Nửa Đời Chinh Chiến – Trần Ngọc Toàn (Phần 1)

Nửa Đời Chinh Chiến – Trần Ngọc Toàn (Phần 1)

Lời mở đầu: Năm nay tôi đã 68 tuổi đời. Quay nhìn lại đoạn đường đã qua, tôi đã tự thống kê với 15 năm đi lính, tất nhiên là lính Việt Nam Cộng Hòa, gần 9 năm tù Cộng Sản và hơn 20 năm làm việc lao động cho một xưởng in nhật báo The Washington Post nhờ vượt biên ngay sau khi ra khỏi Trại Tù vào tháng Ba năm 1984. Khi còn đi làm việc, do phẫn uất trong lòng, tôi cố gói ghém thời gian để tự thực hiện 3 tập Truyện ngắn từ năm 1990 với bút ký “Vào Nơi Gió Cát” và 2 tập truyện ngắn “Vết Thương Việt Nam” và “Chiến Tranh va Tình Yêu”. Bên ngoài, tôi thấy xuất hiện khá nhiều hồi ký của một số tướng lãnh và viên chức của thời Việt Nam Cộng Hòa. Tôi chẳng thấy thích thú gì khi đọc những trang giấy chạy tội, không trung thực chỉ nhằm bám víu vào những hư không để cố khỏa lấp câu chưởi thậm tệ của cố Tổng Thống Hoa Kỳ Lyndon B. Johnson là “Một bè lũ ác ôn côn đồ”.

Thế hệ của chúng tôi lớn lên tại miền Nam Việt Nam trong một chế độ độc lập và dân chủ đầu tiên, sau ngày thực dân Pháp rút lui và nền quân chủ của nhà Nguyễn cáo chung. Như nhà văn Trần Hoài Thư đã viết: “Viết về một người cùng thế hệ, cùng nhịp suy nghĩ, cùng con tim rực lủa, và cùng những ngỗn ngang trên vai, mà thế hệ chúng ta đã bị gánh, bị chịu đựng, bị lợi dụng… thì thật là một điều hạnh phúc. Nhất là đối với những người có kinh nghiệm máu và nước mắt như…. Hơn thế nũa, có lẽ khác với những người sĩ quan khác, anh đã dành thì giờ viết cho bạn bè, đồng đội hơn là bản thân anh… ”

Nhìn thấy thế hệ con cháu của mình lớn lên vô tư ở ngoại quốc, tôi bỗng thấy thích kể chuyện về quảng đời 15 năm quân ngũ để chúng đừng quên số phận của khoảng 300 ngàn chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến chống Cộng Sản bảo vệ miền Nam Việt Nam và cả hàng trăm ngàn thương và phế binh còn lây lất. Chính nhờ họ chúng mới có được một tương lai tốt đẹp như ngày nay. Hơn thế nữa, tôi có tham vọng muốn chứng minh cái gọi là Quân Đội Nhân Dân Việt Nam mới chính là Quân Ngụy.

Trần Ngọc Toàn, cựu tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến

Thiếu úy non choẹt

Tôi tốt nghiệp ra trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam vào ngày 22 tháng 12 năm 1962, đúng 22 tuổi đời. Tổng Thống Ngô Đình Diệm lên chấp chánh đã cải tổ trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, nguyên là E’cole des Inter-Armes của quân đội Liên Hiệp Pháp tại Đà Lạt, thành trường Võ Bị Quốc Gia theo khuôn mẫu của trường West Point Hoa Kỳ. Cơ sở được xây dựng trên ngọn đồi 1515 về phía Tây của thành phố Đà Lạt do viện trợ của Hoa Kỳ. Với chương trình 4 năm đại học về Khoa Học Ứng Dụng Và Quân Sự từ cấp khinh binh đến cấp trung và đại đội trưởng liên quân chủng, Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam nhằm đào tạo những sĩ quan hiện dịch chuyên nghiệp cho Quân Đội. Bước sang năm thứ 4, do nhu cầu chiến trường, Tổng Thống Diệm đã đích thân lên chủ tọa lễ mãn khóa cho khóa 16 chúng tôi. Con số hơn 200 sĩ quan tốt nghiệp đã được phân phối đi Không Quân 27 người, Hải Quân 15, Nhảy Dù 3 với Thủ Khoa Bùi Quyền, Thủy Quân Lục Chiến 10 với Á Khoa Nguyễn Xuân Phúc sau này nổi danh trong trận tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị, Lực Lượng Đặc Biệt, Biệt Động Quân, và các sư đoàn Bộ Binh từ Cà Mâu ra đến Huế và Quảng Trị. Chỉ trong vòng 1 năm sau, số tử trận ngoài chiến trường lên đã gần 50 người.

