Quyền Lợi Và Phúc Lợi Của Người Di Dân – Vietditru

Quyền Lợi Và Phúc Lợi Của Người Di Dân – Vietditru

Bài viết này nhằm giải đáp thắc mắc cho những di dân tới Mỹ sau ngày 22-08-1996 về quyền lợi và phúc lợi của liên bang, cũng như tiểu bang dành cho họ. Vì bài này rất dài, bao gồm quy định riêng của mỗi tiểu bang của Hoa Kỳ, và để tiện cho ban điều hành Vietditru đưa vào thư viện, nếu bạn nào có thắc mắc thêm, xin đặt câu hỏi ở diễn đàn thích hợp .

Có một số từ Anh ngữ không tiện chuyển dịch, vì vậy tôi xin mạn phép giải thích những từ này trước:

– Amerasian Immigrants: Theo bộ luật của Sở Di Trú Hoa Kỳ định nghĩa chỉ những người Việt Nam sinh từ 1 Tây tháng Giêng 1962 tới 1 Tây tháng Giêng 1976 có cha/mẹ là công dân Mỹ, người phối ngẫu và con cái của những người này. Người Việt thường gọi là “con lai”. Xin đừng hiểu lầm là người Mỹ gốc Á Châu.

– PRUCOL – Permanent Residence Under Color of law – Những người cư trú “không hợp pháp”, “không giấy tờ hợp pháp” mà Sở Di Trú biết, nhưng không trục xuất. Cha/mẹ, vợ/chồng qua thăm rồi ở lại luôn chờ làm giấy bảo lãnh, kết hôn thật/giả bị nghi ngờ chờ diều tra. Mỗi tiểu bang mỗi khác, tôi sẽ không đi sâu vào vấn đề này.

– CHIP – Children’s Health Insurance Program – Chương trình bảo hiểm sức khoẻ cho trẻ em. Điều hành bởi Bộ Y Tế và Dịch Vụ Nhân Sinh Hoa Kỳ (United States Department of Health and Human Services hay viết tắt là HHS)

– SCHIP – State Children’s Health Insurance Program – là hậu thân của CHIP.

– TANF – Temporary Assistance for Needy Families – Chương trình trợ giúp tạm thời cho những gia đình nghèo (hậu thân của chương trinh AFDC – Trợ giúp cho những gia đình có con nhỏ.)

– Qualified Immigrants – Kiều dân hợp lệ (theo chuyển dịch của Bộ An Sinh Xã Hội Hoa Kỳ – U.S Department of Social Security)

– “Qualified Immigrants” on/after August 22, 1996 – Những người di dân tới Mỹ sau ngày 22-08-1996 – Người bảo trợ PHẢI ký giấy bảo đảm tài chính và chịu trách nhiệm cho đến khi người được bảo trợ đi làm được 40 tam cá nguyệt (quarter), hoặc trở thành công dân Mỹ. Tôi sẽ giải thích chi tiết trong bài viết, những di dân nào được liệt vào “Qualified Immigrants”.

– HUD Public Housing & Section 8 – Chương trình hổ trợ/ cấp nhà ở cho những gia đình có lợi tức thấp.

– Social Security – An sinh xã hội:

*** SSI – Supplemental Security Income – Phụ cấp lợi tức an sinh cho các vị cao niên, người lớn hay trẻ em tàn tật/ mù lòa. Sẽ giải thích chi tiết trong bài viết.***

– Working credits – Tín chỉ làm việc.

– Emergency Medicaid – Trợ giúp y tế khẩn cấp.

– Full-Scope Medicaid – Trợ giúp y yế toàn phần.

– Medicare – Bảo hiểm y tế đồng tài trợ bởi tiểu bang và liên bang.

– Medicare “Free premium A” Hospitalization – Bảo hiểm y tế miễn phí phần A – nhập viện.

– Premium “Buy-in” Medicare – Có tiểu bang gọi là “basic health” là phần bảo hiểm sức khoẻ dành cho những người có lợi tức thấp, hay không đủ khả năng mua bảo hiểm bình thường.

– “Not Qualified Immigrants” – Kiều dân không hợp lệ gồm: Di dân không giấy tờ (những người đang chờ trục xuất (?), ngoại kiều không di dân, kiều dân thuộc PRUCOL.

– Federal means-tested public benefits – The Travel.State.Gov

•Food stamps •Supplemental Security Income (SSI) •Medicaid •Temporary Assistance for Needy Families (TANF) •State Child Health Insurance Program (CHIP). Tuy nhiên nhiều tiểu bang và HHS thì liệt kê: TANF, Medicaid, and SSI thuộc “Federal means-tested public benefits”

– Five years waiting period – Theo đạo luật PRWORA (Personal Responsibility and Work Opportunity Reconciliation Act of 1996), thì sau năm năm thường trú nhân được phép xin các trợ cấp của chính phủ liên bang. tuy nhiên có cơ quan tình theo 5 năm, có cơ quan tính theo 40 quarter working credits.

– Deeming – Có nghĩa là lợi tức và nguồn thu nhập của người bảo trợ và phối ngẫu được tính là lợi tức của người được bảo trợ trong việc duyệt xét đơn xin bảo lãnh. Đơn giản là người bảo trợ ký giấy bảo trợ chịu trách nhiệm về người được bảo trợ cho đến khi họ trở thành công dân Mỹ hoặc tích luỹ được 40 tín chỉ làm việc.

