Sài Gòn Tả Pín Lù – Vương Hồng Sển (Phần 10)

Chương 25

Gặp người hào hiệp khí khái

Cổ hối trẻ chạy lại trước nhà hát Tây, kêu một cái xe song mã, bánh cao su, có đèn khí đá, nếu gặp xe của Sáu Thiệt thì càng tốt vì anh xe nầy biết điều, chạy xe giờ không tính giá mắc lại thạo đường xá hơn ai. Cổ và tôi trang điểm rồi lên xe đi dạo phố một vòng. Cổ biểu xà-ích (sais) đánh xe lại đường Blaucsubé gần đây còn mang tên Garcerie, rồi Duy Tân, ngừng lại rồi chỉ một cái nhà bánh ếch có sân rộng hỏi tôi “được hay không”. Tôi xuống xe lại gần đứng ngoài hàng rào dòm vào, tôi khen “nhà nầy, thiệt là phải thế!”. Cổ biểu tôi đánh giá coi đáng mấy. Tôi nói chừng bốn ngàn trở lại, thì nên mua. Miệng nói bốn ngàn, chớ cô bác biết trong lưng tôi, hoạ là bán luôn tôi đây mới đủ số tiền nầy! Cô chủ sự nghe tôi đánh giá, vừa cười vừa vỗ vai khen: “Má nó có con mắt tinh đời, vừa rành vừa thạo hơn ai. Thôi! Lên xe rồi chị em mình sẽ nói chuyện”.

Cô chủ sự biểu quay đầu xe trở lại, rồi nói với tôi rằng: “Tôi muốn nói má nó một điều, bằng lòng cùng không, xin cứ thiệt tình cho tôi rõ”. Tôi trả lời: “Cô đáng tuổi làm chị tôi, có việc chi sai biểu, cứ nói đại, việc chi mà ngại”. Cổ bèn tỏ ý muốn kết làm chị em sanh tư chi giao với tôi, dặn tôi từ hậu đừng gọi cổ bằng cô, hễ đáng chị thì gọi chị cho thêm thân”. Tôi chịu, vì nghĩ mình còn cô thế, phải kiếm sao cho có nha trảo vi kiềng càng đông càng hay, như vậy mới có thể dọc ngang tung hoành trên cái đất đầy chông gai Sài Gòn – Chợ Lớn nầy đặng.

Xe chạy gần tới cầu Bông, gió mát từ rạch Thị Nghè thổi tới, chỉ biểu ngừng xe một lần nữa, và kiếm chỗ đậu xe nơi lề đường xe điện, bên hông chùa Ngọc Hoàng. Tôi lật đật hỏi: “Ghé nhà ai đó chị?”. Cô chủ sự nghe tôi kêu chị, coi bộ khoái lắm, nhe răng cười lòi mấy cái răng bịt vàng, trông còn duyên đến, chỉ kề tai nói đủ nghe: “Ghé bợm đa tình họ Bùi, con cháu Bùi Kiệm trong Lục Vân Tiên, chàng ta tên Phát, chị phải khoe người em mới của chị đây cho chú chàng biết mặt!”. Tôi vừa xuống xe vừa hỏi tiếp: “Mông-xừ là chủ cái nhà hồi nãy đó hả? Mà chức phận của va là gì đó chị?”. Chỉ nói: “Hội đồng! Ông hội đồng thành phố, mông-xừ Hội Đồng Phát, mà cũng là chủ cái nhà em coi lúc nãy đó đa!”.

