khứ’, hai vụ việc này là ‘hiện tại’.

Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc vẫn miệt mài, nhiệt huyết theo đuổi chính sách kinh tế thực dụng. Ngày 14/6/2019 ông dự lễ khánh thành nhà máy ôtô VinFast.

Ông phát biểu đây là “một kỳ tích của ngành ôtô Việt”, “sự thần tốc này… giúp Việt Nam vươn tầm thế giới và khẳng định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng” và cam kết rằng chính phủ tiếp tục đồng hành, chia sẻ cùng doanh nghiệp, “những nhà đầu tư chuyên nghiệp”, Ông đã ngộ ra công dụng của ‘chiếc nỏ thần’.

Nhưng ‘kẻ thù’ đang ngăn chính phủ có một chương trình cải cách thể chế mà khởi điểm là tự do kinh doanh như một nỗ lực có ý thức để thay đổi vị trí của quyền lực và định hình lại cuộc sống người dân cho đến khi tự do kinh tế có thể được công nhận ở Việt Nam như một hệ tư tưởng.

PGS TS Phạm Quý Thọ

Share this post