Phạm Cao Dương, Một Sử Gia Xứng Danh – Kiêm Ái

Người học sử, người đọc sử và cả những người đang làm lịch sử, tất cả đều cần những tác phẩm lịch sử đúng đắn, ghi chép lịch sử một cách khách quan, đúng sự thật, phân biệt thế nào là SỰ KIỆN và thế nào là Ý KIẾN. Nếu đã tự cho mình là “người viết sử”, cho tác phẩm của mình là “sách lịch sử” thì không thể dùng nó để “lái lịch sử” theo ý của mình hay vì nhu cầu của một cá nhân hay một đoàn thể nào. Có như vậy, tác phẩm lịch sử của mình mới mang lại cho người đọc những bài học lịch sử xứng đáng để đọc, để học và để … làm lịch sử.

Sau tác phẩm “Việt Nam Sử Lược” (2 cuốn) của sử gia Trần Trọng Kim đã “sống mãi với dân tộc”, đã giúp cho mọi người, mọi giới hiểu rõ sự thật của lịch sử Việt Nam, tuy sơ lược nhưng những gì chứa đựng trong đó đều là sự thật, thì tác phẩm “Trước khi bão lụt tràn tới BẢO ĐẠI – TRẦN TRỌNG KIM và ĐẾ QUỐC VIỆT NAM” của ông Phạm Cao Dương quả thực là một cuốn SÁCH LỊCH SỬ và ông Phạm Cao Dương là một nhà sử học xứng danh.

Sử gia Phạm Cao Dương đã giới hạn “lịch sử” từ “9/3/1945 – 30/8/1945” và đúng như lời ông nói: đây là một “khoảng trống lịch sử”, một khúc quanh lịch sử có thể đưa đất nước Việt Nam tới độc lập, dân chủ, hòa bình và thịnh vượng. Nhưng, đọc hết cuốn lịch sử hơn 800 trang của sử gia Phạm Cao Dương, chúng ta mới thấy tại sao Việt Nam đã không có cơ hội đó, đã không nắm bắt được cơ hội “ngàn năm một thuở” này, ai công, ai tội, ai đã làm mất cơ hội của lịch sử. Và ai đã lèo lái lịch sử Việt Nam chìm đắm trong máu lửa tang thương; cho đến hôm nay là họa diệt vong.

Với một giọng văn bình tỉnh, khách quan, nói đâu dẫn chứng tới đó, ông Phạm Cao Dương đã làm “sống lại lịch sử”. Sử gia Phạm Cao Dương đã soi rọi sự thật vào các biến cố lịch sử đã bị các thế lực bá đạo hay vô đạo chôn vùi, che dấu:

Việt Minh, tiền thân của Việt Cộng “cướp chính quyền”.

Từ trước tới giờ đại đa số người Việt Nam đều nghĩ rằng Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Việt Minh là bản tuyên ngôn duy nhứt, hoặc trước nhứt, và Hoàng Đế Bảo Đại là một ông “vua bù nhìn”, vua ăn chơi, và 3 chữ “Dân Vi Quý” chỉ là câu nói vay mượn của người Tàu “Dân Vi Quý, Xã tắc thứ chi, Quân vi khinh”, ai có ngờ vua Bảo Đại dùng 3 chữ đó làm nền tảng cho sự bải bỏ nền quân chủ và thiết lập một nền dân chủ pháp trị. Sử gia Phạm Cao Dương đã chứng minh ngược lại định kiến nêu trên bằng tài liệu dẫn chứng sau đó là bằng lý luận vững chắc. Qua những ngày tháng ra đời, cũng như nội dung, ý nghĩa và dụng ý của Hồ Chí Minh và của vua Bảo Đại với 2 bản tuyên ngôn, một của vua Bảo Đại và một của Hồ Chí Minh đã chứng minh ai là người vì dân vì nước, ai là người độc tài, lường gạt dân chúng v.v…

