Quê Hương Nếu Ai Không BỎ… – Đỉnh Sóng

(…) Vào năm 2005, sau gần 15 năm định cư tại Hoa Kỳ theo diện tị nạn chính trị, Bùi Khiết cùng gia đình về lại Việt Nam để trùng tu mồ mả ông bà ở Duy Xuyên thuộc tỉnh Quảng Nam và thăm viếng bà con còn ở lại trong nước. Sau khi đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất và trải qua một số thủ tục nhập cảnh, anh mới nhận ra rằng đất nước nầy không phải là đất nước của anh nữa. Nhìn đám công an mặc sắc phục hiện diện khắp nơi trong phi trường, Bùi Khiết cơ hồ như đang đối diện với một chủng loại sinh vật ăn thịt người. Vâng, đất nước ngày nào của anh nay trở thành khu rừng hoang do bọn đồ tễ và đám sinh vật ăn thịt người làm chủ và cai trị.(…)

Ngày trước, dù bất mãn với nền Cộng Hòa Miền Nam, khi ra khỏi nước, Bùi Khiết luôn nhớ về quê hương xứ sở. Trong thời gian tu nghiệp trước 1975 ở Hoa Kỳ, chẳng hạn, anh rất khao khát được nghe một bản nhạc Việt Nam mà một đồng nghiệp và đồng hương nào đó đang mở lớn trong khu cư xá sĩ quan đồng minh. Tiếng hát Lệ Thu, Khánh Ly, Thanh Thúy, Thanh Lan, Giao Linh… sao mà thiết tha triều mến! Thì ra Bùi Khiết nhận ra được thế nào là quê hương. Mặc dù đó là một vùng đất đang bị chiến tranh xâu xé và hoành hành, đó vẫn là một vùng đất mà anh chắc chắn sẽ quay về sau khi mãn khóa, cho dù với những mơ ước khiêm tốn và đơn sơ của thời chiến. Sức hút tâm linh và tình cảm nơi anh chẳng qua chỉ là những hàng me già đầy kỹ niệm của Sài-gòn, là dòng sông ẩm đục phù sa, những quán cà phê đêm trong những con phố nhỏ với tiếng nhạc vàng như đã đi sâu vào thân phận anh. Nhưng trước hết và trên hết, anh nhớ về Cao Nguyên và Đà-Lạt, một địa danh đã nuôi dưỡng anh suốt những năm đại học và thời kỳ phục vụ trong quân đội Miền Nam. Anh nhớ những rừng thông thâm u vời vợi, những đồi cỏ vàng huyền bí trầm mặc suốt bốn mùa như những nhân chứng của thăng trầm và dời đổi. Anh nhớ Hồ Than Thở, Rừng Ái Ân, Thủng Lũng Tình Yêu, Thác Pongour, Suối Vàng, Cam Ly và nhiều địa danh khác.

Bây giờ thì khác hẳn. Sau khi Miền Nam thất thủ, anh mới nhận ra rằng quê hương không đơn thuần là một mảnh đất vật lý mang tính địa dư, quá khứ, và lãnh thổ. Đó là tập hợp những quan hệ tình thần và tình cảm, một tập hợp của những gắn bó lịch sử, xã hội, và con người, một tập hợp những ràng buộc ý thức, vô thức và tiềm thức. Về mặt lịch sử, dường như Bùi Khiết không còn thấy một gắn bó nào nữa, vì đó là một lịch sử đã từng quay lưng với Miền Nam và đứng về phía kẻ ác. Về mặt xã hội, đó là một xã hội của đồng cỏ chứ không phải xã hội loài người theo đúng nghĩa. Về mặt con người, giữa anh và những người cộng sản đang cai trị đất nước hoàn toàn không có một yếu tố nào chung, vì phần lớn đám lãnh đạo không có tính người mà chỉ là những công cụ máy móc đang bảo vệ một chế độ chó dữ từ bắc đến nam, sẵn sàng đè bẹp và nghiền nát những ai khao khát tự do và ước vọng làm người như một sinh vật biết bất mãn và phản kháng.