Thầy hội thấy chị em tôi bước vô, chạy ra mừng rỡ rước vào sa-lông, coi bộ mau mắn lịch duyệt, rành người, có thể thống, người don don không mập không ốm, miệng ngậm xì-gà, duy cứ tiếng Tây trâm trết. Vừa tới cửa, tôi thấy thầy nắm tay chị chủ, chào: “Bủa-sua cô chủ sự. Xà-hoa-dẻn, ma-đầm”, Tôi vụt né, may thời chị chủ láy mắt, tôi hội ý kịp, bèn đưa tay: “Bủa-sua ông hội đồng!”. Chủ nhà nghe tôi gọi trúng danh vị của mình, nhoẻn miệng cười duyên, siết tay tôi thật mạnh, rồi dắt tay nhau vào nhà. Khách đàn bà mà ông ta đãi rượu sâm banh khui nguyên chai và thuốc thơm hiệu con mèo “Caraven A” sang trọng. Rót rượu xong, thầy hội đồng vừa bưng ly cụng với chị chủ một cách rất lịch sự thân mật. Tôi cũng bưng ly của tôi, ra dấu rồi ngừng lại mở đầu câu chuyện, sau khi ngồi lại đàng hoàng theo ngôi chủ khách: “Bẩm ông, tôi nghe chị chủ sự tôi khoe ông là tiểu Mạnh Thường đất nầy, đã giàu có sang trọng, mà tánh tình lại quảng đại hào hiệp hơn ai. Chị chủ đưa tôi đến đây, trước cho tạn mặt người danh giá, sau cũng có một việc sở cậy ông như đặng thì ơn ấy tôi nguyền tạc dạ”. Tôi vựa nói đến đó vừa liếc mắt đưa tình.

Thầy hội đồng vụt cười dòn, ép tôi cụng ly uống cản, rồi ông vuốt vuốt chót râu trái ấu, hứa trừ lấy gan ông trời còn ngoài ra chuyện chi ông cũng sẵn lòng giúp tôi đặng cả. Chị chủ tiếp lời buộc thêm:

– Em đừng lo, em chưa biết ông hội, chớ hễ ổng hứa với em một tiếng thì như rựa chém đất. Mà điều nói chơi, chớ ông, ủa anh hội, đứng chém chị em tôi, nghen anh!

Ba chúng tôi cười xoà, chị chủ thắng thế buộc thêm một câu nữa:

– Huống chi em đàn bà mới quen biết anh đây, lẽ nào ảnh đi nói trửng cho mất thể diện với em sao?

Rồi day lại thầy hội đồng, chị chủ nói cho một hơi:

– Thưa anh hội, em tôi đây, chồng vừa về dưỡng bịnh bên xứ Ăng Lê, nên ở đây một mình buồn, một hai cũng đòi trở lại quê nhà dưới Mỹ Tho, tôi cầm cản thiếu điều hụt hơi, cô ta mới chịu ừ ở lại, tuy vậy mà đòi cất nhà mới ở sao cho gần gũi cùng xóm với tôi cô ta mới chịu. Tôi nhắm nội đây duy có cái nhà của anh ở đường Garcerci đó là phải thế hơn cả, và khỏi cất mới. Xin lỗi anh, hồi nãy sẵn xe tôi tọc mạch đã dắt và chỉ cái nhà cho em tôi đây, nó bằng lòng lắm, vậy anh bỏ trống chưa dùng, nó thì ưng bụng rồi, vậy không dám nào anh làm ơn để cái nhà ấy cho em tôi ở, rồi sớm tối chi, anh có đi đâu rồi rảnh, ghé tạt vào đó chơi chẳng là thú vị lắm sao?

Thầy hội đồng gãi đầu gãi tai, liếc liếc tôi rồi chắc lưỡi trả lời gượng gạo:

– Thiệt khó cho tôi quá! Không mấy thuở cô đây cậy tôi một chuyện mà việc không thành thì cũng khó coi quá! Chẳng phải tôi không muốn để cái nhà đó lại cho “madame”, tôi thì sẵn lòng lắm, ngặt một nỗi tôi mới mời lỡ cậu tôi ở dưới ruộng Ât Êc (Trà Vinh), tháng tới nầy lên dưỡng bịnh uống thuốc đồ đạc chi chi tôi đã sắm đủ, ước chừng kể về nhà về đó từ khí, tính ra trên bốn ngàn rưỡi bạc. À mà thôi! Việc đó để thủng thẳng tôi tính lại coi Tôi sẽ kiếm một cái nhà khác cho cậu tôi cũng được. Duy xin cô madame, đừng quên…

Chị chủ sự ngồi òn ỷ, nói hơn nói thua với cậu ta, trong khi ấy tôi giả đò bước trái ra hàng ba, gọi xà-ích đem giùm vô hai cái khăn tua, thừa dịp ngoắt chỉ ra nói nhỏ vậy vậy. Chỉ trở vô nói:

– Thưa anh mà ông Phát ơi? Bữa nay sẵn dịp cô hội đồng đi khỏi, chị em tôi mời anh đi xem hát nơi rạp Eden ở Catinat chơi, được không?

