Sài Gòn… “Tạp Pín Lù” – Nguyễn Ngọc Chính

Thế hệ trẻ ngày nay chắc không hiểu “tạp pín lù”, hay “tả pín lù” là gì. Đó là tên gọi một món ăn được nấu trên lò theo kiểu của người Tầu. Theo Hán tự, “tả” hay “tạp” là đánh (đánh chén), “pín” là gần hay kề bên và “lù” là lò lửa hay… cái củ lao khoét lỗ để bỏ vào vài cục than hồng.

Chiết tự như vậy là có thể đoán đó là món ăn được nấu trong cù lao. Khi nước dùng sôi, người ta bỏ trong nồi đủ loại “hầm bà lằng” như thịt bò, mề gà, lòng heo, ruột già, ruột non, dồi trường… Sau này còn thêm tôm, cua, cá… và nếu là lẩu chay, chỉ có các loại nấm và rau.

Người ăn tự gắp bằng đũa, nhúng vào nước dùng đang sôi, rồi gắp qua chén mình tùy theo sở thích ăn tái hay chín. Rồi thì bia hay rượu đưa cay cùng rau sống… miệng ngồm ngoàm thưởng thức. Cũng vì thế, Sài Gòn xưa mới có món ăn “tả pín lù”, có nghĩa là đủ các thứ trộn chung một nồi!

Bài viết này lại không bàn đến chuyện ăn lẩu mà là chuyện đời xưa! Nhà văn kiêm nhà khảo cổ Vương Hồng Sển viết “Sài Gòn Tạp Pín Lù” năm 1982 để nối tiếp tác phẩm “Saigon năm xưa” được viết từ năm 1960. Hai tác phẩm được sáng tác qua 2 giai đoạn Trước và Sau 1975.

Theo tác giả, “Sài Gòn tạp pín lù” còn có thể được gọi là “Sài Gòn thập cẩm”, “Sài Gòn tào lao” hay “Sài Gòn ba lăng nhăng” gồm những chuyện của giới ăn chơi ngày xưa. Truyện dựa theo một bức thư và tập hồi ký cuộc đời của bà V.A. ở Paris, không đề ngày tháng mà ông nhận được năm 1979. Thư có đoạn:

“Ông viết “Sài Gòn năm xưa”, xuất bản đã hai lần, sách biên khảo được vậy là khá, nhưng tại sao ông bỏ sót không viết đầy đủ về nhóm chị em chúng tôi. Trong sáhttps://www.tvvn.org/wp-admin/themes.phpch ông kể đủ, nào Trần Bá Lộc bợ Tây, bạo tàn, nào Đỗ Hữu Phước bán đứng liệt sĩ Thủ Khoa Huân, làm giàu trên xương máu đồng bào, nào Sáu Ngọ vua cờ bạc… nhưng vì sao ông chừa giới ăn chơi, đám công tứ bột, và nhóm giang hồ lưu lạc, mượn yên hoa son phấn hành nghề? Vâng, nhóm son phấn ẩy, cứ gọi đúng tên, có chi rằng nhục, có tên để gọi, có chữ để đọc, kêu xách mé hại gì? Hay vì yêu hoa nhắc đến truỵ lạc, ông sợ nên né tránh?

“Miệng tụng kinh Di Đà, lòng chứa sẵn một bồ dao găm. Ấy là quân giấu hình, giấu dạng. Ban ngày ăn tương chao niệm Phật, trời sắp tối, tay cầm chuỗi, tay gõ mõ, mắt láo liếng xanh khách. Khách xuống xe đi lỏn nhà, nhè nhà kế bên cũng thờ thần mày trắng bước vô, kinh đọc chữ cà lăm, chữ vấp váp, thà làm nghề nằm ngửa như bọn tôi mà ít tội hơn. Thế gian truỵ lạc còn nhiều làm sao kể xiết? Xã hội ngày nay đã dường thế, ông có giấu cũng không xong. Phàm xấu che tốt khoe là thường lệ, thơm gì đời con đĩ mà thuật ra đây…”

(hết trích)

Bà V.A. nhắc Vương Hồng Sển, “đừng quên công của chị em chúng tôi”. Từ những năm 1920 đến 1945 ruộng Hậu Giang nhờ kinh xáng khai thông mà phát, mùa trúng liên tiếp, lúa lại được giá, con cháu các đại điền chủ đua nhau giỡn với tiền rừng, bạc biển.

Có người, cha chết chưa kịp chôn, đã ăn cắp bằng khoán đi cầm cho “Chà Setty” (chetty) để lấy bạc kịp mua xe chở em út đi ăn nem hứng gió. Các chủ ruộng có con trai đều háo hức cho sang Pháp, thi đậu bằng trung cấp, làm nghề “thầy cãi” (luật sư), “thầy thuốc” (bác sĩ), “thầy nhổ răng” (nha sĩ)…

Đám khác không học chữ lại học khiêu vũ, nhiếp ảnh, cắt may… về xứ mở phòng chụp hình như Antoine Giàu, lập nhà may âu phục như Nguyễn Phong Tân. Đồng bào hại đồng bào thời Nam kỳ quốc, bắt nói “Tân Sơn Nhứt” hễ nói “Nhất” thì cho chầu Diêm Vương. Họ đều tưởng hưởng lộc Tây lâu dài, té ra vẫn đền mạng bên Pháp vì tội bán nước, chạy trời không khỏi nắng.

Nhóm ít tiền, cho con ra học trường cao đẳng ở Hà Nội để làm đốc phủ, đốc sự… mộng làm quan chưa tỉnh, sự nghiệp đã đi đời, kẻ đau tim chết sớm, kẻ chờ con lãnh sang nước ngoài chờ thời. Con chủ điền muốn xứng danh “công tử bột, phá gia chi tử”, nếu không có “chị em chúng tôi” tiếp tay, xô đẩy làm cho cái xã hội ăn chơi đàn đúm trào Pháp mau sụp đổ.

