Nước Độc – Sơn Khanh

Nước Độc – Sơn Khanh

-1- Tôi quay đầu hướng về quê mẹ và thành tâm cầu nguyện cho thế hệ thanh niên Việt Nam mới … Sơn Khanh Nguyễn Tử Việt

Bức thư thay lời tựa Anh S.(2)

Quyển truyện dài Nước Độc này là một quyển tiểu thuyết xã hội còn sót lại của thời kỳ 1949 vì không được may mắn chào đời. Năm 1949 đã xin phép xuất bản, nhưng không được. lý do quyển truyện mô tảđời sống của một dân phu cao su từ Bắc vào Nam là một cáo trạng chống Thực Dân lúc bấy giờ.

Vì vậy năm 1956, đã xin phép xuất bản lại và biết ỏ tựa cũ“Ngục Tội Giữa Rừng Sâu” và lấy tựa mới “Nước Độc Rừng Thiêng” để cho nó nhẹ nhàng hơn. Nhưng bị kiểm duyệt và cũng không xuất bản được – Lý do: Làm cho người ta hiểu lầm là ám chỉ cuộc di cư vĩ đại của nhân dân miền Bắc 1954, mặc dầu truyện này đã viết từ 1949 và đáng lẽ được in xong vào cuối năm ấy.

Có lẽ trong những tác phẩm của những ngày đó còn đọng lại chưa được chào đời là quyển này và truyện dài xã hội của Thiên Giang là “Bứt Xiềng”, nhưng không biết lúc đó Thiên Giang đã viết xong chưa. Riêng quyển này tôi cho lại tựa khác nữa là “Nước Độc” cho gọn gàn, nhưng không biết là có nên xuất bản lúc này hay không? Có nên tiếc rẽ một đứa con tinh thần ấp ủ từ bao nhiêu năm tháng (thực ra thì đã 21 năm rồi !)

Bây giờ, nói như Nguyễn Bính : …“Bây giờ biết nói thế nào? Bướm tiên khi đã lạc vào rừng hoang” Gởi anh xem tí chơi, có làm được gì hữu ích thì làm giùm tôi, tôi rất mang ơn. Còn tôi thì hiện giờ đã quá nhiều bận rộn, lắm lúc không còn thì giờ để sống riêng cho mình vì suy tư quá nhiều, mặc dầu bề ngoài vẫn nhẹ nhàng thư thái …

Thân chào

Sơn Khanh

(1) Sau nhiều lần nghe tôi thuyết phục rằng tác phẩm cần phải được in ấn, dầu nó phải ra đời không đúng lúc, nhà văn Sơn Khanh đã cho in truyện dài Nước Độc nầy năm 1970, ở nhà xuất bản Nam Cường, đường Nguyễn Thái Học, Sài Gòn. Tôi được ông nhã ý mời viết lời tựa nhưng chỉ xin được viết ít dòng ở lời bạt. Cho tới bây giờ tôi vẫn cho đó là một hân hạnh. (NVS, 2005)

(2) Tức là GS Nguyễn Văn Sâm/Viện Đại Học Sài Gòn-2-

Phần thứ nhất I.

CHIM MỒI Nghe tiếng trẻ khóc óc bên tai một hồi, Nguyễn thấy khó chụi- Chàng tung chăn dậy, cuốn manh chiếu rách vất vào một góc, bên cạnh mấy bọc hành lý bẩn thỉu của chàng

Nguyễn đứng lên, vươn vai ngáp dài, Chàng lấy tay dụi mắt như rửa mặt nguội, rồi loạng choạng bước ra khỏi đám người rách rưới, dơ dáy, nằm la liệt trên “boong” tàu mà Nguyễn là người trong bọn. Nguyễn không muốn quay lại nhìn những cái xác xanh mét, những gương mặt hốc hác của đám người thiếu ăn thiếu gì ngủ, lại bị say sóng nằm nghênh ngang hoi hóp thở bên cạnh những đống cháo mữa lầy lụa khắp boong tàu.

Lo Nguyễn lảo đảo ra đến cầu thang, nhìn quanh quất như sợlàm một việc trái phép. Thấy không ai để ý đến chàng, Nguyễn ngồi xuống một trụ sắt, núp sau những chồng trái nổi để tránh gió. Nguyễn bấm đốt tay lẩm bẩm : “Đã đến tháng Tám năm 1941 rồi. Thế là mình đã đúng hai mươi bốn tuổi đầu mà mình chưa làm gì nên thân cả …” Ý nghĩ ấy làm cho Nguyễn thêm chán nản. Chiếc tàu Thuỷ “Louis Blanchet” hôm ấy bị sóng đập quá mạnh nghiêng qua, nghiêng lại, chúi xuống, chồm lên hăn tiết như một con ngựa đang chứng thối hậu.