Thầy hội đồng háy chỉ mà rằng:

– Cô cứ khéo giả ngộ với moa hoài. Ước chừng có ma-pham ở nhà, moa cũng măng-phú, muốn đi đâu thì đi chớ. Mặt nầy lại sợ vợ à?

Nói rồi, thầy trở vô buồng, sửa soạn, rửa mặt cho thêm chút phấn và nước hoa (đàn ông mà giồi phấn) rồi theo chị em tôi ra xe, chị chủ sự ngồi mé tay trái, để thầy hội đồng ngồi giữa, tôi ngồi sát bên bên mặt và ép khít tay giữa một hoa hồng mãn khai nhưng chưa tàn và một đoá trà mi đang thời xuân sắc.

Chương 26

Nhà ai sắm sẵn

Xe tới đường Catinat, đậu lại ngang nhà hàng Continental, chị chủ sự mở bốp-phơi hơi chậm, thầy hội đồng khoát tay giành trả tiền xe song mã, rồi giành mua một cái lôsờ (loge) ba chỗ ngồi thượng hạng. Trong lúc quây phím hát, đèn tắt, thầy hội đồng ngồi trên ghế kế bên tôi in tuồng ngồi trên than lửa đỏ. Tay chưn bộ tịch thầy làm làm sao, không lẽ tôi nói ra đây cho đặng… Chừng vãn lớp đầu, thầy mời chị em tôi bước qua Đại lục khách sạn (hôtel Continental, lúc đó chỉ tiếp khách Tây và người An nam – phải ăn vận thật sang mới cho vào cửa). Chị chủ sự vui miệng, đặt buổi rượu nầy là tiệc “bình thuỷ tương phùng” và buộc phải có sâm banh mới đáng. Thầy hội gọi bồi khui một chai Mum đắt tiền nhất, khi cụng ly thầy ước với tôi rằng:

– Chỗ nầy đông người, không lẽ, chớ chi tôi vôi cô cùng uống chung một ly mới toại nguyền

Tôi đáp lại:

– Như ai kia, không dám nói, chớ đặng người đứng đợt như ông, mà cố cập đến phận linh đinh như chiếc lá giữa dòng nầy, thì dầu ông không nói, chớ tôi cũng lo đền ơn nghĩa trả. Ngặt một điều là tôi nay nhà cửa chưa yên, biết có gần gũi ông được nhiều ngày hay chăng.

Chị chủ sự tiếp lời:

– Có phải bao nhiêu mối tệ, một mình anh ôm hết đó phải không? Em tôi đây đã tất tình nài anh một cái nhà, mà sao tôi coi ý anh còn phân phân bất nhứt! Nè, anh hội đồng, cho tôi hỏi thứ chơi và đừng giận, nghen! Xưa nay nghe tiếng anh xử thế tề gia không sai chạy, mà chuyến nầy, tôi coi bộ anh hết dám tự chuyên. Hay là anh còn sợ chị ở nhà nghi kỵ?

Ông Phát có hơi mất cỡ, nói đỡ rằng:

– Em chủ sự, biết qua thuở nay lắm chớ? Kìa, chuông reo, hãy mau qua xem hát tiếp rồi về nhà sẽ nói chuyện.

Thầy hội lấy khăn choàng lên vai tôi mà nói nhỏ: “Cô chủ sự cổ nói yêu cổ đa! Madame hãy nhớ cho tôi câu: “Đại trượng phu tiên trị kỳ gia” đó mà?

Vãn hát, bị mắc mưa. May thời kiếm được một cái, xe kiếng hai ngựa. Thầy hội đồng ga-lăng (galant, thói nịnh đầm), nhường băng sau cho chị chủ sự ngồi, còn tôi và ông Phát, ngồi băng trước.

Trời mưa càng già, gió tạt tứ phía, nên kéo cửa kiếng bít bùng.