Vì không viết trong “Saigon năm xưa” nên đám “chị em ta” phải nhắc. Đừng gọi họ là phá gia chi tử, họ không hư hơn ai kia đâu. Họ có quyền tung vãi đồng tiền của ông cha làm giàu bằng mồ hồi nước mắt của tá điền… nay bọn con tá điền trở về báo thù, ấy là quả báo nhãn tiền.

Nếu không có “chị em ta” quyến rũ thì đồng tiền thất đức của chủ điền vẫn khoá chặt trong tủ sắt, làm sao lọt tới tay bác tài, chú bếp? Gánh nước làm chi cho đau vai? Ở trong làng lấy một chồng làm chi để sanh con cực thân? Sức đàn bà có bao lăm và chỉ có làm nghề không vốn hoạ may mới cất đầu lên được. Không xuống đường làm đĩ để chết rục trong xó hè à? Thư bà V.A. viết:

“Làm đĩ có ba bốn đường vả lại có chồng mà còn ăn vụng lại thúi hơn là làm đĩ công khai. Chúng tôi sanh sống trong những năm 1920-1945, thò bốc trong túi công tử bột, ăn to xài lớn, tung vãi: đục, khoét, gặm, nhấm, làm đủ mọi cách, xã hội như nay mới có. Tưởng không nên cười con đĩ và nên chấm công cho gái giang hồ. Bao nhiêu nước mắt của chị em chúng tôi, nếu có phép nào gom lại được thì sẽ biến thành “khổ hải” bao la. Bao nhiêu nỗi oan khúc bất công của xã hội đối với chị em chúng tôi, nếu có phép quy tụ lại thì ắt hoá ra lửa, lửa nầy đủ để đốt bầu trời nầy tan ra mây khói, và khói nầy sẽ là thiên hồn địa ám, mù mịt còn dày hơn bên Anh quốc những tháng sa mù, đèn Diogène đâu dễ rọi thấy đường”

Mãi đến năm 1983 Vương Hồng Sển mới sao lục bức thư và cuốn “nhật ký” viết theo kiểu “nhớ đâu viết đó” của bà V.A. để ra thành sách tiếp nối quyển “Saigon năm xưa”. Chính tác giả thú nhận, giọng văn bình dân của người miền Nam trong “Sài Gòn tạp pín lù” là lối kể chuyện lan man, chuyện này xọ qua chuyện nọ, chẳng có một thứ tự nào.

Đầu tiên là chuyện các cô lưu lạc, trốn cha trốn mẹ để bước vào giang hồ, để được ăn sung mặc sướng, lên xe xuống ngựa.

“Mỹ nhơn tự cổ như danh tướng,
Bất hứa nhơn gian kiến bạch đầu”

(Bà V.A. còn cẩn thận lưu ý tác giả, yêu cầu ông giữ y nguyên văn lời dịch dưới đây vì đó là ý muốn của một phụ nữ):

“Ngàn xưa người đẹp như danh tướng,
Không hẹn cho ai thấy bạc đầu
”.

Người đẹp đó có thể là Cô Ba, con thầy thông Chánh, người đã dám sách súng bắn biện lý Jabouin ở Trà Vinh. Cô Ba chính là người đã được hãng xà bông Việt Nam in hình trên mỗi viên xà bông bán “đắt như tôm tươi” khắp xứ Nam Kỳ. Lại còn xuất hiện trên con tem thời Indochine nữa chớ!

Người đẹp đó cũng là các cô Chánh Bẹt Tăng, cô Hai Đẩu cùng ở Sóc Trăng. Cô Ba Thọ ở xóm nhà thờ, tuy rỗ hoa mè, nhưng cô Ba có duyên ngầm, cô không dùng son phấn, để mặt tự nhiên mà lại “hút khách” hơn ai hết.

Chủ tỉnh ở Sóc Trăng hồi đó là Giudicelli, vì có bịnh nghiện hút nên đường công danh trắc trở nhưng bù lại ông có tài viết văn. Cô Ba Thọ như cây kiểng để gần bàn đèn cho ông ngắm. Chồng ngày vợ tháng, hai người không xơ múi gì nhưng cô nhờ ông như “chùm gởi đóng nhành me”, còn ông bám cô như “thằn lằn ôm cột cầu”! Thế mà mối tình tương đắc.

Đó là điển hình các cô theo lời bà V.A. kể lại. Về phần tác giả, Vương Hồng Sển cho rằng đó là những cô nổi danh thời Pháp thuộc, lắm cô chỉ “văn kỳ thinh”, vài cô ông đã được diễm phúc “kiến kỳ hình”.

Danh sách những người đẹp không sắp theo thứ tự, vả lại mỗi cô có một sắc thái riêng biệt, biết làm sao sắp xếp cho vừa lòng cả chị lẫn em. Chị tuy lé nhưng răng đều như hạt dưa, nào thua em, tuy tươi tốt mới mười tám thanh xuân, nhưng phải nỗi khi đến gần, phảng phất mùi “nị chà”, mất hết cả hứng.