Dù khóa chúng tôi đã được trui rèn thêm ở Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân ở Dục Mỹ trước ngày ra trường, khi đến đơn vị Thủy Quân Lục Chiến tôi cũng không được giao chỉ huy trung đội. Ít nhất cũng phải 3 tháng mang súng đi theo học nghề từ các hạ sĩ quan thâm niên vốn xuất thân từ các đơn vị Commando của Pháp. Tôi thuộc mẫu người phản ứng chậm, theo phân tích tâm lý học. Lần đầu tiên, khi chính thức được làm trung đội trưởng có hơn 40 Thủy Quân Lục Chiến với một số hạ sĩ quan và hạ sĩ dày dạn kinh nghiệm chiến trường và đám lính ngỗ ngáo, tôi cũng tỏ vẻ mình cũng lì lợm như ai. Trong cuộc hành quân tìm diệt địch ở vùng đồng ruộng Cai Lậy, Mỹ Tho, khi đang chỉ huy dàn quân tiến vào một bìa làng, với tấm bản đồ trên tay, tôi bị một loạt đạn Việt Cộng bắn xối xả về phía mình. Lính tráng đã đồng loạt nằm xuống nấp. Chỉ còn một mình tôi đứng lớ ngớ do phản ứng chậm.Tiếng súng im bặt ngay loạt đạn đầu. VC chỉ bắn dọa và đánh lạc hướng. Tôi quay nhìn sang bên phải. Người lính gốc Miên nằm dưới mương đã bị trúng đạn. Chiếc nón sắt của anh lật ngửa chứa đầy óc trắng hếu. Khẩu súng Garant vẫn dính trong tay gác trên bờ mương. Máu phun ra ướt cả ống quần phải của tôi.Tôi buộc miệng la lớn: ”Y tá đâu?”. Cùng lúc ý tưởng chạy nhanh qua đầu. Như thế là con người sống chết có số. Tôi còn đứng như trời trồng đây. Người lính của tôi đã nhanh nhẹn nằm núp xuống mương ngay bên chân phải của tôi. Anh chỉ ló đầu đội chiếc nón sắt. Nếu viên đạn hơi lệch một milimét cũng khiến cho chiếc nón sắt quay đi. Đằng này, viên đạn trúng ngay giữa tam tinh nên mới đi xuyên qua đầu làm vỡ óc. Trong khi ấy tôi là mục tiêu dể trúng nhất. Lúc ấy, tôi mới thấy lạnh xương sống. Nhưng tứ đó tôi không sợ gì nửa với ý tưởng con người sống chết có số. Sau này, tôi mới biết đám hạ sĩ quan và lính tráng bảo nhau “Ông thiếu úy Đà Lạt này chì lắm”. Từ đó, hình như lính tráng theo lệnh của tôi răm rắp. Đúng là thử lửa. Tây nói là Baptême de feu. Cũng từ đó, quả nói không ngoa, tôi đã “Vào sinh ra tử” hơn cả chục lần trong suốt cuộc chiến bảo vệ miền Nam Tự Do cho đến cả cuộc di tản khốc liệt từ Quảng Trị về đến Hố Nai Biên Hòa vào cuối tháng 4 năm 1975.