Tôi bấy lâu rừng núi đã trải, voi cọp đều thấy, nào biết sợ giống gì, thế mà hôm nay phải run rẩy rởn ốc với thằng cha nầy, để cho thầy mặc tình trổ mặt yên hùng, còn tôi hết sức đỡ bên nầy thì che bên kia mà cũng không khỏi. Nhưng cái thân đã từng quen với hạch, gặp bầy sẻ sẻ xá chi! Xe đưa đến nhà chị chủ sự, vô nhà, tôi xin lỗi thầy hội đồng cho tôi thay áo trước mặt, còn mặc một cái áo trong nhà thật mỏng, ngồi tiếp chuyện. Chị chủ sự, theo phận chủ nhà, lăng xăng lo đãi đằng gà vịt rượu trà. Chừng ba bốn tuần “mai quế lộ” (mai té lộ) điều khiển anh hội đồng ta gần cúp, chỉ đem ra một tô giấy tín chỉ(1), dở chuyện cái nhà ra nói, xin thầy hạ bút làm tin. Tuy đã tuý luý nhừ tử, mà thầy hội đồng còn đủ trí khôn, hỏi móc họng chị chủ sự:

– Ý! Cái cô! Giấy tờ đâu mà sẵn làm vầy? Lại mua bán gì mà nửa đêm nửa hôm như vầy?

Tôi vội nói nửa pha lửng nửa thiệt:

– Bộ khi ông hội đồng ổng sợ nửa đêm tôi không có sẵn mấy ngàn đồng bạc chồng ra cho ổng chớ gì?

Thầy liếc tôi:

– Cô Hai khéo nói mát nói mỏ thì thôi! Giá gì mấy ngàn đồng bạc mà người như tôi lại coi trọng hơn cô hay sao. Thôi! Được! Như cô đòi “giấy trắng mực đen” cho chắc, thì “giấy trắng mực đen” cho rồi!

Thầy vừa cầm viết, tôi lai cản, giả đò đi mở tủ, nói:

– Tôi mới lấy dưới ngân hàng một ngàn đồng để xài mấy bữa, nay còn bảy tám trăm đây. Vậy tôi chồng đỡ cho ông bấy nhiêu ấy, rồi ngày mai, giờ nào ông nhứt định, tôi xuống lấy thêm chồng cho đủ số, đặng không?

Ông Phát vừa cười vừa chụp tay tôi kéo lại mà rằng:

– Người ra biểu ngồi đây chơi! Bữa nào ghé nhà sẽ “lấy” hết một lần cũng đặng mà, phải không, em cô chủ sự? Ngon với nhau mà?

Tôi hứ một tiếng đồng tình ngọt xớt, vừa xít lại gần xoa yêu chót mũi thầy bèn lau lau cây viết, tỏ ra mình là tay hay chữ, rồi ký tên vào tờ bán, xong rồi trao hết cho tôi. Kế nghe đồng hồ gõ một giờ, thầy làm bảnh, than mệt xin kiếu về ngủ. Tôi lên xe kéo ngồi chung đưa thầy tôi cửa, thầy cho hay vợ đi vắng, mời tôi vào nhà cho thầy hỏi thăm chuyện riêng. Tôi cười duyên, lấy tay rở trán thầy mà rằng:

– Đi đâu mà vội, không mất đâu mà sợ. Để bữa khác, hôm nay anh uống rượu nhiều, không nên. Thôi, anh vô nghỉ đi, chẳng thiếu chi ngày!

Tôi với hun theo kiểu thằng Lu-y, lấy môi ép vào môi thầy, hôi rượu nồng nực.

Tôi trông rảnh rang đặng cười cái khật của đời cho đã, kẻo hồi giờ nó bắt nôn trong ruột. Tôi lấy hai trăm đồng bạc đền ơn chị chủ sự, nhưng chỉ làm mặt giận, lại rầy tôi sao còn khách sáo, chỉ không chịu lấy, rằng chị em nương dựa nhau mà ở đời, khi vầy khi khác, chớ đi tính từ chút công như vậy mà coi được hay sao.

Thấy chỉ biết điều, tôi cũng bớt giận phần nào, và từ ấy tôi cũng có lòng mến chỉ.