Thôi thì đành dành riêng mỗi người một chiếu và cũng không dám đi quá sâu, e đụng chạm đến người còn sống, hà tất tranh luận ngôi thứ cho thêm phiền. Dù chuyện đã lui vào dĩ vãng nhưng tác giả cũng nhớ chừng để tưởng niệm các cô. Vương Hồng Sển đưa ra một danh sách khá dài:

– Cô Ba Pho, tộc danh là Lê Thị Ngọc, thánh danh là Rosalie, từng làm chủ một nhà may đường Sabourain (Tạ Thu Thâu – nay là Lưu Văn Lạng);

– Cô Tư Ăng lê, không rõ tên gì nhưng mỗi lần đến nhà để “câu cá”, vẫn sóng thu mắt liếc như dao;

– Cô Marie Huê, ngồi két nhà bán cơm Việt “Đông Pháp lữ quán” đường Espagne cũ;

– Cô Ba Cù-là, có giọng khao khao, mỗi lần tôi hỏi mượn tiền, dầu không có, mắt cô ướt ướt, mũi cô đo đỏ, dẫu tiền không một xu dính túi, cũng phải đào cho ra;

– Cô Hai Thời, nhà ở ngang nhà hàng cơm Tây ở Đất Hộ (Dakao), cùng một dãy với rạp chớp bóng nay gọi Rạp Cầu Bông; tôi nhớ địa chỉ rõ, vì cô là kế thất của ông Bô, thông ngôn toà án Sài Gòn, nhiều người còn nhớ danh, ông Trần Văn Kính;

– Cô Lucie Bandeau, gọi làm vậy là cô đế dấu tích trên trán, nhỏ thôi, nhưng đế che vết nầy, cô thường lấy một băng màu [bandeau] che khuất mà thành danh luôn;

– Cô Chapuis, gọi theo tên chồng, trước ở Cần Thơ, sau lên Sài Gòn, khiêu vũ nghề riêng ăn đứt không nhường cô gái nhảy Cẩm Nhung sau nầy;

– Cô Năm Cần Thơ, kết bạn với một vị luật sư quê ở Châu Đốc, cùng đi kháng chiến, không hiểu vì sao keo tan hồ rã, cô bỏ về và biệt tích luôn ở Sài Gòn;

– Cô Sáu Hương, em công tử Bích, cả hai vốn con nhà giàu lớn xứ Trà Vinh, đi ăn chơi theo tiếng gọi trái tim chớ không vì sinh kế;

– Cô Tư Nhị, trẻ trung và đang độ xuân thì, quê ở Nam Vang xuống;

– Cô Ba Trà, nõn nà lấn hơn Tư Nhị, và vẫn là địch thủ, giành riêng một công tử [sẽ nói đến cô này ở phần sau];

– Cô Bảy Hột Điều, vì khuôn mặt chữ điền, y như “Hột Điều” nay đã khoác áo nâu sòng vì cô có một sự tích ly kỳ [sẽ nói đến cô này ở phần sau]

Cuộc đời “hồng nhan đa truân” của bà V.A. cũng là một thiên tình sử. Vốn xuất thân từ một gia đình nho phong, lấy đạo đức làm nền, có ngờ đâu khi lưu lạc, xã hội ăn chơi đã biến bà thành một phụ nữ… “bán trời không văn tự”. Bất cứ việc gì cũng dám làm.

Đơn giản chỉ vì lòng ham muốn, mê một cây kiềng vàng mà bà đã một lần thấy trên cổ cô chủ sự vợ Tây đoan! Với số vốn “tự có” chỉ là “Hai quả núi vàng pha núm tuyết / Một khe hang nước nức mùi hương”… bà đã khiến các công tử phải khuynh gia bại sản.

Tâm hồn bà ngày nay khi viết hồi ký được mô tả là “đục xà ngầu như lu nước sông chưa lóng phèn”. Tuy vậy, bà vẫn nhớ đền cảnh u tịch ngày xưa nơi nhà tía má ở Rạch Gầm. “Nhà lá, cột tràm nhưng nay sao vẫn quý hơn góc lầu ở Paris hoa lệ”. Bà V.A. viết trong hồi ký:

“Hôm ấy, tôi đang ngồi giặt áo mé sông trước nhà. Bỗng một chiếc ghe có mui như ghe thầy cai tổng dùng đi hầu lệ và sơn trắng phếu, chèo ngay lại gần chỗ tôi ngồi và cặp bến. Vừa ghé xong, thấy hai người lính với một ông Tây nhảy lên bờ và xăm xăm hướng nhả chú Phó lý, ở thôn trên nhà tía tôi một đỗi.

“Thôi rồi, tôi biết nhà chú Phó lý thường đặt rượu lậu, vì tía tôi hay sai tôi đến đó mua rượu đem về, nay có ai mách, nên Tây đoan lại xét bắt chớ không có chuyện gì khác… Kế thấy trong mui ghe chun ra một cô dong dảy người, mặc áo bà ba trắng vải ba-tích (batiste) bó sát da, dưới mặc quần lãnh Tàu láng mượt. Mặt mày cô trắng như bột, trông lịch sự quá chừng quá đỗi, mà hấp dẫn nhứt là chiếc kiềng vàng cô đeo nơi cổ.

“Cha chả! Cây kiềng nó chói mắt làm sao? Tôi nhìn cô trân trân… Đã ngót mấy tháng nay, tôi to nhỏ nài nỉ má tôi, đòi chằng chằng ngày đêm mà chưa có cây kiềng vàng chạm. Nội làng tôi chỉ thấy con gái thầy cai có một cây, nên tôi muốn lắm. Đêm nào tôi cũng chiêm bao cứ thấy cây kiềng, nhưng kiềng của con ông cai, tuy vẫn chạm nhưng nào có khéo như cây kiềng trên cổ cô nầy?”

(hết trích)

Thế rồi người khách sang trọng mời cô gái xuống ghe. Chiếc kiềng vàng mơ ước giúp cô thêm bạo dạn. Mùi dầu thơm cô xức thật “bát ngát”, nó nhẹ nhàng khiến cô càng mê mẩn.