– “Bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoàng Đế Bảo Đại được công bố ngày 11 tháng 3, hai ngày sau khi Nhựt đảo chính Pháp ở Đông Dương và và sau một thời gian dài hơn 4 năm, từ cuối tháng 9 năm 1940, sau khi quân Nhựt vào đất này của Đông Nam Á, gần 5 tháng trước khi Nhựt Bản đầu hàng và thế chiến thứ 2 kết thúc. (trang 534) Và được Bảo Đại ký tên với 6 thượng thư. Sáu vị thượng thư gồm có Phạm Quỳnh, Bộ Lại, Hồ Đắc Khải, bộ Hộ, Ưng Úy, bộ Lễ, Bùi Bằng Đoàn, bộ Hình, Trần Thanh Đạt, bộ Học, và Trương Như Định, bộ Công. Theo Bảo Đại đây là lần đầu tiên trong lịch sử một văn kiện được ký bởi nhà vua và tất cả các nhân vật quan trọng nhất trong triều đình” (Trang 538)

Trong khi đó

– “Bản Tuyên Ngôn của Chủ Tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh. Bản tuyên ngôn này được Hồ Chí Minh soạn thảo, một mình đứng tên và đọc tại Quảng Trường Ba Đình ở Hà Nội vào buổi chiều ngày 2 tháng Chín năm 1945, ngót 5 tháng sau Bản Tuyên Ngôn của Bảo Đại, hơn 2 tuần lễ sau khi Nhựt Bản đầu hàng, 13 ngày sau khi Việt Minh cướp được chính quyền ở Hà Nội và 2 ngày sau khi Bảo Đại chính thức thoái vi” (Trang 545)

Trình bày một vài chi tiết quan trọng và thiết yếu trong 2 bản Tuyên Ngôn, nhứt là về ngày tháng để chứng minh sự thật vua Bảo Đại đã lấy được độc lập từ tay người Nhựt sau khi họ lật đổ Pháp, vua Bảo Đại cũng đã hủy bỏ Hiệp Ước Pháp Việt 1884 và các văn kiện khác đã ký với Pháp. Đây đúng là một bản tuyên ngôn “bình thường” như những tuyên ngôn mà chúng ta được biết. Ngắn gọn, nhưng đầy đủ, và đúng là nền tảng cho một thể chế dân chủ tương lai của Đất Nước qua 3 chữ “Dân Vi Quý” và đây cũng là nền tảng cho các chính phủ Quốc Gia kế tiếp.

Trong khi đó, Bản Tuyên Bố của Hồ Chí Minh tuy dài dòng nhưng chỉ là một tờ tuyên truyền, vọng ngoại và mâu thuẩn, nhứt là nhu nhược với những đoạn: “Trước ngày 9 tháng 3 biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh đẻ chống Nhựt. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa.

Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật, và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.” (Trang 559, lần tái bản lần đầu)

Và “Khi Nhật đầu hàng Đồng Minh thì nhân dân cả nước ta nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa”. (cùng trang đã dẫn). Giành chính quyền với ai? Thực là mâu thuẩn, thật là gian dối. Nhờ sự soi rọi lịch sử với những tài liệu dẫn chứng của sử gia Phạm Cao Dương mà chúng ta biết được “khoảng trống lịch sử” này. Và Hồ Chí Minh là cán bộ Cộng Sản Đệ Tam Quóc Tế chứ không phải là người Việt Nam phục vụ cho đất nước Việt Nam. (Xin xem lời thú nhận sai lầm của Hồ Tá Khanh (Trang 271).