Tôi dọn nhà vừa xong, sắp đặt đâu đó vừa vừa con mắt, thì thầy hội đồng đã mon men đến cửa. Thời may, vào lúc chị chủ sự vừa đến chơi, chỉ chận đầu ông hảo ngọt ta rằng:

– Coi kìa? Anh hội đồng lóng nầy bộ túng rồi sao, mà lại đòi tiền gấp dữ vậy?

Ông hội đồng Pháp có tánh se sua, thường khoe mình giàu có và ăn ở rộng rãi nay bị chận họng hỏi nhằm chỗ tức, ông ta giận, trả lời thiếu một điều gây lộn với chị chủ sự:

– Cô thiệt khi tôi quá! Bạc muôn kia, còn chửa thấy gì, sá chi thứ năm ba ngàn, mà tôi đây túng sao? Bữa nay cô Hai chưa trả thì mai, mai chưa trả thì mốt, để tới bữa nào, lại không đặng. Tôi đến đây, cố ý coi cô Hai dọn nhà xong chưa và đồ đạc tôi sắm như vậy đủ dùng cùng không, chớ tôi đây có con mắt, biết coi người mà, hỡi cô chủ sự?

Chị này thừa dịp nói liền:

Anh đến chị em tôi dọn nhà còn thiếu món chi đặng anh cho thêm phải không? Nè! Chỗ này còn thiếu một tấm gương soi mài cạnh, anh xuống chợ cũ, mua một tấm kiếng một thước bề ngang về treo bên vách gần bộ ngựa gỗ đó thì là tuyệt đẹp. Bữa nào anh có xu nhiều, anh mua gọi là lễ tân gia tặng em út.

Ông Pháp đổ quạu vì lời nói xóc óc, đứng phắt dậy tay móc bóp phơ, miệng nói:

– Còn đợi bữa nào, vậy chớ bữa nay không có xu hay sao? Nè!

Đó rồi thầy rút ra ba bốn tấm giấy xăng, thêm một mở giấy “mỡ gà” (giấy năm đồng đời Pháp), bỏ vãi trên bàn. Chị chủ sự cười ngắc nga ngắc nghẽo, rồi sửa nghiêm nét mặt chắp tay xá xá mà rằng:

– Coi! Nói có bao nhiêu ấy, mà anh giận tôi cho đành sao anh Phát! Tôi chọc tức anh chơi, để thử xem chữ “nhẫn” của anh có tới bực nào chớ nội cái đất Sài Gòn luôn và Chợ Lớn nữa, ai lại chẳng biết danh hội đồng Phát, trước kia là thơ ký Nam kỳ soái phủ, ăn chơi đúng mực, thạo đờn, thiện nghệ cây kìm và gái nào lại không mê anh về cái ngón bốc rời không tiếc. Đáng mặt con trai ông Hàm Ninh, Sa Đéc, tuy không phải công tử mà ăn xài công tử dẫu cậu Ba ở Bạc Liêu nào bì!

Chị chủ sự thổi ngay chỗ ngứa, ông hội đồng hết giận, thấm ý cả ba cười xoà, chị chủ sự không chịu thua, giã lã:

– Anh à! Tôi cũng hiểu ý anh đến đây coi em tôi nó muốn xin món gì thì anh cho. Thôi! Bây giờ em hãy sửa soạn lẹ lẹ, rồi chị em mình đi hóng mát với anh hội, luôn địp đi lựa tấm kiếng Chợ Cũ hay là kiếng nhà hàng Courtinat mới sướng cho nè?

Mỗi mỗi đều bị chị chủ sự tước tước, làm cho ông hội đồng hết phương chối từ sẵn xe Sáu Thiện còn đậu trước cửa, chị em tôi bắt quách ông ta theo ra tận đường Catinat, lựa tại hãng Courti nạt một tấm kiếng mài cạnh lộng khuôn bằng thuỷ tinh. Ông hội đồng trả đủ một trăm mười hai đồng. Tôi biên số nhà cho hãng sai người giao hàng tại chỗ, còn bọn tôi đánh một vòng vô Chợ Lớn xực mì chiên tôm đường Zaccaréo rồi mới về. Ghé nhà mới của tôi, chị em mời thầy ở lại xơi cơm và đánh tứ sắc ăn hun. Ông Phát nói:

– Bạc-đông (pardon) để bữa khác, bữa nay cho moa kiếu vì ma-pham đi góp lúa vừa về. Moa phải về lo việc tính sổ, coi ai thiếu ai đủ. Chơi vẫn chơi, mà làm cũng phải làm, mới có tiền nuôi em út chớ!