Khách lạ hỏi: “Bộ em muốn lắm sao?”. V.A. bèn thú thật: “Đã mấy tháng nay, tôi xin mãi mà má tôi chưa cho”. Khách lạ bèn cởi cây kiềng đang đeo để đeo vào cổ cô V.A., lại lấy gương soi nhỏ trong xách tay cho cô mặc tình ngắm nghía. Bà V.A. nhớ lại:

“Bây giờ tôi mới rõ vì sao mỗi lần tôi đi chợ, Hai Truyện, Ba Sách liếc ngó thì thầm, và đám đàn em Năm Xuân, Sáu Đồng buông lời chọc ghẹo. Nhớ tía má tuy nhà nghèo nhưng không thiếu nợ, tía má cưng, khỏi dang nắng cấy gặt, chỉ cho làm việc vặt trong nhà…

“Da tôi trẳng, không dồi phấn mà hơn xa da cô nầy đã quá nửa chừng xuân, ngực tôi không độn mà no tròn đẩy áo nịt gần muốn đứt, không như ngực cô đã xệ quả mướp. Tôi mảng tưởng tượng chỉ thấy cây kiềng vàng chạm trên cổ, mơ màng nhớ đâu mình đã thành tiên.

Bỗng nhớ lại không phải được đeo cây kiềng nầy mãi mãi, từ tiên hoá ra con nhỏ giặt áo: cho em nó, thau đồ giặt còn tươm bọt xà bông, nhớ đến đó, vụt nước mắt từ đâu sa ròng ròng giọt giọt. Cô chủ sự, không ngớt lời khuyên giải:

“Em đừng buồn. Nếu em muốn, hãy tìm qua, qua tính cho. Vậy bữa nào, em đi chợ, hãy ghé nhà, đừng ngại. Nhan sắc em như vầy, lo chi không có đồ bắc kế. Thật tình mới biết mà qua thương em lắm. Nhà qua ở gần công xi (công ti) rượu, qua khỏi nhà lồng chợ một đỗi. Để bữa nào em ghé, qua sẽ tính cho”.

Chỉ 3 ngày sau lần gặp gỡ dưới ghe, V.A. đã tìm đến nhà cô chủ sự ở gần nhà lồng chợ Mỹ (Mỹ Tho) để mong “đổi đời”! Cô chủ sự đon đả:

“Ủa nầy, em. Tội nghiệp thì thôi. Mắc hồi hôm lỡ thức chơi bài… phải qua ngủ nướng thêm chút nữa chắc nhọc lòng em chờ đợi, hoặc qua đã mất dịp gặp em mà qua hằng trông đợi”.

Cô dẫn V.A. đi khắp nhà mình, kể cả phòng tắm, cầu tiêu… chỗ nào cũng sang trọng, lịch sự. Trước mắt V.A. là cuộc sống vàng son, nhung lụa của chủ nhà và cô gái quê nghĩ thầm trong bụng:

“Người ta cũng thì người ta như mình, mà người sao ăn sung mặc sướng đủ điều, đã chẳng làm gì cho đụng móng tay, mà chuỗi kiềng đeo không hết, quần áo chẳng thiếu gì. Lại còn bài bạc thâu đêm, rồi ngủ cho trưa trờ trưa trật. Còn mình đây, sao lại cực khổ mãn đời: nồi cơm, trách cá, xắt chuối nuôi heo, một ngày chí tối làm không hở tay, xin có một cây kiềng, mà mấy tháng nay xin hoài không được”.

Thế là “cá đã cắn câu”. Cuộc gặp gỡ kết thúc với với lời hứa hẹn một tương lai huy hoàng từ miệng cô chủ sự:

“… em cứ nghe lời qua, về đừng cho ai hay, lo tom góp áo quần cho sẵn. Bất kỳ là ngày nào, hễ em lên tới đây, thì qua sẵn có thế tiện giúp em lập cuộc đời như qua đây không khác”.

Như có một ma lực, cô gái ngây thơ trốn gia đình và đến với cô chủ sự. Hai người đi tầu lục tỉnh để lên Sài Gòn. Hồi mới 8 tuổi cô đã có một lần đến Sài Gòn… Khi đó là năm 1913, năm vừa xây xong chợ mới Bến Thành và có một buổi lễ khai trương thật long trọng.

Đó cũng là năm tía cô trúng mùa được mấy chục giạ nên đưa cả hai mẹ con cô lên Sài Gòn cho biết “đèn khí đá”, “đèn dầu” và thứ đèn mới ra sao. “Đèn mới có không cần tim nà vẫn sáng hơn hai thứ đèn kia, dùng “điện lực” mà sao gọi là “đèn khí”… là khí gì, ác thật”.

Đó cũng là năm lần đầu trong đời cô được thấy “sao chổi” mà sau này mới biết là “sao chổi Halley”. Đó cũng là “điềm báo hiệu” năm sau xảy ra trận giặc Đức (Đệ nhất thế chiến, 1914-1918). Giờ ngồi viết lại hồi ký, bà V.A. nghiệm lại đúng là lần lên Sài Gòn lần thứ hai cũng là điềm cho một cuộc đời… giang hồ!

Tàu cập bến Sài Gòn, cô chủ sự thuê xe kéo đến nhà một người đàn bà lớn tuổi mà cô gọi bằng “má” ở đường Bồ-rệt (Boresse, nay là đường Calmette). Hai “má con” đưa nhau vào phòng trong, nói chi không rõ, giây lát trở ra cô căn dặn V.A. ở lại đây với má Tư Hớn ít ngày: “Ở đây với má, má sẽ thương như qua đây thương em vậy…”

Má Tư Hớn cũng xởi lởi: “Chị em với con Bảy chủ sự thì cũng như con ruột một nhà, vậy con cứ ở, đừng ngại ngùng chi cả”. Cô chủ sự còn dặn dò V.A. trước khi vào Chợ Lớn rằng mọi việc ráng sao cũng phải tin cậy và nghe lời má Tư, thì mới hòng nên thân. Cô nói:

“Nội Sài Gòn đây có ai lanh lợi và quen lớn với nhiều ông nhiều thầy cho bằng má Tư, như chị đây năm xưa xuất thân cũng nhờ má Tư sắp đặt cho nên ngày nay mới rỡ ràng sung sướng và có địa vị như ngày hôm nay làm vậy!”