Những tấm bố căng thẳng để che mưa nắng, bị gió giũ bành bạch trong khi con tàu cứ bình tỉnh, một giọng đều đều xình xịch nhả những cuộn khói đen dài. Trời thâm thấp màu chì. Nước sậm màu dầu hắc.

Ngoài tiếng thở hổn hển của biển cả, tiếng run của những lan can tàu, tiếng trở mình của những dây lòi tói sắt hai bên be, Nguyễn không nghe gì hơn tiếng rú điên cuồng của những cơn gió loạn. Trong lòng Nguyễn hôm nay cũng nổi dậy một cơn gió dữ vì Nguyễn bắt đầu ngờ vực ở chuyến đi nầy- Chàng nhìn trời nước mênh mông mà thở dài. Hồi sớm mai, một sự lôi thôi xảy ra trước mắt Nguyễn làm cho chàng băn khoăn suy nghĩ mãi: “Hay là chúng ta bị mắc lừa?!” Chính mắt chàng thấy một anh “cặp rằn” đá vào mạn sườn một chị đàn bà chửa, sau khi “âu yếm” tặng cho mấy cái tát tai, vì chị nầy cả gan dám đòi trở về nguyên quán, không chịu đi nữa. Anh chồng chị nóng ruột, chen vào phân trần cũng bị luôn mấy đấm vào mặt đến bể môi chảy máu và gẩy mất một cái răng cửa. Người cặp rằn vênh váo trong bộ đồ soọc màu xanh cức ngực, sau khi thi hành xong thủ đoạn, quay lại phân bua với mọi người: -3- – Cái con mẹ nầy ngu hơn bò! Được đi vào Nam là phúc lớn, nó lại còn lắm chuyện muốn trở xó làng để sống cực khổ như con chó nhà hoang … Hãng đã biếu mỗi người mười đồng bạc hiện, một chiếc chănấm, một bộ quần áo mới, một đôi giày cao su, một bánh xà phòng, năm bao thuốc lá, ôi thì đủ thứ cả. Hãng lại không quên cho thêm một hộp sửa để uống cho nó béo người ra. Chứ ốm yếu như thế này, rách tươm thế này, cứ đem cho chó, chó nó cũng không thèm chứ đừng nói là người ta. Vào Nam thóc lúa nhiều, thịt cá rẻ, công việc làm dễ dàng nhàn hạ, ăn nó béo cái trôn lên. Thế mà cái con khỉ già mắc gió nó tru tréo lên như ai đem đi cắt cổ mổ ruột. Tiên sư nhà nó! Ông phát cáu lên ông đập cho một trận nữa bỏ mẹ đãy! Rồi như vẫn chưa vừa lòng, anh ta trợn trạo đôi mắt lé và múa tay tiếp tục công trình nhồi sọ : – Ông đếch cần chúng mày! Hãng đếch cần chúng mày! Trong Nam khối người làm đãy chứ! Cần gì ông phải về đây giảng giải hằng ngày với chúng mày rằng ở trong ấy có nhà cửa ở tử tế, có cơm gạo ăn no bụng đâu. Chẳng qua là ông thấy chúng bây cạp đất mà ăn, đầu tắt mặt tối quanh năm mà không có củ khoai, củ sắn đỡ lòng nên ông thương. Ông mách hộ cho mà làm phúc. Chứ cái giống quần manh áo mún của chúng bây ông quơđằng nào không có mà phải dùng cái giọng cầu cao chó má đòi đi về ấy! Nguyễn thấy tận mắt cảnh tượng ấy nghe tận tai những lời độc đîa ấy, Nguyễn nóng bừng cả mặt như người say rượu. Chàng giận run lên, tưởng chừng như có thể xô ngã một trái núi to. Biết tánh Nguyễn dễ sôi máu, Lý, bạn Nguyễn, vội vã kéo chàng lãng xa nơi khác sợ Nguyễn bất bình can thiệp. Khi đến mũi tàu, Lý mới phàn nàn :

– Chuyện họ thì mặc xác họ chứ! Họ hay rắc rối thì phải chịu đòn, can chi đến anh? Không khéo thì ách giữa đàng mà mang vào cổ đấy!

Nguyễn hằn học, đỏ mặt tía tai, vừa bước đi, vừa cằn nhằn Lý :

– Rõ là bọn ích kỷ! Mặc xác họ! Mặc xác họ! Anh nói mới hay, nay là họ, mai lại tới mình. Bọn cặp rằn đã ăn nói quen như thế rồi. Không dừng nó lại, nó sẽ làm tới. Đằng nào có ngày cũng đến lượt mình, rồi mình cũng phải mang hoạ. Thế cứ cho nó mang hoạ ngay một lần đi có hơn không?