Thầy nắm tay chúng tôi, giặc giặc mấy cái rồi lên xe ra về, tốn hết nội cuộc luôn tấm kiếng, ngót một trăm rưỡi đồng bạc.

Chú thích:

(1) Giấy tín chỉ: Đời Pháp thuộc, sở trước bạ có bán sẵn đủ loại giấy có đóng mộc trước, dùng viết giấy tờ mua bán điền sẵn, giấy này vừa bền lại vừa bảo đảm.

Chương 27

Suýt chết hụt trong mộttrận ghen.

Thấy hội đồng về rồi, chị em tôi bàn soạn, tính phải lo mau đoạn phút mối tình nầy, nhắm để dây dưa lâu ngày e sanh chuyện không hay.

Sẵn tại nhà chị chủ sự, có nuôi một mụ tay sai sồn sồn, có tánh ham uống rượu thửa rượu cắp, lại có tật thèo lẻo nhứt hạng, đời đó chưa có radio mà mụ ấy đúng là một cái máy truyền tin sống. Một ngày chí tối không làm gì hết, chỉ trông cho ai sai vặt, mượn mua giống gì đặng có ăn xởi ăn bớt, ăn tước trên đầu người ta mới chịu. Từ hôm mụ ta thấy anh hội đồng lân la nhà tôi, mụ lén dòm hành mọi cách chớ cho có dịp kiếm chuyện đâm thọc lập công. Tôi thầm nghĩ: nếu chọc tức mụ nầy làm sao mụ cũng oán, rồi thèo lẻo lại với cô hội đồng thì tức nhiên kế tôi ắt thành. Bữa nọ tôi rình và bắt đặng tại trận mụ Ba Hợi đang có làm tàn lén mở nút chai dầu “Ý muốn của đàn bà” (Ce que femme veut) của tôi ra mà hửi hít. Tôi miệng chửi tay vả cho một hồi, chị ta lầm lì bỏ đi ngoe nguẩy. Tôi sai trẻ theo dõi xem có phải mụ chằn tinh giả ấy đi lại nhà thầy hội hay không. Trẻ về học lại quả y như lời tôi độ, không sai một mảy. Tôi liền cụ bị giấy tờ sẵn hết, rồi lánh mặt bước trái qua nhà chị Hai bán nem nướng bò bún, chờ nghe tin tức.

Cô hội đồng Ph, hay tin tôi dọn về ở nhà bánh ếch đường Garcerie của chồng, nổi cơn ghen đùng đùng, dẫn bổn bộ binh mã gồm một bồi trai và hai con hầu gái, hăm hở tìm tôi để phân thây tranh giành xích mích thì cơ đồ tan rã sụp đổ hết còn gì. Bởi khéo xử cho nên cậu nào cậu nấy đều sẵn lòng chịu khó chịu nhọc, toan lập công để mua chuộc lòng tôi. Lần lần một người khen một tiếng mà tiếng đồn đi khắp lục tỉnh, mấy tay cự phú đều có ghé nhà, mỗi khi họ lên dây, hoặc đi hầu kiện, bán lúa, hoặc đưa con lên học trường lớn, vay hỏi bạc chà, hay lên mua sắm đám cưới đám ăn khai bằng, vân vân. Vả lại nhớ quen lớn nhiều, nên sanh ra nghề mới, các tiệm buôn hãng lớn nào trữ bán vật chi, tôi đều thông thạo, và biết rõ món nào chỗ nào xấu tốt, tôi hoá ra có cái nghề nay gọi là mại bản, mà lúc đó gọi theo Tàu là má chính hay mái chính gì gì đó. Rồi nghề dạy nghề, lần hồi các tay thiện nghệ về mua bán lúa gạo, mấy nhà thầu, tài công nhà máy, họ đua nhau dạy tôi, chỉ mánh lời, thế thần mua đi bán lại làm sao cho có lời nhiều. Nhiều khi tôi lãnh mua đồ giùm, một đám mà ăn lời hai phía lãnh bán một ghe lúa, thạnh có bạc trăm, mà chủ ghe lúa lên nhà tôi chơi, phải lễ mễ, tính chuyện ơn nghĩa, lại còn bài bạc cho tôi lấy tiền xâu là khác. Ai hỏi qua việc kiện thưa, tôi phải đóng vai cố vấn, chỉ luật sư nào giỏi việc hộ, việc hình, ông nào miệng lưỡi lanh lợi, thầy thông ngôn nào có tài thông dịch trôi chảy, quan toà mau hiểu và xử án không lầm, thầy nào đem đàng dắt mối rành, thảy thảy tôi đều quen biết. Gẫm lại mình là đàn bà, nếu biết nhỏ nhẹ, khéo trong lời ăn tiếng nói, muốn cậy mượn chuyện chi, đàn ông nào lại không sẵn lòng vừa giúp? Nhiều khi tôi lãnh bướng quá nhiều công chuyện mần (làm) không hết, thế mà tôi chỉ viết thơ cậy ông nầy thầy nọ, họ xởi lời giùm tôi mà việc cũng xong, lại được gãy gọn, công thì của ai không biết mà tiền thì tôi bỏ túi không sót một đồng, thiệt là sướng quá!

