Sài Gòn Tạp Pín Lù – Vương Hồng Sển (Phần 21)

Chương 60: 10. Lạm phát điệu tẩu mã (linnation galopante)

Nhà nước Sô Viết tuy tóm thu quý kim và chỉ tệ (bạc giấy) và thủ tiêu giấy khoán (giấy nợ) và động sản giá khoán, nhưng vẫn giữ lại (của nhóm tư bản) bản khắc đế in giấy bạc (planche à billet). Lạm phát đó càng lên cao hơn cũ: octobre 1917, có 19 milliards giấy rouble lưu hành. Một năm sau, leo lên 51 tỷ, rồi lên 147 tỷ vào octobre 1920, qua tháng octobre 1921 là 4 trillions rưỡi, rồi 17 trillions đầu năm 1922 qua hơn 2 quadrillions đầu 1923, lên 225 đầu 1924, và 810 vào tháng mars 1924. (Trillion là một triệu triệu; quadrillions là nghìn lần trillion, những số nầy quá sức tưởng tượng của tôi, và nước Việt “Phú hữu tứ hải” của đời xưa, ngày nay dân tân thời Việt, nghe mà chưa tưởng tượng hình dáng số tiền nầy nổi). Đây là chưa kế đến số giấy bạc phát hành của những địa phương riêng, in ra. Nay thống kê những giấy ấy có đến 2.000 nơi xuất phát: Nào 42 ở Ukraine, 325 ở Bắc Caucase, 217 ở Transcaucasie, 235 ở Asie centrale, và 547 ở Sibérie orientale… Trên vài thứ giấy bạc nầy, có in câu “Ce billet est garanti par la tête de celui qui le refusera” (giấy nầy có sự đảm bảo bằng thủ cấp kẻ nào từ chối không nhận dùng). Chánh phủ, nhà nước trung ương, vẫn nhắm mắt để làm, một phải chăng vì vô hiệu lực, hai nữa là sự lạm phát phụ trội nầy vẫn ở trong lằn mức của mình muốn có (soit par impuissance, soit parce qu après tout cette inflation supplémentaire sert ses desseins de subversion).

Sự kiện thấy rõ ràng là Mạc Tư Khoa muốn cho cuộc tan rã vấn đề tiền tệ lối cũ, sẽ là vừa một phương pháp làm tàn mạt bọn koulaks chuyên làm giàu phi pháp và giỏi chôn dấu bạc giấy cũ trong ve chai, (lời của Lénine), và cũng vừa làm tiêu tan nhóm trưởng giả chuyên ky cóp dành dụm. Thật là vẫn không bứt rứt lương tâm cũng không chút tiếc hối khi chánh phủ nhà nước phát hành giấy bạc, và còn thêm rằng; “Mỗi năm sẽ thêm một con số zéro vào số giấy bạc đã in năm rồi, và làm sao cho một đồng rouble năm nay sẽ hoá ra 10, năm kế, rồi 100, rồi 1.000 và tiếp tục như vậy mãi mãi, tức là nhà nước có quyền muốn thêm mấy con zéro theo ý muốn cũng xong, và không có gì cấm cán nhà nước in trên tờ giấy bạc, hoặc 10 roubles, 10 triệu roubles, để rồi dùng 10 triệu roubles ấy mua tỷ như một cân củ hành Tây hoặc mua một đôi giây cột giày nơi thị trường tự do. Đối với chánh phủ xã hội chủ nghĩa, việc như vậy chẳng có chi là tai hại, thảm hoạ gì cả”

(Il est clair, en effet, que Moscou voit dans la décomposition du système monétaire le moyen, non seulement de ruiner “les koulaks qui se sont enrichis et qui ont enterré des boutailles remplies de billets” (Lénine), mais aussi d anéantir toute la bourgeoisie épargnante. C est sans remords et sans regrets, à des fins d épuration sociale, que l Etat envisage d émettre du papier et d ajouter “chaque année un zéro et plus à la valeur nominale des billets émis, afin que ce qui coûts aujourd hui un rouble, en vaille dix l an prochain, puis cent, puis mille et ainsi de suite… Le gouvernement pourra ajouter sans inconvénients autant de zéros qu il voudra. Bien ne, s oppose à ce qu on inscrive sur les billets de six roubles, dix millions, et qu on donne ces dix millions pour avoir une livre d oignons ou une paire de lacets sur le marché libre. Il n y a rien là-debans de catastrophique pour l Etat socialiste.” (La révolution sociale et les finances). (Trích trương 208 sách Onze monnaies plus deux của R. Sédillot).