Trước hết và trên hết, quê hương biểu tượng cho những gì phía trước – trí tuệ, tương lai, hạnh phúc, dự phóng, và hoài bão – chứ không chỉ duy nhất liên quan đến quá khứ hay nơi chôn nhau cắt rốn. Khi chiếm được Miền Nam làm thuộc địa, chế độ cộng sản Hà Nội đã tước đoạt tất cả tương lai, hạnh phúc, dự phóng, và hoài bão đó nơi bên thua cuộc, chà đạp trí tuệ của người dân thuộc địa, nghĩa là đã tước đoạt chính quê hương của họ. Trên thực tế, cũng như bao nhiêu cựu công chức và sỹ quan chế độ cũ, Bùi Khiết đã thực sự mất quê hương. Cho đến ngày chôn thây ở xứ người thì xứ người đó chính là quê hương đích thực của anh, chứ không phải cái địa danh Việt Nam ngày nay. Địa danh đó đã tha hóa để trở thành vùng thù hận muôn đời, trong khi đất nước đang cưu mang anh và gia đình anh đã, đang và sẽ thực sự vun trồng và bồi đắp cho trí tuệ, tương lai, hạnh phúc, dự phóng, và hoài bão của cá nhân anh và con cháu về sau. Đó là quê hương đích thực theo nghĩa đạo lý, siêu hình, nhân bản, và văn hóa.

Sau khi đinh cư ở nước ngoài, không ít những “Việt kiều” vẫn thường xuyên trở về Việt Nam, gọi là “về thăm quê hương.” Nếu đúng là “thăm quê hương,” thì những thành phần nầy vẫn tiếp tục xem chế độ Cộng Sản hiện nay của Việt Nam là quê hương của họ, theo nghĩa đó vẫn còn là tương lai, hạnh phúc, dự phóng, và hoài bão đối với họ, nếu họ ở lại hoặc trở về sống vĩnh viễn ở đó. Mỉa mai thay, thế thì tại sao họ lại bỏ nước ra đi? Họ là những sinh vật không có bộ nhớ nên chẳng bao lâu đã quên thân phận của mình và tự phản bội chính mình. Thân phận đó cũng chính là thân phận làm người theo đúng nghĩa con người. Họ là những con bò sữa được nuôi dưỡng ở vùng đất cưu mang nhưng lại xách xác về vỗ béo cho đám thực dân mới để được chúng vinh danh là “khúc ruột ngàn dặm.” Khúc ruột đó mang hình thù rất tương tự như những loài sán lãi hay ký sinh trùng ở nước ngoài được nuôi dưỡng bởi những dân tộc văn minh, nhân hậu, và nhân bản.

Nếu quả thực đó là quê hương thì liệu những thành phần nói trên có bao giờ nghĩ đến việc về lại đó để định cư vĩnh viễn và đầu tư cho trí tuệ, tương lai, hạnh phúc, dự phóng, và hoài bão cho chính họ và con cháu của họ? Không, họ chỉ về để khoe khoang, hưởng lạc rồi ra đi, thế thôi. Nếu quả thực đó là quê hương thì tại sao quá nhiều người từ Bộ Chính Trị đến đám dân đen đều kiếm cách đưa con cháu của họ và chính họ ra khỏi nước để định cư vĩnh viễn ở xứ người, nhất là Hoa Kỳ? Trong khi những Việt kiều chỉ về để ra đi trở lại, những người Việt trong nước chỉ muốn ra đi để ở lại luôn xứ người. Các du sinh , chẳng hạn, một khi đã đến được Hoa Kỳ thì tìm cách mua chồng mua vợ có quốc tịch Mỹ để được ở lại Mỹ và hy vọng sau nầy bảo lãnh cha mẹ sang theo diện đoàn tụ gia đình. Động cơ nào khiến họ bỏ cái “quê hương yếu dấu” của mình để bôn tẩu ra xứ người? Sao họ không ở lại để thưởng thức những “chùm khế ngọt” hay “cầu tre nhỏ” hay “con diều biếc” hay “vòng tay ấm” như trong bài hái của Đỗ Trung Quân? Tác giả bài hát “Quê Hương” dạy chúng ta rằng:

“Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người.”

Ngược lại, thực tế và lịch sử cho thấy rằng

“Quê hương nếu ai không BỎ
Sẽ không lớn nổi thành người.”