Sau này tôi mới biết, qua sách vở của Việt Cộng sau năm 75, Cộng Sản Miền Bắc VN đã cho bọn Việt Cộng tập kết năm 1954 vào lại miền Nam từ năm 1958 cùng với quân chính quy ngoài Bắc. Vũ khí Nga Sô, Trung Cộng, Tiệp Khắc tuồn vào Nam trên bộ lẫn ngoài biển. Từ năm 1962, chúng đã có cả 100 ngàn quân với trang bị AK47, CKC, RPD và B40. Trong khi, Tiểu Đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến lâm trận Bình Giả vào cuối năm 1964, lính còn sử dụng súng Garant M1, Carbine M1, súng phóng lựu của Mỹ thời Đệ Nhị Thế Chiến. Thủy Quân Lục Chiến lại là một đơn vị Tổng Trừ Bị tinh nhuệ của miền Nam. Người ta đã thử hỏi mấy ông tướng VNCH biết gì, đã làm gì và chỉ huy mắt trận ra sao. Hay ngù ngờ, tranh dành quyền lực, tham ô nhũng lạm, ăn chơi trác táng, phe đãng nịnh bợ sau ngày Tổng Thống Diệm bị hạ sát, bỏ mặc cho lính chết ngoài mặt trận.

Chúng tôi đã đi vào cuộc chiến với tuổi trẻ đầy nhiệt huyết và đầy lãng mạn. Lãng mạn khi chàng hiệp sĩ xuống núi và túi bị mang đầy lý tưởng. Lý tưởng bảo vệ bờ cỏi non sông mang an bình ấm no cho dân chúng. Trong số những người bạn cùng khóa Võ Bị về Thủy Quân Lục Chiến, tôi có người bạn học cùng lớp từ thời học trường Trung Học Quang Trung tại Đà Lạt là Trịnh An Thạch. Đầu năm 1963, khi rủ nhau cùng vào trình diện Bộ Tư Lệnh Liên Đoàn Thủy Quân Lục Chiến còn đóng ở Thị Nghè, chúng tôi đồng lòng cùng đi ra đơn vị tác chiến. Không biết Tư Lệnh Phó Nguyễn Bá Liên nghĩ gì đã chấm Thạch về tiểu đoàn Yễm Trợ Thủy Bộ ở ngay hậu cứ. Do trưởng phòng Phòng Nhân Viên đã cho chúng tôi chọn đơn vị nhưng không ai đáp ứng nên đã quyết định phân phối theo mẫu tự ABC từ Tiểu Đoàn 1 tới Tiểu Đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến. Đi Tiểu Đoàn 1 có Trần Văn Hiển, Tiểu Đoàn với Nguyễn Văn Kim, Nguyễn Xuân Phúc. Ba chàng chữ T về Tiểu Đoàn 4 là Nguyễn Đàng Tống, Đỗ Hữu Tùng và tôi. Thấy vậy, Trịnh An Thạch nhất quyết xin vào trình diện tư lệnh phó và xin ra tác chiến. Cuối cùng Thạch được đi Tiểu Đoàn 1 với Hiển. Cuối năm 1963, Trịnh An Thạch đã tử trận trong trận chiến ở Tây Ninh lúc mới 23 tuổi với cấp bậc thiếu úy trung đội trưởng. Thạch mồ côi cha từ bé và lại là con trai duy nhất trong gia đình. Đau thương để lại cho mẹ già. Làm sao có thể để cho sự hy sinh trọn vẹn như thế của Trịnh An Thạch rơi vào quên lãng được. Trong khi ấy, bên Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù, chúng tôi mất thêm người bạn cùng khóa là Lý Văn Quảng vẫn còn Thiếu Úy độc thân cũng ngã xuống ở mặt trận Tây Ninh… Chúng tôi được tin khi đang tham chiến ở một măt trận khác. Hồi thời Tổng Thống Diệm ra trừơng với cấp bậc thiếu úy, luơng bỗng sống rất khuây khỏa. Từ hành quân trở về Sài Gòn, chúng tôi còn kéo nhau đi ăn cơm Tây và xem Cine’. Sau năm 1963, luơng lãnh ra chỉ đủ ăn. Mặc đã có chiến phục rằn ri rồi lại độc thân. Sau này lên đến thiếu tá, trung tá cũng chật vật.