– IRS – Internal Revenue Services – Sở Thuế Vụ Mỹ

– Tax payer – Người đóng thuế

– Income – Lợi tức hay thu nhập hàng năm

– Taxable income – Lợi tức tính thuế sau khi khấu trừ các thứ.

– Earn Income Credit – Phụ cấp tiền của IRS cho những chủ hộ có trẻ vị thành niên.

– Student credit – Trợ giúp giáo dục của IRS danh cho những người vừa làm vừa học.

– Saver’s credit – phụ cấp của IRS dành cho những người có quỹ hưu trí.

I – Working credits – Tín chỉ làm việc

Thông thường quý vị có làm việc và có đóng thuế An Sinh Xã Hội (ASXH) thì mới có tín chỉ làm việc. Theo cách tính của sở ASXH một người làm các công việc bình thường, sẽ được 1 tín chỉ cho $1,120/ 1 quarter tối đa là 4 tín chỉ cho 1 năm. Tuy nhiên những người làm việc tại gia thì nhận được 1 tín chỉ cho mỗi $1,700/ 1 quarter và tối đa là 4 tín chỉ. Nghĩa là người làm những công việc bình thường chỉ cần kiếm được $4,480/1 năm và đóng thuế An Sinh Xã Hội thì sẽ được 4 tín chỉ/ 1 năm, trong khi người làm việc nhà phải kiếm $6,800/1 năm mới được 4 tín chỉ. (Người làm việc nhà chuyên nghiệp (house keeper/maid) sẽ được xem là làm công việc bình thường). Sở ASXH sẽ dựa theo tín chỉ làm việc để xét đơn xin tiền SSI.

Ví dụ: Khi quý vị mới tới Mỹ định cư, trong thời gian đi học thêm tiếng Anh, hay một nghề nào đó thân nhân hay người bảo lãnh (chủ nhân) có thể thuê bạn làm công việc nhà hoặc chăm sóc con cháu. Giả sử người chủ trả $6,800/ 1 năm và phải đóng thêm $510.68 (Social Security Tax & Medicaid Tax) và quý vị cũng đóng $510.68. Tổng cộng là $1,021.36. Người chủ sẽ được khấu trừ 100% số tiền họ chi ra trong tổng lợi tức của họ như vậy mức thuế của họ sẽ thấp hơn. Ngược lại người nhận tiền với số thu nhập $6,800/ 1 năm, họ sẽ được trợ cấp thêm khi khai thuế cuối năm (working credit = $400/ độc thân, $800/ chủ hộ/ gia đình và earn income credit khác). Số tiền mà quý vị “Lấy thuế về” có thể lên tới $10,000 tuỳ theo trường hợp của mỗi người.

(Giả sử: Gia đình quý vị (gồm 2 vợ chồng và 2 đứa con dưới 19 tuổi) được cha/mẹ/anh/chị/em bảo lãnh. Thời gian đầu tới Mỹ đương nhiên là ở tạm với người bảo trợ (có trường hợp ở chung lâu dài) phụ giúp việc nhà hay chăm sóc con cái người bảo trợ là chuyện thường tình. Nhưng nếu người bảo trợ trả cho quý vị $600/1 tháng cho mỗi người vợ/chồng quý vị (? QUÝ VỊ HÃY TỰ HIỂU) và BẮT BUỘC phải đóng $2162.88 tiền thuế. Như vậy đối với người bảo trợ và quý vị sẽ có điều lợi/hại gì? Xin xem bảng ước tính dưới đây:

– Nhân viên/người được bảo trợ . . . . . . Chủ nhân/người bảo trợ.

* Lợi tức . . . . . . . $14,400/năm . . . . . $50,000/ năm (giả sử)

* Thuế đóng . . . . ($1,081.44) . . . . . .. ($1,081.44)

* Chi phí . . . . . . . $0.00 . . . . . . . . . . . ($14,400)

Khi khai thuế phần quý vị

* Taxable income . .$0.00

* Earn income credit = $5036

* Child tax credit . . .= $2000

* Work credits . . . . .= $800

* Student credit . . . .= $2,000 max/ family (tùy theo từng trường hợp)

* Saver’s credit . . . . = $2000 max or 50% tiết kiệm hưu trí (IRA/Roth IRA).

Như vậy quý vị có thể lấy thuế về TRÊN $10,000 USD đồng thời vợ chồng quý vị mỗi người được 4 tín chỉ làm việc (100% là thật). Riêng phần người bảo trợ tôi không đi sâu thêm vì họ là người đóng thuế nhiều năm, khi nhìn con số họ sẽ hiểu ra điều lợi ngay.

Xuất xứ: https://mbasic.facebook.com/notes/di-tr%C3%BA-t%E1%BB%95ng-h%E1%BB%A3p/quy%E1%BB%81n-l%E1%BB%A3i-v%C3%A0-ph%C3%BAc-l%E1%BB%A3i-c%E1%BB%A7a-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-di-d%C3%A2n-%E1%BB%9F-m%E1%BB%B9/178992718852569/

Share this post