Lý mềm mại hơn, lắc đầu bất mãn:

– Mãi đến giờ, anh vẫn chưa bỏ tánh nóng nguy hại của anh. Đời có muôn sự bực tức, muôn cái bất bình trước mắt. Nếu anh cứ giận dổi mãi, anh sẽ không sống lâu được đâu.

Nguyễn hậm hực ngắt lời :

– Thế còn hơn. Sống lâu kéo dài đời nô lệ, nghe chúng chưởi vào đầu, chịu chúng đấm vào mặt, cũng không sướng ích gì.

Mỗi lần có chuyện lôi thôi, Nguyễn và Lý hay cải nhau như thế. Và lần nào cuối cùng Lý cũng nhận là Nguyễn nói phải nhưng vẫn trách Nguyễn liều lỉnh và khuyên can bằng những lời nhỏ-4- nhẹ, nhưng lần nào Nguyễn cũng cam tức nuốn trút cả nư giận vào đầu Lý bằng những quả đấm tréo hàm. Thế rồi Nguyễn và Lý giận nhau suốt ngày hôm ấy, Nguyễn tránh Lý như một người quân tử không muốn hạ một địch thủ yếu hèn nếu phải gặp hắn giữa đường. Đến bữa cơm, Nguyễn nhai quấy quá non một chén cho đở đói, rồi buông đủa, kéo trùm từ đầu tới chân, không nói năng với ai lấy nửa lời. Chàng không ngủ chỉ nằm im lìm để nghiền ngẩm nổi bực tức của mình, để lắng nghe coi mục ung thư trong lòng mình đã nhấm gậm thân thể chàng đến đâu rồi. Vợ chàng lại phải một phen rối rít lo lắng. Chị tưởng chừng anh Nguyễn bị bịnh cảm gió, nài nỉ chàng vén áo cho chị đánh gió, thao dầu, và uống một bát nước nóng cho toát mồ hôi. Trong lúc ấy, Lý thường ngồi co ro như người phạm tội. Có khi Lý phân trần với mẹ Nguyễn :

– Cụ bảo với chị cả anh ấy không sao đâu mà chị phải cuống quýt lên như thế. Cứ phải có cái tật hể có chuyện gì xốn mắt là anh ấy run lên và hầm hực như lên cơn sốt. Khi chuyện đã nguội đi thì cơn sốt lại xuống chứ gì?

Rồi Lý lại phàn nàn một mình:

– Khổ quá! Con người gì mà dễ bị kích thích quá! Chuyện của người mà cứ ngỡ là chuyện của chính mình. Thế rồi cũng có ngày mang hoạ vào dễ như trở bàn tay.

Bà cụ, mẹ Nguyễn, vồ ngay lấy dịp tốt, tụng cho Nguyễn một pho kinh nhẫn nại :

– Ấy! Con, người ta phải nhập gia tuỳ khúc, nhập gia tuỳ tục. Phải biết ăn theo thởở theo thì, nắng bề nào che bề nấy. Cứtưởng mãi mình là con ông Tiên chỉ cháu ông Chánh tổng mà mất mạng không hay. Bố mày mất vì rầu buồn mấy mùa chiêm thất, phải cầm vườn bán ruộng. Còn mày thì phải xếp sách vở về quê, học hành không đổ đạt đến đâu, nên chả ông nọ thầy kia với hàng xóm láng giềng. Lẽ ra, mày cũng biết lo thân, có nai lưng ra làm ăn để xây dựng lại sự nghiệp của tổ đường. Phải nhẫn nại cần cù lắm chưa chắc đã bạch thủ thành gia được. Thế mà mỗi ly một tí thì mày lại lầm lầm, lì lì rồi nghĩ đến việc bạo hành để mà tù mọt gông ra và vợ con mày chỉ thêm đói khổ. Ngày xưa thì vàng thoi bạc nén, quần lụa áo là. Ngày nay nghèo vắt xác ra không có một trinh con đến đổi phải bỏ xóm bỏ làng, nghe theo lời Cai Rợ ký giao kèo vào Nam lập nghiệp. Thế mà mầy còn cho là đủư? Mầy lại còn muốn chôn thân vào chốn lao tù ngục tối nữa thì rõ là vận nhà đã gặp cơn bỉ, không còn gì vô phúc hơn nữa …

Nhưng ai nói thì mặc ai – Nguyễn vẫn co rút trong manh chiếu để nghe sự phẩn nộ của lòng mình. Chàng tưởng chừng như thân chàng là một cái xác chết lâu ngày, tha hồ cho kiến bu, vòi đục.