Những lúc tôi chạy bận như vậy, thì ở nhà đã có chị chủ sự coi sóc, lớp lấy xâu mấy sòng bài cào, tứ sắc, xì phè hay thín cẩu (thiên cữu). Tay nào chắc chắn mà hụt vốn thì chi ra bạc cho họ ngồi sòng, như may ăn, thì chỉ vuốt lời có bạc chục, rủi thua thì họ là giới giang hồ mã thượng, nào ai chạy chối đi đâu? Tuy lúc hỏi mượn, không giấy không tờ mà còn chắc hơn có trước bạ hay có cầu chứng nơi toà? Vả lại cái miệng của chỉ đó có vừa với gì, ai lại không ghê không sợ cái miệng ấy! Nơi nhà tôi, chỉ còn kiêng dè, chớ với bạn hỏi chỉ tiền ngày tiền tuần tiền tháng, thì ối thôi! Một ngày chí tối, chỉ ra rả không biết lấy gì mà chứa! Đối với bọn cờ bạc, gái tứ thời, chỉ còn cắt cổ siết họng hơn nữa: Bắt góp từ ngày, nếu không góp, chỉ đến canh tại nhà, khách vừa ra là chỉ chìa tay thâu tiền răng rắc. Tiếng nói “tiền vay vốn là một trăm”, thế mà chỉ đưa ra có chín chục, chận lại tiền đầu, mười đồng trước, chịu thì cho, bằng không chịu thì hãy xê ra chỗ khác. Rồi một trăm ấy, mỗi ngày phải góp một đồng hai cắc (1$20) và góp đủ một trăm ngày mới hết nợ. Rủi thời túng quá, ngày nào đó không đủ tiền góp 1$20 kia, thì cũng phải trả năm ba cắc tiền lời và 1$20 kia còn thiếu như cũ, nếu làm thinh thì chắc không khỏi chỉ sai người đến nhà làm nhục, hoặc réo tên họ hoặc chửi rủa đến chừng nào có tiền trả chúng mới thôi, hỏi có ác nào hơn? Nơi sở Ba son (arsenal) có lệ một tháng Tây phát tiền làm hai lần, chỉ cho ra năm đồng (5$00), tới kỳ (hai tuần lễ nữa) phải trả sáu đồng (6$00). Như không trả đủ, thì phải trả một đồng (1$00) tiền lời, số bạc năm đồng gác qua tháng sau và đẻ lời ra nữa? Về bạc tháng, chỉ cho ra mười đồng (10$00), cuối tháng phải trả mười hai đồng (12$00). Ấy là quen lớn và tử tế lắm đó, chớ với mặt lạ hay mới hỏi mượn lần đầu thì phải trả tới mười ba đồng (13$00). Về tiền mướn, chỉ ăn lời mới thiệt là ác hơn nữa? Tội nghiệp kẻ nghèo không có vốn buôn bán, hoặc muốn sửa nhà, xóc nóc dột, làm ăn hay mua sách vở cho con học, trả tiền trường, đụng tới chỉ, đến hỏi tiền mướn của chỉ, thì cứ chín đồng bạc (9$00) đưa ra, mỗi ngày phải nạp cho chỉ hai cắc (0$20) tiền lời, trả như vậy tháng nầy qua tháng kia, mà vốn cũng còn nguyên vốn, chừng nào trả chín đồng (9$00) kia mới là dứt nợ “tiền mướn”. Khi nào ốm đau bịnh hoạn, làm không ra tiền và không tiền trả cho chỉ, năm mười bữa thì chỉ kê lời với vốn, tính ra mười đồng (10$00), bắt phải trả tiền lời một lớp nữa, chồng chất lên hoài, nên đúng với câu “nợ lút đầu lút cổ”.

