Nôm Na Là Cha Mách Qué – Tuệ Chương Hoàng Long Hải

Nôm Na Là Cha Mách Qué – Tuệ Chương Hoàng Long Hải

Thân phụ tôi là người sinh ra vào năm thứ ba của thế kỷ 20 nên từ khi còn trẻ ông đã được nội tổ tôi cho học chữ Nho. Khi tôi mới lớn, khoảng những năm đầu 1940, tôi thấy ba tôi rất kính trọng chữ Nho mà ông thường gọi là “chữ của thánh hiền”. Thấy một tờ giấy có chữ Nho, dù là giấy gói những bao hương (nhang) của mấy tiệm Ba Tàu, ba tôi cũng lượm lên đốt chớ không cho vào hố rác bao giờ. Sau nầy, hiểu biết lịch sử về giòng họ tôi, tôi cho việc ấy là bình thường. Thế thì chữ Nôm, trông qua cũng giống như chữ Nho là của ai sáng tạo ra, vậy mà tôi từng nghe người ta nói, có khi được ghi lại trong sách câu “Nôm na là cha mách qué”. Gọi mách qué là có ý chê, không tôn trọng nó như “chữ của thánh hiền”. Nó không là “chữ của thánh hiền” sao?

Từ những suy nghĩ từ thời thơ ấu đó, tôi viết bài nầy nói sơ về việc hình thành chữ Nôm, tại sao chữ Nôm bị cho là “mách qué” và tôi sẽ giới thiệu vài bài thơ Nôm đầu tiên trong văn học sử nước ta. Quý độc giả sẽ ngạc nhiên, tại sao gần một ngàn năm trước, tổ tiên chúng ta đã có những bài thơ Nôm hay như vậy!

Chu_Nom

Gọi là Nôm là để phân biệt với Hán hoặc Nho. Hán hay Nho là chữ của người Tàu, chữ Nho là chữ của người Việt.

Trước hết, phải nói ngay rằng tiếng Nôm là biến dạng của tiếng Nam. Chữ Nho là chữ của người Hán, người phương Bắc. Vậy thì người phương Nam cũng có chữ nghĩa riêng của họ, đó là chữ Nôm (Nam). Suy ra, sở dĩ có việc hình thành chữ Nôm là do tự ái dân tộc, tự ái về lịch sử, về cá tính dân tộc và tinh thần độc lập. Khi soạn ra chữ Nho, có lẽ người xưa nghĩ rằng tại sao người phương Bắc có chữ của họ mà người Nam không có chữ của người Nam.

Thực ra, trước hoặc sau khi tiến hành việc định cư ở đồng bằng lưu vực sông Nhị Hà, người Việt (Lạc Việt) đã có một thứ chữ riêng của họ nay chỉ còn sót lại trong một số bản Mường, một loại chữ hình dáng như con nòng nọc. Trong quá trình ba lần Bắc thuộc, có lẽ thứ chữ nòng nọc ấy vì chính sách đồng hóa của người Tàu mà biến mất trong cộng đồng những người Việt định cư ở vùng đồng bằng và trung du. Người Mường, dòng dõi rất gần với người Việt nhưng định cư ở vùng núi, chế độ cai trị của người Tàu lơi lỏng hơn, ít ảnh hưởng hơn nên hiện nay số chữ nòng nọc ấy còn sót lại một ít trong cộng đồng người Mường.

Như vậy thứ chữ nòng nọc ấy biến mất trong cộng đồng người Việt định cư ở lưu vực sông Hồng? Nếu còn, tại sao họ không phát triển thành thứ chữ đó cho người Việt mà phải mượn chữ Hán để sáng tạo ra chữ Nôm?