Sau này, tôi có nghe nói người ta ở đời có nhiều nghề để sống sau lại chọn cái gọi là binh nghiệp. Hình như ai cũng thích nói đến hòa bình. Ai cũng ghê tởm chiến tranh. Nhưng rõ ràng, suốt trong lịch sử loài người, chiến tranh như nỗi đau không rời. Người ta đánh nhau suốt cả hàng ngàn năm nay vẫn còn mãi đến nay. Quốc gia có lãnh thổ tất phải có quân đội để giữ gìn bờ cỏi. Thời bình cũng phải chuẩn bị chiến tranh. Không có quân đội như Tây Tạng đã bị Trung Cộng ngang nhiên xâm chiếm. Quân đội phải chuyên nghiệp và hùng mạnh trong thời bình. Khi chiến tranh bùng nổ, toàn dân sẽ được động viện như Do Thái. Trường Võ Bị West Point của Hoa Kỳ không chỉ đào tạo những tướng lãnh như Mac Arthur mà còn Tổng thống Eisenhower nữa. Đội quân chuyên nghiệp chính là khung sườn vững chắc để cuộc tổng động viên của toàn dân cài vào mới chiến đấu hữu hiệu. Riêng tôi, việc chọn binh nghiệp bắt đầu từ hoàn cảnh gia đình. Mẹ tôi mất khi tôi mới lên 9 tuổi với 3 anh em trai và đứa em gái mới sinh. Đứa em gái của tôi được đem cho người khác nuôi. Còn lại 4 anh em trai tôi. Hai năm sau, cha tôi tái giá với một người đàn bà có một đứa con trai riêng. Ở ngoài, người ta nói là ngũ quỷ. Nhưng bên trong, chỉ có 4 anh em yôi phải chịu cảnh dì ghẻ con chồng từ năm tôi lên 11 tuổi. May mắn là anh em tôi đều thi đậu vào trường công lập nên không bị mất học. Cho nên khi đậu được Tú Tài tôi liền vội ly khai gia đình xin vào trường Võ Bị Quốc Gia với mộng ước học thêm lên đại học và tự lực cánh sinh. Từ đó, tôi trở thành một sĩ quan hiện dịch chuyên nghiệp của chế độ độc lập, dân chủ và tự do đầu tiên của Việt Nam. Tôi phải học tiếng Pháp từ thời tiểu học. Sau lên trung học mới học tiếng Anh. Ở Đà Lạt, tôi đã từng thấy Hoàng Đế Bảo Đại chạy ca nô trên hồ Đà Lạt vì ông Nội tôi đem gia đình từ Huế vào Đà Lạt lúc còn là Hoàng Triều Cương Thổ. Tôi sinh ra và lớn lên ngay ở Đà Lạt. Tôi đã trưởng thành dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Thế mà sau nay, chính đơn vị của tôi là Tiểu Đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến đã đảo chánh Tổng Thống Diệm vào trưa ngày 1 tháng 11 năm 1963.

Đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm 1-11-1963

Từ trước ngày 1/11/1963, các khóa Sĩ Quan Trừ Bị ở Thủ Đức, từ K6 đến k12 tốt nghiệp cùng lúc với chúng tôi, chưa có quy chế đương nhiên lên thiếu úy. Vài tháng sau khi chính thức được giao chỉ huy trung đội, tôi được Trung Úy Trần Văn Hoán bổ nhiệm kiêm đại đội phó. Tuy đã tỏ ra có bản lãnh chỉ huy nhưng do tuổi còn quá trẻ nên tôi vô tư và ham chơi. Thủy Quân Lục Chiến vốn là một lực lượng Tổng Trừ Bị của quân đội. Tiểu Đoàn Thủy Quân Lục Chiến được tự trị về hành chánh với quân số lên đến 879 tay súng với 4 đại đội tác chiến và đại đội Chỉ Huy & Hành Chánh. Do đó, nơi nào chiến trường sôi động, ngoài tầm tay của đơn vị địa phương, Tiểu Đoàn Thủy Quân Lục Chiến được điều động đến để giải quyết mặt trận. Vào đầu năm 1960, đơn vị chúng tôi lội suốt từ Cà Mâu qua Chương Thiện, Bến Tre, Vĩnh Long, Mỹ Tho, Đồng Tháp Mười lên rừng núi miền Đông, Pleiku, Kontum, xuống Bình định, An Khê, Đỗ xá…. Sau mổi cuộc hành quân kéo dài độ 1 tháng, chúng tôi được rút về hậu cứ để bổ xung, chỉnh trang trong vòng từ 1 đến 2 tuần lễ. Hậu cứ của Tiểu đoàn chúng tôi ở Vũng Tàu nên tha hồ rong chơi. Có khi, chúng tôi cũng được lệnh về nằm ứng chiến trong Trại Thị Nghè. Hễ ứng chiến thì bị cấm trại. Tuy nhiên, đến chiều tối, thấy tình hình không có gì, bọn tôi rủ nhau ra phố Sài Gòn. Sài Gòn là thủ đô hoa lệ nên thượng vàng hạ cám đều có đủ. Đi hành quân miết nên tiền bạc cũng rủng rĩnh. Lần nào ghé Sài Gòn tôi cũng mò vào mấy tiệm sách tìm mua sách báo mang theo trên đường hành quân. Ở hậu cứ tôi cũng có một ngăn tủ sách bừa bộn. Một lần, tôi ghé vào tiệm sách Khai Trí, trên đường Lê Lợi. Bước vào cửa tôi giật mình khi chợt nhận ra cô nàng Isabelle ĐTTM ngồi chểm chệ sau quày tính tiền. Vào những năm 56,57 ở Đà Lạt, trên đường cuốc bộ đến trường, tôi thường gặp một cô nàng gầy mong manh, có khi mặc áo dài, cởi xe đạp về hướng trường Lycee Yersin, trên con đường bờ hồ. Cũng đôi lần, tôi tinh nghịch vờ chăm chú đọc bài trong tập vở để bước thẳng vào đầu xe đạp khiến cô nàng la oai oái. Về sau, mấy đứa bạn học bên Lycée mới cho biết tên là Isabelle ĐTTM. Lần này, tôi chọn xong một mớ sách báo rồi mang đến quày trả tiền. Tôi nhìn thẳng vào mắt cô nàng hỏi:

“Có biết tôi là ai không”. Cô nàng tròn xoe hai mắt lung búng: “Dạ, dạ không”

“Tôi là người mấy lần suýt bị cô đụng xe đạp trên đường bờ hồ Đà Lạt đây”

“Thế à. Tôi không nhớ”.

“Thế thì tốt rồi. Bây giờ, tôi mới hành quân về. Túi không có tiền. Cô cho tôi nợ lần sau tôi trả”.