Ngày nay, bất cứ khi nào có cơ hội ra nước ngoài là họ tìm cách bỏ nước, bỏ cái quê hương xã hội chủ nghĩa hay quê hương xã hội chủ ngục kia. Thậm chí không ít những phụ nữ Việt còn mang những bào thai sang Mỹ đẻ để con họ có được quốc tịch Mỹ. Quê hương là như thế sao? Chủ nghĩa xã hội ưu việt là như thế sao? Đỉnh cao trí tuệ của loài người là như thế sao? Có lẽ những thành phần Việt Kiều thường xuyên về lại Việt Nam có những động cơ và mục tiêu khác hơn là “thăm quê hương.” Chỉ có trời biết những động cơ sâu kín của những chuyến về Việt Nam thường xuyên như thế. Đối với những thành phần rỗng não và thực sự không có một ý đồ chính trị nào đáng kể, một trong những động cơ đó có thể là họ muốn trở về vì bây giờ họ có tiền, chứ không như thời kỳ bần hàn khố rách áo ôm như trước kia ở trong nước. Họ muốn tháo gỡ những mặc cảm trong tiềm thức bằng cách khoe khoang sự “giàu có” hiện nay của họ với người trong nước. Ít ai trong nước nhận ra được rằng, trong số những “Việt kiều giàu có” kia không ít người sống ở Mỹ với đồng lương chết đói dưới mức lương tối thiểu, sống bằng trợ cấp xã hội, hay thậm chí đi nhặt ve chai ở Mỹ. Không ít những “Việt Kiều về thăm quê hương” nầy chỉ về Việt Nam để ôm gái tơ, hưởng thụ và ba hoa khoác lác để quên đi hoàn cảnh thua thiệt của họ ở xứ người. Đã thế, khi về lại Mỹ, họ lại khoát cờ vàng lên người và lên mặt chống cộng, tụ tập để nói hành nói lén cộng sản, tìm cách vu khống và chụp mũ những người có đôi chút liêm sỹ chính trị, phần lớn vì lòng đố kị và hiềm khích cá nhân. Họ không hề ý thức được rằng, trong địa chính trị ngày nay, họ đã bị đào thải, bị giản lược thành những thanh củi mục vì chây lười trí não, những ông bình vôi tự mãn vừa rất sợ sự thật vừa mất hết khả năng tiếp cận với sự thật của thời đại, một thời đại khuất lấp và đầy bóng tối đang diễn ra chung quanh họ. Họ là những huyền thoại biết đi, những thằng khờ ngồi sờ đít voi nhưng không bao giờ chịu rửa tay, rửa mặt và thay quần áo. Đa số họ là những kẻ mặc áo gấm về làng. Điều mỉa mai hơn nữa là trong số những người mặc áo gấm về làng đó có không ít những người đến Mỹ theo “quy chế tị nạn chính trị” hay những sỹ quan đi Mỹ theo diện “HO.”

Cũng có không ít những thành phần đang sống ở nước ngoài nhưng cam phận ngậm miệng làm thinh để khỏi bị làm khó dễ khi cần trở về nước. Ngược lại, mặc dù ở nước ngoài, những ai dám lên tiếng chỉ trích chế độ cộng sản trong nước đều có thể bị chế độ chó dữ Hà Nội trả thù bằng nhiều cách khác nhau, như:

1. Tòa Đại Sứ Việt Nam ở San Francisco không cấp chiếu khán,

2. Cấp chiếu khán chỉ để buộc nạn nhân lấy máy bay khác quay trở lại Hoa Kỳ hoặc một quốc gia nào khác khi nạn nhân về đến Tân Sơn Nhất,

3. Để nạn nhân nhập cảnh rồi tìm mọi cách sách nhiễu và hãm hại họ qua bàn tay của bọn côn đồ lưu manh hoặc tìm cớ để bắt giam họ.

Chủ nghĩa anh hùng cách mạng là như thế sao?

Đỉnh cao trí tuệ của loài người là như thế sao?

Chủ nghĩa xã hội ưu việt là như thế sao?

Quê hương là như thế sao?

Bạn mong đợi Tòa Đại Sứ Mỹ ở Việt Nam hay Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ can thiệp?

Share this post