Quả thật, cách viết và cách đọc chữ Nôm là bắt nguồn từ trong chữ Hán. Xin trích một đoạn sau đây của ông Nguyễn Hữu Vinh nói về nguồn gốc chữ Nôm:

“Chữ Nôm là một sáng tạo rất có ý nghĩa của tổ tiên cha ông ta. Sự xuất hiện của chữ Nôm là một sự kiện lớn đánh dấu sự tiến triển của nền văn hóa của dân tộc trong gần 2000 năm qua. Sự hình thành của chữ Nôm có thể do sự bức bách cần thiết trong việc giáo hóa dân chúng ở vào thời đại xa xưa, Văn Ða cư sĩ (1) cho rằng Nhâm Diên đã dùng chữ Nôm trong công việc giáo hóa quần chúng. Càng về sau, mỗi lần đất nước bị kẻ thù phương Bắc xâm lược thì trong những thời kỳ đó, chữ Nôm lại đóng vai trò tích cực hơn trong việc chống trả ngoại xâm và xây dựng đất nước”.

Chữ Nôm bắt đầu xuất hiện dưới thời Bắc thuộc. Nhưng Bắc thuộc trải qua ba thời kỳ: Lần thứ nhất từ 111 trước Tây Lịch đến năm 39 sau Tây Lịch; lần thứ hai từ năm 43 sau Tây Lịch đến năm 544; lần thứ ba từ 603 đến 939. Cuộc đô hộ kéo dài cả ngàn năm nên làm sao biết chữ Nôm hình thành năm nào, khoảng nào?

Sử ghi rằng:

5.- Bố Cái Đại Vương (791).

Năm Tân Tị (791) quan đô hộ là Cao Chính Bình bắt dân đóng sưu thuế nặng quá, lòng người oán giận. Khi bấy giờ ở quận Đường-lâm (bây giờ là làng Cam Lâm, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây) có người tên là Phùng Hưng nổi lên đem quân về phá Phủ Đô Hộ. Cao Chính Bình lo sợ thành bệnh mà chết. Phùng Hưng mới chiếm giữ phủ thành, được mấy tháng thì mất. Quân sĩ lập con Phùng Hưng là Phùng An lên nối nghiệp. Dân ái mộ Phùng Hưng mới lập đền thờ và tôn lên là Bố Cái Đại Vương, bởi vì ta gọi cha là bố, mẹ là cái, nghĩa là tôn Phùng Hưng lên làm cha mẹ.
(Việt Nam Sử Lược – Trần Trọng Kim- Q. 1 tr. 60)

Ở đoạn trích dẫn nói trên, Trần Trọng Kim giải thích chữ bố là cha, chữ cái là mẹ (1). Cả hai chữ nầy đều là chữ Nôm. Nhiều sách cũng giải thích như thế để chứng minh rằng chữ Nôm đã xuất hiện từ trước đời Phùng Hưng.

Sách Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim lại chép:

“Năm Mậu Thìn (968), Vạn Thắng Vương lên ngôi hoàng đế, tức là Tiên Hoàng Đế, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư….”

Trong tên nước Đại Cồ Việt, chử Cồ là chữ Nôm. Do đó, bài của ông Nguyễn Hữu Vinh có đoạn:

“Có người căn cứ trên ba chữ Ðại Cồ Việt để cho rằng Nôm có từ thời Ðinh Tiên Hoàng”.

Ông Đào Duy Anh thì cho rằng chữ Nôm hình thành vào thời kỳ “Họ Khúc dấy nghiệp”.

Trần Trọng Kim chép công nghiệp của Khúc Thừa Dụ như sau:

“Ở Giao Châu, bấy giờ có người họ Khúc tên là Thừa Dụ, quê ở Hồng Châu (thuộc địa hạt Bình Giang và Ninh Giang ở Hải Dương). Khúc Thừa Dụ vốn là người hào phú trong xứ, mà tính lại khoan hòa, hay thương người, cho nên có nhiều ngưới kính phục. Năm Bính Dần (906) đời vua Chiêu Tuyên nhà Đường, nhân khi trong châu có loạn, chúng cử ông ấy làm Tiết-độ-sứ, cai trị Giao Châu. Nhà Đường bấy giờ suy nhược, thế không ngăn cấm được, cũng thuận cho ông ấy làm Tỉnh Hải Tiết Độ Sứ và giaphong Đồng Bình Chương Sự.”