Cô nàng há hốc nhìn tôi lấm lét xanh da mặt ú ớ không nói được gì. Tôi bảo: Isabelle cho tôi cái túi. Náng ta líu ríu làm theo. Tôi túm hết sách báo bỏ vào rồi quay ngoắt bước ra cửa. Nhìn lại, tôi thấy náng ta đứng trố mắt nhín theo. Tôi bật cười quay lại móc túi lấy tiền trả và nói: “Đùa nghịch tí thôi”. Lúc ấy cô nàng đang làm tiếp viên Hàng Không Quốc Ngoại. Khi nào rỗi ra ngồi chơi ở nhà sách Khai Trí. Nào ngờ sau này nàng ta thành phu nhân của Tướng Nguyễn Cao Kỳ xa vời vợi. Có lần, ba đứa bạn cùng khóa Võ Bị ở cùng tiểu đoàn rủ nhau đi ăn trên Chợ Lớn. Nửa khuya, đón xe Taxi con cóc hiệu Renault về trại gặp chàng tài xế trẻ biểu diển chạy bằng hai bánh trên Đại Lộ Trần Hưng Đạo vắng xe. Chàng tăng tốc độ rồi lách mạnh tay lái cho chiếc xe nghiêng hẳn một bên và tiếp tục chạy cả vài trăm thước. Nào ngờ xe sảnh sát lưu thông bất chợt xuất hiện hú còi inh ỏi. Bọn tôi phải làm mặt ngầu mới cứu được anh tài xế trẻ.

Những ngày vui của chúng tôi tuy vậy rất ngắn ngủi. Miệt mài ở các mặt trận ngày đêm. Lúc ấy, bọn Việt Cộng còn đang tránh né để tái tổ chức nên cũng chỉ đánh nhau lẻ tẻ với bọn du kích trong xa xôi. Thiệt hại và tổn thất thường do bắn sẻ, mìn gài, hầm chông và bẫy sập. Đi hành quân miền Tây tuy phải lội sình lầy ướt quần áo suốt ngày nhưng khi dừng quân có thức ăn đầy đủ và không đánh lớn. Ra miền Trung mới thấy khổ. Tìm thức ăn không ra mà gặp VC là đánh lớn. Vào hạ tuần tháng 10 năm 1963, tiểu đoàn chúng tôi được về Hậu cứ Vũng Tàu sau những ngày lặn lội ở Bến Tre. Mới được một tuần xả hơi, bỗng có lệnh hành quân về miền Đông. Sáng sớm ngày hôm sau, đoàn xe vận tải từ Quân Đoàn 3 để xếp hàng dài trước cổng Trại. Thày trò chúng tôi lục tục lên xe. Gia đình binh sĩ, như thường lệ, chạy ra đứng đầy hai bên đường. Thấy mà lòng thương xót. Kiểm điểm xong quân số là đoàn xe lăn bánh. Quân số tham chiến buộc phải trên 70%. Chuyến đi nào cũng thấy gay go nhưng cũng mặc; Thủy Quân Lục Chiến mà. Đến xế chiều, đoàn xe dừng lại ở một khu vườn cao su bát ngát ở Lai Khê. Lệnh cho xuống đóng quân qua đêm. Dàn quân và bố trí xong là lo đào hầm hố cá nhân phòng thủ. Trọn một ngày sau cũng yên tĩnh. Tôi nằm đong đưa trên chiếc võng nhà binh đọc sách. Nghe nói tiểu đoàn trưởng đang họp với các đại đội trưởng. Ráng sáng ngày 1 tháng 11 năm 1963, lệnh cho thu xếp lên xe về Sài Gòn chống đảo chánh. Nghe nói về Sài Gòn lính tráng cười nói hể hả. Tôi in trí như thế. Quân đội chỉ làm theo lệnh thôi. Không thắc mắc. Đoàn xe vế đến Xa lộ Biên Hòa vào trạm kiểm soát Cầu Xa lộ đã có ngay Quân cảnh dẫn đường. Thế là đúng rồi. Chắc có đám nào muốn đảo chánh theo chân Tướng Nguyễn Chánh Thi đây. Chống đảo chánh lại là phe ta đánh phe ta mới khó xử. Đoàn xe chạy một lèo đến Ngả Bảy Chợ Lớn rồi quẹo đường Cộng Hòa. Đoàn xe bỗng dừng lại ngay trước Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia. Chưa biết chuyện gì đã thấy từ ngoài vào trong cảnh sát bỏ chạy không còn một mống.