Khi cô chủ sự đi khỏi, bỗng có một tốp mấy ông mấy thầy kéo vào nhà, ông nào ông nấy xem đã ngà ngà, nói với nhau tiếng Tây lốp bốp, kẻ kêu “dì”, người gọi “má”, om sòm. Ở chưa được một tuần, một hôm má Tư nói nhỏ với V.A.:

“Nay có thằng Hạch người Chà [Chà Và, Ấn Độ], quản gia trong nhà máy xay lúa lớn trong Chợ Lớn, giàu lắm, nó muốn cưới con về làm vợ, với một cây kiềng đúng một lượng và hai lượng chuỗi hột quấn tay, con nên ưng nó đi mà lập thân, chỗ nầy được lắm, nên nghe lời má, thuở nay má ăn chay niệm Phật, tạo lập không biết bao nhiêu gia đình như vầy, tụ thiểu thành đa, không nên già kén, mà bỏ qua dịp tốt”.

Thế là cuộc đời “giang hồ” của V.A. bắt đầu từ đó. Suy cho cùng, cô mới 18 tuổi, tứ cố vô thân, bụng không muốn cũng chẳng dám từ chối. Huống chi mụ nầy, giọng kèn tiếng quyển, thật dễ xiêu lòng, lại nghe có kiềng, có chuỗi thì còn chê bai gì nữa nên cô gật đầu ưng đại. V.A. viết trong hồi ký:

“Đêm tân hôn, nay nhớ lại còn rùng mình. Đúng là thuyền nan lâm bão lớn, tấm thân trong ngọc trắng ngà, giá kể ngàn vàng, nói theo văn Kiều, đành để “hồng ngâm chuột vọc”. Mà con chuột nầy nó không vọc, nó nghiến răng xàm xạp.

“Hạch tuy không thương được nhưng ở rất biết điều. Va mướn cho tôi một căn phố không xa nhà má Tư Hớn là mấy, cái nầy là tại tôi đòi y theo lời má Tư căn dặn. Y mua bàn mua ghế và tập tôi ăn cà ri, chu choa, ban đầu cay xé miệng, mà nay gặp không cay tôi không thèm rớ, mới kỳ!

“Nghe tôi đòi muốn ở gần má, ban đầu anh Hạch vùng vằng, song thét rồi cũng ưng, vì anh mê tôi như điếu đổ, muốn gì được nấy. Quả là anh Hạch thương tôi một cách thật tình, và nói nhỏ mà nghe, ban đầu tôi không cảm, nhưng chưa đầy bốn tháng, anh sắm cho tôi áo quần chật tủ, vàng, chuỗi có rồi.

“Từ cảm vừa vừa đến mến, rồi qua thương, tình Hạch – Việt cà ri thịt kho, tôi tập ảnh ăn nước mắm, ảnh nín mũi queo râu, thấy dễ tức cười, vợ chồng cách nhau hơn hai con giáp tôi mười tám xuân, ảnh tròm trèm bốn chục, tôi bắt mùi quen ăn “nị” [cà-ri nị của Ấn] tưởng cùng nhau sẽ nối tóc đến già.

“Ảnh làm việc trong nhà máy xay lúa trong Chợ Lớn Bình Tây, tử ngày đụng tôi, ảnh xin đổi phiên gác không gác tối nữa và làm việc ban ngày, đêm nào cũng về, vì vậy ban ngày ở nhà một mình buồn, tôi thường lại nhà má Tư để giải khuây, ngờ đâu má cò máy với mấy chị trong nhà ra ngón độc bày đặt rủ ren cờ bạc.

“Ban đầu đánh nhỏ thì tôi ăn, gọi là chơi vị tình, sau lần hồi gầy sòng đánh lớn, tôi bị gài vào bẫy, dính ăn dính thua, say máu ngà, bữa nào chiều về nhà cũng sạch túi. Cái nghề cờ bạc, nóng mũi nên phái gỡ, gỡ đâu không thấy, ngày càng lậm, hết chục nầy tới bạc trăm kia thét rồi tới cầm đồ, cứ nay một chiếc, mai mốt cầm một đôi, không đầy hai tháng trời, bao nhiêu chuỗi vàng kiềng chạm đều ton ráo, hoá ra giấy biên lai cầm đồ chú Hoả, ráo nạo”.

(hết trích)

Chuyện của bà V.A. còn dài, còn nhiều tình tiết ly kỳ… Chẳng hạn như má Tư Hớn ra giá 300 đồng bạc lớn để anh Hạch “phá trinh” V.A. Đến khi gặp mặt, thấy người con gái quê non nớt, anh không đành lòng. Anh bàn qua việc cưới làm vợ, dì Tư lập tức lên giá năm trăm bạc chẵn!

Má Tư Hớn đúng là một mụ Tú Bà “đầy kinh nghiệm” với trăm phương nghìn kế. V.A. đã vào tay mụ thì hết đường thoát thân. Sau vụ anh Hạch, “má” còn đạo diễn nhiều cuộc gả bán khác và cứ như thế, “cuộc đời nàng Kiều thời Pháp thuộc” trải qua những giai đoạn bi thảm của kiếp… hồng nhan đa truân!

Ly kỳ nhất là đoạn V.A. đi tu (nhưng lại không xuống tóc)! Cô xuống tận Tây Ninh, lên núi Bà Đen và tìm đến Chùa Bà. Ngày xưa Kiều cũng đã đi tu, gặp vãi Giác Duyên, đến thời của V.A. cô cũng xin với hòa thượng trụ trì:

“Bạch rằng tôi có lời nguyện, xin hoà thượng mai nầy cúng cho tôi một ngọ và cho phép tôi để tóc, chụp mủ ni, ăn chay niệm Phật, tu tại đây và tôi đặt tiền cúng là năm trăm đồng bạc, xin hoà thượng nhận dùng vào hương khói cho Bà, cho tôi qui y, ở đây, quyết làm tôi Phật cho tới răng long tóc bạc”.