– Vào Nam! Hừ vào Nam!

Nguyễn lẫm bẫm.

Nguyễn bức đầu tại sao mình nhẹ dạ dễ tin người quá thế! Người ta bảo quân đội Nhật khắp khai chiến với quân đội Anh Mỹ và nay mai, bao nhiêu thóc lúa sẽ đem cả vào kho cho quân lính Nhật ăn – Nhân dân sớm muộn sẽ chết đói – Nhưng đó chỉ là tin đồn như bao nhiêu tin đồn khác. Nguyễn không biết tại sao mình đã cầm viết ký tên một cách dễ dàng vào tờ giao kèo 5 năm làm công nhân cho một hãng miền Nam mà cũng không biết rõ là hãng gì?

Phải chăng cũng tại mấy mùa đói, rét, cơm không đủ no, áo không đủ ấm! Và “Đùng” một cái. Cai Rợ đi biệt tích ở đâu lâu năm lắm lại đâm đầu về, ăn mặc sang, tiền bạc nhiều. Hắn bảo trong Nam có lắm công ăn việc làm dễ dàng, mà lại chóng phát tài lắm – Những hãng buôn ngoại quốc tấp nập hãng nào cũng thiếu nhân công và trả lương cho nhân công một cách xứng đáng đặc biệt. Tay Cay Rợ mang rất nhiều cà rá vàng, lại có cả một chiếc đồng hồ vàng với một sợi dây cũng bằng vàng. Hắn nói chuyện với ai, gì không gì, chứ hắn cứ há mồm cười hì hì để lộ ra một bộ răng vàng trông thật sang(!) Cai Rợ lại sẳn một bốp bạc để phân phát cho trẻ em trong làng gọi là món quà nhỏ mọn của người đi xa xứ lâu ngày trở về. Bạc hắn đâu mà nhiều quá, cứ tung ra hết xấp này đến xấp khác. Có lẽ hắn đã là triệu phú. Người ta nghĩ như vậy nên ca tụng hắn, tôn sùng hắn không tiếc lời. Có kẽ đồn Cai Rợ một mình đã tậu được hơn ba mươi mẩu ruộng gần Hải Dương và hắn đã cất xong một chiếc nhà lầu lộng ở ngoại ô Sài Gòn. Điều người ta bàn tán nhiều hơn hết là hắn làm việc cho một hãng trồng tỉa rất to ởĐà lạt-hắn làm lâu năm chủ lại tử tế, lương bổng hậu, nên hắn phát tài to. Hắn lại còn có thế lực mạnh, hắn có thể tiến dẫn bất cứ một người nào chủ hãng cũng thâu dùng. Hắn không đòi tiền hắn tiến dẫn, mà hắn lại còn bảo rằng hãng sẽ tặng cho họ tiền thưởng nữa. Hắn lại bảo hãng sẽ chịu tất cả sở phí tàu bè, họ khỏi lo gì đến sở phí cả Người ta phân vân. Nhiều người họp nhau bàn tính có nên theo Cai Rợ hay không vì người ta còn nghi ngờ ở những lời truyền khẩu hoang mang khắp cả vùng. Một hôm, từ Hà Nội, hắn đi ô tô nhà với một lão Tây, mặt mày gân guốc, về đến cổng làng. Người ta đổ xô nhau ra xem, thấy hắn vừa mở cửa xe cho ông Tây xuống, vừa nói chuyện ồn ào bằng tiếng Pháp với ông Tây ra vẽ thông thạo lắm, thì ai cũng lấy làm kinh cả. Cai Rợ lại biết cả tếng Pháp nữa cơ! Thật là thân mật giữa hai người, không có lộ vẽ vì gọi là phân ngôi chủ tớ cả. Cai Rợ tươi cười như hoa nở và giới thiệu với mọi người:

– Đây ông chủ phó, chi nhánh Hà Nội của hãng tôi đây! Ông tử tế nhất đời, thương người nhất đời. Ông nghe nói tôi ở làng nầy. Ông cứ nhắc nhở luôn, đòi lấy ô tô nhà đưa tôi về thăm bà con họ hàng. Tôi sợ phiền, nhưng từ chối cách mấy ông cũng không nghe. Ông nhất định đưa tôi về làng, lại không quên mua thật nhiều quà bánh cho trẻ em trong làng. Vậy bà con cứ đến đình làng ông sẽ phân phát cho. Đừng nhút nhát lo ngại gì cả. Ông Tây này là bạn của tất cả người nghèo khổ, không phân biệt màu da đâu. Bà con cứ tin nơi tôi và hãy mạnh dạn hò reo đi đến đình làng!

Rồi đắc ý, Cai Rợ cười híp mắt tía tai.

Share this post