Đám lính ào ào nhảy xuống xe chạy vào Tổng Nha Cảnh Sát trước những cặp mắt ngơ ngác của dân chúng ngoài phố. Tôi nhảy xuống xe, sốc lại dây ba chạc mang khẩu Colt 45 rồi bất đắc dỉ đi vào cổng Trại. Vừa ngang sân cờ, Binh Nhất Sơn, đệ tử của tôi hớn hở chạy ra miệng nói lép xép: “Thiếu úy ơi, em mới lấy được khẩu ru lô trong phòng ông Đại Tá Y nè. Còn nguyên si hết à”.

“Đâu dắt tao vô coi”.

Doanh trại không còn một bóng người. Văn phòng của Đại Tá Tổng Giám Đốc Nguyễn Văn Y còn nguyên vẹn với bảng tên trên bàn giấy. Tôi quay qua đám lính la lớn: “Không được lấy đồ của người ta. Ra tập họp hết bên ngoài”. Quay tìm ông hạ sĩ quan trung đội phó “Trung Sĩ Nhất Lý Pit đâu, tập họp lại, chia các vọng gác ngoài cổng chính ngay”. Tôi mườmg tượng chuyện gì không ổn đang xảy ra. Đại đội trưởng chỉ vắn tắt: Mình chiếm giữ Tổng Nha Cảnh sát. Tôi nghĩ không lẽ mình làm đão chánh. Ngay sau đó, chúng tôi được lệnh tiến quân theo dọc hai bên đường Cống Quỳnh tiến ra bùng binh bến xe buýt để nhận lệnh. Lính Thủy Quân Lục Chiến với ba lô và súng cầm tay đi hai hàng dọc trong kỹ luật. Khi vừa tới bến xe buýt, tôi vượt lên chợt nhìn ra Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu trong bộ kaki vàng với nón hét mang cành lá liễu cấp tá, đứng bên cạnh chiếc xe Jeep nói chuyện với Đại Úy Lê Hằng Minh là tiểu đoàn trưởng của tôi. Vừa lúc tôi nghe thoáng là Thủy Quân Lục Chiến phải chờ thiết giáp của Đại Úy Lý Tòng Bá đến mới đánh vào Dinh Gia Long. Lúc ấy vào khoảng 1 giờ trưa ngày 1 tháng 11 năm 1963. Tôi chợt nghĩ ra là mình đang tham gia đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Cũng vào tháng 11 năm 1960, trong trường Võ Bị, tôi đang làm sinh viên sĩ quan Trực Liên Đoàn. Lúc ấy, Đại Tá Nguyễn Chánh Thi, tư lệnh Nhảy Dù, làm đảo chánh. Trường ra lệnh cấm trại ứng chiến. Tôi gặp ông Thi khi còn là trung úy, năm 1953, trong Liên Đoàn Ngự Lâm Quân của Bảo Đại trên thành phố Đà Lạt. Sau đó, nhờ kéo quân về ủng hộ Tổng Thống Điệm đã được thăng nhanh lên tới đại tá và được giao làm tư lệnh một lực lượng thiện chiến tín cẩn là Nhảy Dù. Qua một đêm nằm khèo nghe Đài Phát Thanh Sài Gòn tôi cũng không hiểu ất giáp như thế nào. Sáng hôm sau, nhằm ngày thứ Hai, tôi được lệnh điều khiển lễ Chào Cờ của Liên Đoàn SVSQ. Tự nhiên, tôi tuyên bố hôm nay chào cờ không hát bài Suy Tôn Ngô Tổng Thống. Và liên đoàn chỉ hát Quốc Ca rồi tan hàng. Gần đến trưa hôm ấy, một chiếc xe jeep An Ninh Quân Đội vào Trại rước tôi ra trình diện Trưởng Ty. Đến nơi, nào ngờ tôi gặp Đại Úy Hợi là người quen trong gia đình. Ông làm mặt giận đập bàn la lớn: “Ai cho lệnh mi không hát bài Suy Tôn Ngô Tổng Thống” “Dạ không có ai hết. Tại nghe radio thấy đảo chánh nên đã không cho hát thôi”. “Răng mi ngu rứa. Mi có muốn ra trung sĩ không?” Ông còn la lối nhiều nữa nhưng rồi cuối cùng ông điểm mặt nói ”Mi liệu hồn đó. Thôi về đi”. Tôi mừng hết lớn đi vội ra xe về Trường. Bây giờ tôi làm đảo chánh. Lỡ thua chắc không biết có phải chạy sang Miên không.