Cướp chính quyền: Theo dẫn chứng của sử gia Phạm Cao Dương trong đề mục: “19 tháng 8, 1945: Cách Mạng hay Việt Minh Cướp Chính Quyền?” ngôn từ “Cướp Chính Quyền” đã được các cán bộ VC cao cấp như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp dùng (Trang 295). “Cướp” tức là dùng vũ lực để đoạt một vật gì của người khác đang là sở hữu chủ. “Chúng tôi sẽ cướp chính quyền để cho các nước đồng minh biết chúng tôi mạnh chứ không chịu cho ai nhường”. Nhường hay cướp thì cũng phải có người sở hữu vật đó, “vật đó” ở đây là chính quyền. Vậy VM cướp chính quyền từ tay ai? Và cướp chính quyền với mục đích gì – cho đồng minh biết chúng tôi mạnh, cướp với giá nào – giá 90% xương máu của dân chúng như câu nói: “Dù trong nước mười phần chết chín, chúng tôi sẽ lập một xã hội mới với một thành phần còn lại còn hơn với chín phần kia” (Trang 293). Mao Trạch Đông cũng đã nói dù cho vài trăm triệu dân Tàu có chết cũng không quan trọng (sic). Điều này chứng tỏ Cọng Sản không phải vì dân mà tranh đấu. Trong khi đó, dụ số 1 của vua Bảo Đai đã dứt khoát: 1) Chế độ chính trị từ nay căn cứ vào khẩu hiệu “Dân Vi Quý”. (Trang 75). Chẳng những thế, trong “Lời Tuyên Cáo Quốc Dân của cựu Hoàng Bảo Đại ngày 14-6-49 tại Thị Sảnh Saigon, Bảo Đại cũng nhắc đến “Chính thể Việt Nam sau này sẽ do Quốc Dân đinh đoạt” (Trang 731).

Từ trước tới nay, đại đa số người VN mỗi khi nhắc đến “Thủ Tướng Trần Trọng Kim” cũng chỉ biết sơ qua và vì thời gian chấp chánh quá ngắn ngủi. Hơn nữa, Việt Minh luôn quấy rối và đã có tay trong quan trọng như Bác Sĩ Trần Đình Nam và Hồ Tá Khanh đã giúp Việt Minh đắc lực. Bốn mươi năm sau, trong bài viết về Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Tá Khanh đã bày tỏ sự hối hận cùng cực của ông ta nguyên văn: “Tôi lầm rằng Hồ Chí Minh vẫn là Nguyễn Ái Quốc, chắc cũng nghĩ như tôi: Mục đích là giải phóng đất nước, thuyết mác xít chỉ là phương tiện. Vì e ngại quân Pháp sẽ trở lại… tôi chuẩn bị lần lần cho cuộc nắm chính quyền cho Hồ Chí Minh và ông ta sẽ tiêu biểu cho tinh thần quốc gia.

Than ôi! Ảo vọng! Tôi đã lầm một cách đau đớn… Tôi đã có một phần trách nhiệm vì nhận định sai lầm về bọn môn đệ của Xít Ta Lin và về Hồ Chí Minh. Tôi xin thú nhận. (Paris, tháng Hai, 1985, Hồ Tá Khanh) (Trang 271 sách tái bản lần thứ nhứt).

Trong khi đó, sau ngày ra mắt, chính phủ Trần Trọng Kim đã tuần tự thu hồi chính quyền từ tay người Nhựt một cách hòa bình, và đã đòi Nhật trả lại các sĩ quan Việt Nam trước ở trong quân đội Pháp, xin khí giới đê lập đội Bảo An, can thiệp cho các thanh niên mới bị người Nhật bắt vì theo Việt Minh gây rối loạn…(Trang 234).

Nhờ sử gia Phạm Cao Dương mà “khoản trống lịch sử, hay “khúc quanh lịch sử Việt Nam” được soi sáng (dĩ nhiên cũng có nhiều người biết và viết về khúc quanh này mà tôi không có dịp đọc). Riêng “sự soi sáng của sử gia Phạm Cao Dương với tư cách một người viết sử xứng danh, đã giúp ích rất nhiều cho độc giả. Với một cuốn sách dày hơn 8 trăm trang, dù tôi đã đọc 2 lần – sách xuất bản lần đầu và lần 2, sách tái bản) cũng không thể tóm gọn trong một bài viết, hơn nữa, trình độ của tôi rất hạn hẹp, không thể nói lên đầy đủ những gì chứa đựng trong cuốn sách này. Tôi chỉ có thể thưa với mọi người, với tư cách xứng danh là NHÀ VIẾT SỬ, tác phẩm “Trước khi bão lụt tràn tới Bảo Đại-Trần Trọng Kim và Đế Quốc Việt Nam” của sử gia Phạm Cao Dương là một cuốn sách lịch sử giá trị rất cao.

Kiêm Ái
San Jose, 10.11.2017

Share this post