Nguyên cốt Bà là một tượng đá cổ, cao bằng hai gang tay. Bà ngồi tham thiền và tượng đặt trong một hốc đá. Điện thờ không xây bằng gạch như ngày nay, chỉ là một hang đá khá rộng nhưng tôn nghiêm.

Lên ở chùa chưa được nửa tháng, chay lạt vừa quen, tuy kinh kệ chưa thuộc nhưng với quyết tâm tu luyện. Thế nhưng, hình như nợ trần chưa trả hết nên có lời ra tiếng vào. Nhất là bà mãi biện (bà vãi) có nhiệm vụ và quyền hạn rất lớn trong chùa. Bà nói:

“Cái tuồng mặt coi còn bén ngót, khéo nói chuyện gõ mõ tụng kinh, làm dâu cửa Phật, khéo bán dạng thuyền quyên, trêu ngươi bẹo chúng… Thiệt khéo thì thôi… Tôi nói đây để cho mấy bà về ăn trầu gẫm lại coi: thét đây khi mai mà chùa nầy không khỏi trở nên nhà bảo sanh mà chớ?”

Cuối cùng thầy trụ trì phân trần lúc V.A. rời chùa:

“Mô Phật…. Đồ đệ có lòng đem của cúng Bà, thôi, một tấm lòng thành Bà cũng chứng cho, lựa là phải để bạc lại làm chi…. Người đời, hoạn nạn là thử thách. Kẻ nào khóc nhiều kẻ đó sống nhiều… Đồ đệ vui lòng đứng chấp nhứt mụ vãi ngu xuẩn kia, coi vậy chùa nầy không có vãi ấy cũng không xong!”

Nhưng thôi, hãy nói qua chuyện của Vương Hồng Sển. Như đã tiết lộ trong Phần 1, tác giả đã điểm qua “những người đẹp” trong khoảng những năm 1920-1935, trong đó nổi bật nhất là hai cô Ba Trà và Tư Nhị, một cặp bài trùng về nhan sắc nhưng lại khác nhau về hậu vận. Người ta bảo đó là cái số của từng ngưới.

Trong đoạn mang tựa đề “Những gì tôi biết về cô Ba Trà, tức Trần Ngọc Trà, huê khôi số một ở Sài Gòn, khoảng 1920-1935”, tác giả kể lại lần đầu tiên được chứng kiến dung nhan “người đẹp”:

“Ngày mồng một tháng ba dương lịch 1924, đĩ xem hát cải lương tại rạp Modern, đường d’Espagne, là lần tôi được ngồi gần cô Ba Trà, lúc ấy đang sáng chói trong tiền, trong nhan sắc, và sắm xe hơi có tài xế phụ, để dành mở cửa. Cô Ba ngồi một dãy ghế thượng hạng với bác sĩ Lê Quan Trinh, ông toà Trần Văn Tỷ và thầy Sáu Ngọ, tức Paul Daroll, “vua cờ bạc lừng danh thuở ấy”.

“Trớ trêu thay, bên tay mặt và sát ghế cô là ghế của kẻ nầy. Cô ngồi xem mà mùi nước hoa làm tôi ngây ngất và khi nửa chừng cô ra về, tôi hết biết trên sân khấu hát ca những gì. Cô Ba Trà vụt lên như diều gặp gió lên xe xuống ngựa mấy chục năm trường… tôi thì một rương sách, một túi áo quần, để sau còn đùm đề thêm ba cái đồ sành cũ ưa bể và nứt rạn…”.

Mấy chục năm sau, y như trong giấc chiêm bao, cô Ba Trà và Vương Hồng Sển tình cờ gặp lại lần thứ hai, nơi một sòng tài xỉu ở Đại thế giới Chợ Lớn. Cô thì đã mất phong độ năm nào nhưng sau khi tay bắt mặt mừng, cô hỏi nhỏ nhan sắc cô nay kém hơn trước tới bực nào. Vương Hồng Sển đáp tỉnh bơ:

“Đối với tôi, tôi chỉ biết cô là người y như hình chụp treo trong tủ kiếng trước cửa nhà “photo Khánh Ký” đường Bonard, lúc tôi còn học trường Chasseloup, mà mặc trời mưa trời gió, chúa nhựt nào tôi cũng phải ra trường đến ngắm tiên dung rồi mới trở về trường ăn ngủ được… và đã khiến tôi thành thi sĩ, xin lỗi, thành thợ thơ nọ”.

Câu nói ấy khiến Ba Trà cười, hai hàm răng vẫn trắng đẹp như xưa. Và cũng từ đó, cô thâu dụng tác già làm “bí thư không nhận lương” suốt một thời gian khá lâu. Cô Ba Trà kể lại cuộc đời mình cho Vương Hồng Sển, lại còn viết thêm một câu “làm bằng” cho bài viết:

“Tôi, Trần Ngọc Trà, tự Cô Ba Trà, bằng lòng cho báo “Tiếng Dội” đăng về cuộc đời của tôi, từ buổi thiếu thời đến nay, chính tôi thuật cho người đại diện báo “Tiếng Dội” nghe chuyện của tôi để đăng báo”.

Sài Gòn, le 9-5-1952. Ký tên: Trần Ngọc Trà”

Cuộc đời cô chỉ xin tóm gọn đôi dòng. Năm 9 tuổi cô vẫn chưa đi học, năm 14 tuổi cô được bán cho “quan ba y sỹ” người Tây (mua làm vật tiêu khiển mà đến cái tên của ông cô cũng không nhớ nổi). Quan Tây về nước một năm sau cô lại lấy một anh chồng người Tàu, vừa ích kỷ lại vừa lận đận, lao đao.