Ngay khi xe thiết giáp chưa tới chúng tôi được lệnh tiến về phía đường Công Lý và Lê Thánh Tôn để đánh vào dinh Gia Long. Trung Úy Trần Văn Hoán, đại đội trưởng cho lệnh khẩu súng không giật 57 ly tiến lên. Phát 57 ly phá tung một lổ hỏng ngay góc Công Lý- Lê Thánh Tôn. Lính TQLC chạy ào qua đường vượt vào tường cao. Bên trong có vài phát đạn bắn ra lẻ tẻ nhưng TQLC không bắn trả. Chỉ trong chưa đầy nửa giờ, Tiểu Đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến đã hoàn toàn chế ngự Dinh Gia Long. Khi tiến vào phía sau sân dinh tôi thấy lính đang lùa một số quân nhân trong Liên Binh Phòng Vệ Phủ Thống ra ngoài. Tôi chợt nhận ra ông thầy cũ trong Trường Võ Bị là Thiếu Tá Huỳnh Văn Lạc. Sau này ông lên tướng làm tư lệnh Sư Đoàn 9 Bộ Binh. Tôi vội chạy tới đưa tay chào ông và nói lớn cho đám lính Thủy Quân Lục Chiến nghe: Thưa Thiếu Tá, tôi là cựu SVSQ khóa 16 đây”. Ông giơ tay lên lưng chùng rồi buông thõng xuống với vẻ mặt buồn bả. Tôi không biết làm sao hơn chỉ bảo lính dưới quyền kiếm một chiếc ghế trong nhà ra mời ông ngồi. Ngay sau đó người ta đưa ông đi đâu tôi không biết nhưng lòng tôi thật vô cùng xao xuyến như mình vừa phạm một tội lỗi gì đó. Tôi đi theo trông chừng đám lính đang đi xục xạo. Xuống tầng hầm tôi thấy phòng của Ngô Đình Lệ Thủy đã bị xáo tung lên hết. Có một người lính ôm một giàn máy quay đỉa chạy ngang, tôi nổi điên rút súng la lớn: “Bỏ xuống ngay không tao bắn”. Chàng ta vội bỏ xuống chạy lên tầng trên. Hình như họ đã lục lọi đến phòng của bà Nhu. Đảo một vòng thấy không còn người lính nào tôi quay trở lên. Ngay đêm hôm ấy, Tiểu Đoàn2 Thủy Quân Lục Chiến đã ra Dinh Gia Long bàn giao vị trí. Chúng tôi được chở về Trại Thị Nghè. Ngày hôm sau, nghe nói có phái đoàn Phật Giáo xin vào để ủy lạo cho tiểu đoàn đã có công lật đổ Tổng Thống Diệm nhưng thiếu tá mới thăng cấp Lê Hằng Minh từ chối. Lòng tôi trăm mối ngỗn ngang. Lần đầu tiên, tôi nằm lặng trên võng suy nghĩ về thế sự. Từ đó, tôi không còn vô tư nữa cho đến ngày phải buông súng tức tưởi. Sau đó, chỉ còn bọn cầm súng chiến đấu ngoài mặt trận phải trải máu và xương để chống lại bọn Cộng Sản.

(Còn tiếp)

Share this post