Bửu Cầm chủ trương “chữ Nôm xuất hiện sau thời Sĩ Nhiếp và phát triển mạnh mẽ vào thời Trần”.

Nhìn chung, người ta có thể kết luận rằng chữ Nôm hình thành vào thời Bắc thuộc và phát triển vào đời Trần.

Theo tài liệu văn học, đặc biệt trong hai cuốn “Thi Văn Việt Nam” của Hoàng Xuân Hãn và “Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển” có ghi lại những bài thơ Nôm đầu tiên của văn học nước ta. Những bài nầy được gom trong cuốn sách nhan là “Nghĩa Sĩ Truyện” có các bai thơ văn đặc biệt như sau:

Từ năm 1941, cụ Hoàng Xuân Hãn đã công-bố trong Khai Trí Tiến Đức tập san số 2 và 3 mấy bài thơ Nôm đời Hậu Trần được gom trong Nghĩa Sĩ Truyện: Một bài của vua Trùng Quang (1409-1413) tặng Nguyễn Biểu khi lĩnh mạng đi sứ, bài họa lại và sau đó là bài thơ bữa tiệc “Ðầu Người” của Nguyễn Biểu khi bị giặc làm áp lực, bài tế Nguyễn Biểu của vua Trùng Quang và bài tụng chí khí của Nguyễn Biểu do sư chùa Yên Quốc làm ra.

Vua Dụ Vương Tường
Gã Cho Chúa Thuyền Vu

Hán Hồ vẫn muốn vẹn trăm đường
Há trẫm riêng tây có phụ nường
Bắc quốc tuy rằng ngoài dị vực
Vương đình song cũng một biên cương
Ở đây hạnh thắm nên mai nhạt
Về đấy sen tàn lổi cỏ hương
Hơn thiệt thôi đừng ai oán nữa
Chờ ngày áo gấm lại hoàn hương.

Vua Trần Trùng Quang
Tiễn Nguyễn Biểu Đi Sứ

Mấy vần thơ cũ ngợi hoàng hoa
Trịnh trọng rầy nhân dựng khúc ca
Chiếu phượng mười hàng tơ cãn kẽ
Vó câu ngàn dặm tuyết xông pha
Tang bồng đã bấm lòng khi trẻ
Khương quế thêm cay tính tuổi già
Việc nước một mai công ngõ vẹn
Gác lân danh tiếng dọi lầu xa

Cổ Đầu Người

Ngọc thiện trân tu đã đủ mùi
Gia hào thêm có cổ đầu người
Nem cuông chã phượng còn thua béo
Thịt gũ gan lân cũng kém tươi
Ca lối lộc minh so cũng một
Đọ bề vàng sắt bội hơn mười
Kia kìa ngon ngọt tày vai lợn
Tráng sĩ như Phàn tiếng để đời

Vua lại sai văn thần ghi chép công trạng của các tướng hợp biên làm quyển sách gọi là Trung Hưng Thực Lục và lại sai thợ vẽ tranh các tướng để treo ở gác công thần (tác giả tự in đậm) Việt Nam Sử Lược – Trần Trọng Kim C.1 tr. 159

Có người giải thích tiếng cái không có nghĩa là mẹ mà cái là lớn như sông cái, ngón tay cái, v.v… Tiếng cái nầy bắt nguồn từ tiếng Mã Lai.