Chú Toàn (có cha người Hải Nam, tỷ phú ở Phan Rang, mẹ người Qui Nhơn) là mối tình đầu đời của cô. Toàn chỉ là một con ong ham hoa mới, một con bướm chuộng hoa lạ. Toàn lại theo phong tục của Tàu: vợ nhà, vợ bé, mèo chuột… khi cô khởi sự biết ghen thì Toàn lại càng luông tuồng.

Mẹ cô (một người đàn bà… ác độc khi người cha mất sớm) phản đối cuộc hôn nhân này nên năm 17 tuổi cô sống tạm bợ để giữ chữ Hiếu với mẹ và chữ Tình với chồng! Ba Trà còn có biệt danh “Cô Ba Chả Giò” khi cùng mẹ buôn bán trên xe lửa Sài Gòn – Phan Thiết!

Rồi cuộc đời cô “phất lên” như diều gặp gió trong thế giới ăn chơi của Sài Gòn xưa. Đó là một thế giới khép kín với những chuyện tình rất “đời thường”, chuyện cờ bạc thắng thua có thể đi đến tán gia bại sản và thêm một chất khói đưa vào mộng ảo phù dung: thuốc phiện.

Năm 1923, cô Ba đã là một nàng tiên trên dương thế, cô lên như diều gặp gió. Chiều chiều cô ngồi một mình trên chiếc ô tô mui trần lộng lẫy, phía trước có hai người tài xế: một tài xế chánh để lái xe, một tài xế phụ để mở cửa xe. Ba Trà sang trọng không thua gì Thống đốc Nam kỳ vì chỉ có ông mới có hai tài xế cho chiếc “Delage six cylindres” mang số hiệu đặc biệt “C.20”.

Bản thân Ba Trà không có “máu đỏ đen” nhưng cô xuất hiện tại Đại thế giới như một cứu tinh cho những kẻ thua bạc. Cái nghề “xanh xít đít đui” (cinq, six, dix, douze) sẽ cứu giúp những kẻ “vận đen” với điều kiện tỷ lệ lãi là 10% số tiến “cấp vốn” tính theo ngày!

Danh sách người tình của cô Ba Trà có công tử Lê văn Phước, còn gọi là “Cậu Tư Phước Georges” và giới ăn chơi Sài Gòn thời đó đặt cho cậu mỹ danh “Bạch Công Tử” vì cậu trắng trẻo, đẹp trai.

Georges có bụng dạ rộng rãi và đối xử với bọn nghèo đã không khinh khi mà còn giúp đỡ nhiều bề. Thiếu nón đội, cậu cho nón Fléchet mới và đắt tiền cậu cũng không tiếc. Thiếu tiền xài, cậu giúp, và khi gánh hát diễn tuồng trên sân khấu, cậu cho mượn bộ ghế sa lon của cha để lại và diễn xong cậu không đòi lại…

Cũng vì sự hào phóng của công tử nên chỉ vài năm ruộng vườn, nhà cửa đều theo ngón hào hiệp của cậu mà bay tứ tán… Cậu chỉ được cái danh “dám ăn, dám xài” và dĩ nhiên người đẹp bu quanh cậu có đến hàng tá.

Ngược lại với Bạch Công Tử là Hắc Công Tử, một người có nước da ngăm ngăm vì xuất xứ từ vùng ruộng muối. Hắc Công Tử lớn tuổi hơn Georges nhưng việc xài tiền thì cả hai công tử được phân định là “bên tám lạng, bên nửa cân”.

Mất một tờ giấy năm đồng trong rạp hát, Hắc Công Tử bỏ coi diễn để lo mò kiếm “tờ giấy bạc con công” (5$00), trong khi Bạch Công Tử ngồi kế bên, miệng cười hề hề, tay móc túi đốt tờ giấy hai chục (20$) dùng làm đuốc rọi để… tìm 5 đồng!

Uy danh cậu Ba Hắc Công Tử có phần kém hơn cậu Tư Bạch công tử vì ăn nói có vẻ khinh người, ưa “mầy tao mi tớ”. Tư Phước ngọt với em út bao nhiêu thì cậu Ba cũng ngọt với bồ bịch bấy nhiêu, duy “chiến lược” mỗi chàng mỗi khác. Cậu Tư chuộng người phải cho đẹp, cậu Ba chọn người phải cho “ngon”, phần đông tuyển trong hàng gái vườn, chân chưa rửa sạch phèn.

Vương Hồng Sển viết:

“Ông hội đồng Rạch giá và cậu nhà giàu Cần Thơ ở trên nầy [Sài Gòn] trót tháng, rốt lại phải từ giã cô Ba, để mạnh ai về xứ nấy, kẻ luyện phi đao, người luyện phi bạc, chỉnh tu binh mã để kỳ bãi trường tới rước con về sẽ chiến đấu tranh nhau hôn cái da non của bàn tay mềm mại của cô Ba, thành ngữ đổ quán xiêu đình, vào khoảng 1920-1945 nên đổi lại “xiêu điền nát ruộng” cũng vì đua nhau tranh tiếng hảo “có ngủ, có gần cô B. người đẹp số “dách” đất Sài gòn”.

Nồi bật trong số người tình của cô Ba Trà là Philippe Franchini, chủ của Continental Palace mà ngày nay là Khách sạn Continental, bên hông Nhà Hát Thành Phố. Ba Trà tâm sự với Vương Hồng Sển: “Lấy Franchini, về vật chất không thiếu món nào, nhưng ông Tây nầy cưng vợ theo Tây, mà nước ghen lại là nước ghen Á Đông thuần nhứt!”

Một hôm Franchini đi khỏi, cô Ba nhập sòng, và vận đang đỏ, cô trúng một hơi vét sòng. Cô đi ngay lại hãng xe, sẵn tiền cô kéo về một chiếc ô tô hiệu Alfa-Roméo của Ý, giá 11.000$, mắc gấp đôi xe Hotchkiss giá 4.000, mắc gấp ba xe Citroen bảy chỗ ngồi, hoặc FIAT mui kiếng limousinet bốn chỗ ngồi giá 2.700$.