Còn trong sòng cờ bạc, ai muốn thế chưn đồ (vàng, cà rá), thì cũng một tay chỉ ra tiền. Nếu xên sòng mà đồ thế không chuộc liền đó, thì chỉ kỳ cho nửa tháng, cứ mỗi đồng bạc cho ra, phải trả mỗi ngày là tiền rưỡi (ba su) tiền lời, đã vậy, vàng của người ta, chỉ lấy đem đi cầm nơi tiệm, lấy tiền về cho chỗ khác vay mượn, đẻ tiền lời cho chỉ nuốt! Chứng nào chủ chiếc vàng chiếc cà rá có tiền đem trả chỉ, thì chỉ mới chuộc trong tiệm ra. Còn một cách nữa là hễ vàng thế, tới kỳ không chuộc thì chỉ lấy chiếc ấy cho ai đó liệu chắc chắn, mướn đeo, tiền mướn đeo ấy, cứ một đôi vàng hay sợi dây chuyền, mỗi ngày mướn hai cắc (0$20), kiềng vàng ba cắc.

Nhiêu khi, tôi thấy người nghèo khổ tới khóc lóc năn nỉ chị chủ sự thiếu điều gãy lưỡi mà chỉ vẫn không nao núng, cứ mắng xối người ta, đòi thưa cò bỏ tù phát mãi, chỉ nghiến răng trẹo trẹo, người ấy ra về rồi, tôi trách chỉ quá độc ác không biết nương tay, khi ấy chỉ ngồi nhắc lại lúc xưa, khi còn ở với Má Tư Hớn, bán máu bán trinh, hỏi mấy ai biết thương cho chỉ? Và mấy ai biết tội nghiệp là gì? Muốn may một cái áo mới, cũng phải mua góp rồi trả từ ngày của đáng một đồng trả thành hai. Còn như cái thân cha mẹ sanh thành cực khổ, đem ra thí thân làm món đồ choi cho khách, họ trả cao trả thấp từ đồng, giằn vặt thân thể đủ mọi cách vày vò đủ kiểu, chiều lòn khách hết nước, chừng đem tiền về cho má, thì tiền đầu, tiền ngày, tiền góp, má trừ gần hết, ai biết thương cho mình. Thiệt là nghe chỉ nhắc lại chuyện cũ, tôi bắt lạnh mình rởn ốc.

Chớ chi tôi không sớm thoát thân thì ngày nay không biết nó ra tới nước nào. Nghĩ tới đâu tôi căm hờn tới đó, xã hội là dường thế, gặp cảnh nào hay cảnh nấy, không còn biết thương hại người đời là gì nữa.

Nghĩ cho đời, toàn là giả dối! Tôi bắt lỗi chị chủ sự là ác độc tôi thấy lỗi người mà không xét lỗi mình! Bỏ chồng, đoạt của, lọt nhà số đi tu bỏ rơi đành đoạn anh Lu Y (cũng khá không tìm kiếm thưa gởi), nay làm nghề nầy rồi chê má Tư Hớn là chê làm sao được? Ban đầu giận oán cô chủ sự, sau kết làm bạn, rồi xót rồi thương. Chốn ngục tù, thì lòng nát ngướu như tương, làm thân con ở phải lòng chai dạ đá. Tôi a ý khúc tùng, giúp giáo cho giặc, oán trách hăm trả thù bà Tư Hớn mà rốt lại cùng làm một nghề! Mâu thuẫn ôi là mâu thuẫn. Và đời là vậy đó!

(Còn tiếp)

Share this post