Tống ghi trong Thiết Vận, Quảng Vận đã các lập được ở Việt Nam (hệ thống này về sau sẽ diễn biến dần và chuyển thành cách đọc Hán Việt hiện nay) thì loại Nôm mà chúng ta hiện thấy mới thực sự có đầy đủ tiền đề cần thiết để xuất hiện”. Bửu Cầm 1960 (7) cho rằng chữ Nôm có thể hình thành trong khoảng thế kỷ thứ 8 đến thứ 10, thời kỳ mà xã hội Việt Nam đang manh nha tư tưởng và hành động đấu tranh dành độc lập. Bửu Cầm nhấn mạnh rằng “chữ Nôm xuất hiện sau thời Sĩ Nhiếp và phát triển mạnh mẽ vào thời Trần”. Dù vấn đề chữ Nôm hình thành từ lúc nào còn đang là đề tài nghiên cứu, nhưng không ai phủ nhận được rằng chữ Nôm đã đơm hoa kết trái bắt đầu từ thời đại nhà Trần ở thế kỷ thứ 13.

Bài đọc thêm về chữ Nôm

Trước khi chữ Nôm xuất hiện, dân nước Nam có lối chữ viết thường gọi ‘chữ nòng nọc’ – bao gồm những nét nguấy nguấy giống hình con nòng nọc. Loại chữ này y như chữ người Mường còn giữ lại cho đến vài thế kỷ gần đây. Và có lẽ cùng gốc gác với thứ chữ viết của người Thái Lan. Trong các nhóm ngôn ngữ từ thời cổ đại của tất cả các khối dân tộc cư ngụ ở nước An Nam, nhóm ngôn ngữ Việt Mường là nhóm lớn nhất.

Nguồn Nguyên Nguyên (http://www.viendu.com/)

“Chữ Nôm được sáng tạo từ bao giờ và do ai làm?” là một câu hỏi hiện chưa có câu trả lời dứt khoát vì thiếu tài liệu xác thực. Không ai dựa trên sự kiện Hàn Thuyên là người đầu tiên làm thơ văn bằng ngôn ngữ Việt theo Ðường luật để kết luận rằng chính Hàn Thuyên đã sáng chế Chữ Nôm vào cuối thế kỷ thứ XIII. Ðó là một nghị luận thiếu căn cứ vững chắc, bởi các Niên Giám Việt Nam chỉ ghi rằng Hàn Thuyên làm những bài thơ đầu tiên bằng Quốc Âm, và chưa hề ghi rằng Hàn Thuyên đã sáng tạo chữ Nôm hoặc chữ Nôm chỉ phát hiện trong khoảng sinh thời của ông 2. Hiển nhiên Hàn
Thuyên phải dùng chữ Nôm để soạn thảo các tác phẩm của ông; tuy vậy không có gì phủ nhận rằng chữ Nôm đã có trước ông.

Mặt khác, một sự kiện có trong Niên giám (Xem cương mục, đoạn mở đầu, quyển 4, tờ 25b-26a) cho chúng ta tin tưởng rằng chữ Nôm có thể đã có trước thế kỷ thứ XIII.

Vào cuối thế kỷ thứ VIII (791), nước Nam còn bị nhà Ðường đô hộ, một nhà lãnh đạo Việt Nam tên là Phùng Hưng, sau khi đánh bại tên thái thú Tàu dạo đó, chiếm quyền bảo hộ và cai quản xứ sở một thời gian ngắn. Dân chúng tôn vinh ông là “Bố Cái Đại Vương” có nghĩa là “ông Vua, cha mẹ [của dân]”. Trong danh hiệu này có hai chữ Việt: Bố (cha) và Cái (mẹ). Vào thời đó, danh hiệu của vị nguyên thủ trong nước có hai chữ thuần túy Việt Nam không thể viết trực tiếp bằng chữ Tàu, ta phải có một hệ thống chữ viết riêng biệt để diễn tả hai danh từ này, và hệ thống chữ viết đó phải là chữ Nôm. Hiện nay, tài liệu ghi chép cổ nhứt về chữ Nôm là bản khắc nơi núi Hộ Thành (tỉnh Ninh Bình) vào năm thứ 3 Thiệu Phong triều Trần Dụ Tôn (1343) trên đó có hai mươi tên làng bằng chữ Nôm (xem Bulletin de l’E.F.E.O., XII, 1, trang 7, số 1)

Share this post