Cô Ba kéo xe về, Franchini bảo cô Ba đem xe ra ngay đường Catinat để “khai quang điểm nhãn” bằng một chai champagne. Giống như lễ hạ thủy một chiếc tàu, cô tự cắt dây băng cho champagne đụng vào đầu xe!

Sẵn xe mới cốt ý để khoe ngón phong lưu và cũng nhờ thế lục của Franchini, cô Ba Trà sang tận Cao Miên mở sòng bài. Người ta đồn rằng cô thua bài quá nhiều nên đi vơ vét các tay chơi ở tỉnh!

Đến hồi vận đen, cô Ba đã có lần tự tử nhưng được cứu sống tại nhà thương cấp cứu trên đường Bonard (Lê Lợi). Đó chính là Bệnh Viện Sài Gòn do Chú Hỏa xây dựng và sau này là Trung Tâm Cấp Cứu, xế bên chợ Bến Thành.

Cũng trong thời kỳ chung sống với Fanchini, cô Ba gặp một người con gái đến làm quen trong rạp hát. Ba Trà vừa giận vừa vui với câu cô gái nhắc lại lời của mẹ mình: “Thà làm đĩ, ra chơi bời như cô mới đáng gọi là gái ngoan!”. Theo mô tả của Vương Hồng Sển:

“… Đây là một cô gái mơn mơn đào tơ hết sức trẻ, tròn trịa như con chim chàng nghịch óc cau đầu mùa lúa trổ, ngực tròn như cặp tuyết sơn muốn xé hàng sọc dưa rằn ri tung ra, trán thấp có mở tóc quăn xoắn che lúp xúp ngỗ nghịch nhiều hơn phục tùng, cặp mắt mơ màng tình tứ, nhứt là cặp môi dày đỏ mọng, nửa mời mọc nửa khiêu khích, đúng là một con đĩ mén mất dạy, ăn nói như hồi nãy, nhưng mặn mòi duyên dáng một cách rừng rú, khiến không giận được với con “ba trợn” nầy. Sau rõ lại nàng ta từ Nam Vang xuống, cha Cơme, mẹ người Sa Đéc, có chút “pra hóc” (mắm bò hóc) pha với chút sắc bén của gái Nha Mân xưa từng được Cao Miên tuyển vào cung vua đàng Thổ, thảo nào!”

Ba Trà đem cô nầy về, anh Franchini không nói không rằng, vui vẻ chấp nhận. Nhân đi xem tuồng chớp bóng sau đó, thấy trên màn bạc một nữ diễn viên Pháp duyên dáng và có hình dáng giống giống cô gái nên anh đặt tên cho cô là Marianne (tên cô đào trên màn ảnh), để đối với tên của cô Ba là Yvette. Lại còn đặt tên cô là thứ tư, Tư Nhị, chớ Nhị vốn thứ hai, con cả đầu lòng xứ Nam Vang ăn mắm bò hóc!

Từ đó, vòm trời Sài Gòn mọc một ngôi sao mới, tuy không sáng chói bằng sao Ba Trà, nhưng đối với khách ham lạ, ham trẻ thì Tư Nhị Marianne vẫn mới vẫn giòn, vẫn mát da mát thịt hơn, dầu gì cũng mới.

“Nhị đào vẹn vẻ đường tơ,
Trà mi kia đã sởn sơ gần chiều”.

Vương Hồng Sển là một trong số ít nhà văn thời VNCH nhưng vẫn có sách xuất bản sau năm 1975. Sự nghiệp văn học của ông khá đồ sộ với hàng chục tác phẩm đã xuất bản, trong số đó có một số sách khá nổi tiếng như Thú Chơi Sách (1960), Sài Gòn Năm Xưa (Tập I, II – 1960; Tập III – 1992), Hồi Ký 50 Năm Mê Hát (1968), Phong Lưu Cũ Mới (1970), Thú Chơi Cổ Ngoạn (1971), Hơn Nửa Đời Hư (1992).

Thực ra, “Sài Gòn tạp pín lù” không chỉ “vô hà trật tự” theo ông tự đánh giá… mà văn phong còn lẩm cẩm và lủng củng nữa. Nhiều ý tác gỉa cứ lập đi lập lại, chẳng có đầu có đuôi. Rất nhiều độc giả đã rất thất vọng khi đọc cuốn sách…

Có thể ông viết khi tuổi đã cao nên có phần nào lẩm cẩm. Sách được xuất bản lần đầu năm 1992, lúc đó ông Vương Hồng Sển đã là một cụ gìa 90 tuổi rồi nên việc ông có lẩm cẩm, viết lách “vô hà trật tự” thì cũng là điều dễ hiểu.

Có những chuyện ông đã viết ở phần trên, nhưng rồi ông lại lập lại chuyện đó ở chỗ khác. Có thể nhà xuất bản đã in sách của ông chẳng qua chỉ vì cái tên Vương Hồng Sển đã nổi tiếng, nhiều người biết đến.

Trước đó, ở Miền Bắc có “ông vua phóng sự” Vũ Trọng Phụng với những tác phẩm về “chị em ta” như Làm Đĩ, Lục Xì, Kỹ Nghệ Lấy Tây… nhưng đó chỉ là cách viết phóng sự về mặt trái cuộc sống ở Hà Nội.

Dù sao đi nữa, với thành tích “hơn nửa đời hư”, Vương Hồng Sển đã đưa người đọc vào thế giới phấn son, cũng nhờ vậy mà ngày nay ta có thể ung dung ngồi đọc những dòng hồi ký của những người đẹp để phần nào hình dung được thế giới ăn chơi của Sài Gòn xưa.

Share this post