Tuy vậy, nào ngờ với cái lối đùa nhỏ nhặt ấy, chánh phú Xô viết đã bị nước ăn lơ bờ. Tưởng rằng có sẵn khuôn giấy bạc, cứ in lún xác xài cho phí sức và tự mình làm chủ cuộc khiêu vũ ăn mừng (mener la danse), ngờ đâu in không kịp với vật giá leo thang (viết ngày 7-12-1983). Mạnh và bạo như Nga Xô viết, lật đổ Nga hoàng cái một, mà không làm sao được với vấn đề tiền tệ trong nước. Tôi không dám nói rằng giải quyết chưa xong, vì nào có qua bên xứ họ mà biết, duy cứ theo sách ghi lại, vả lại sách cũng đã xưa, không theo dõi vấn đề hiện tại, sách của Ren Sédillot đã dẫn, thuật tiếp như sau: (trang 209)

Dân chạy mặt bạc giấy in ra nhưng cái sợ của dân lại mạnh hơn cái máy in giấy rouble. Máy móc đã thua tâm lý, chánh phủ đã không cầm cương nổi và đã ngậm hàm thiếc vào mồm, như con ngựa chứng phải phục thiện? Năm 1918, vật giá leo thang 2 hoặc 3 lần cao hơn sự phát hành; Năm 1919, hơn 3,5; năm 1920, hơn 4 lần. Nếu định chừng số giấy in ra và sức mua sắm của những giấy nầy, tỷ dụ bằng con số 100, thì năm 1916, con số ấy là 170, để rồi tuột xuống năm 1917, là số 131, kế sụt xuống năm 1918, số 55, qua năm 1919, còn 16, rồi năm 1920, dưới 4, qua năm 1921, dưới số 3 và năm 1924, chỉ còn 0,6.

Tính theo roubles davant-guerre (tiền chiến), thì 1 triệu (ùn million de roubles) giá trị đầu mỗi năm, là: 40.000 (năm 1917); 48.000 (năm 1918); 6.000 (năm 1919); 413 (năm 1920; 60 (năm 1921); 3,5 (năm 1922); 0,05 (năm 1923) và ngày 10 mars 1924, chỉ còn đáng 2 millièmes de kopeck.

Sự lạm phát tấu mã ấy kéo dài suốt bảy năm trường. Câu nầy tôi đề y nguyên văn:

L’innation galopante a duré sept années. Elle a multiplié les moyens de paiement par 50 millions. Elle a effectivement dépossédé féodaux et bourgeois – tous ceux qui ont pas émigré vers Paris et Londres, en emportant ce qui leur resie de joyaux. Elle a réalisé le plus grand bouleversement de fortunes de l histoire du monde” (trang 209). Nhưng tôi mâu thuẫn lấy tôi và nay tôi dịch cho các bạn không đọc được chữ Tây: “Sự lạm phát chạy đua ấy đã nhơn lên 50 triệu lần, lối, phương pháp tra tiền. Lạm phát nầy làm cho bọn phong kiến và bọn trưởng giả, đứa nào không khéo sớm biết tiên liệu ẵm nhành thầu, ngọc ngà châu báu, chạy trốn qua Paris hay Londres, thảy đều sạch sành sanh (trụi lủi, không còn một sợi lông, câu nầy tuy tục nhưng mạnh hơn) đó quả là một xáo trộn vĩ đại về tài sản chưa từng thấy trong lịch sử thế giới!

Chương 61: 11. Monnaies de remplacement (Tiền tệ để thay thế)

– Bài nầy lẽ đáng, không nên viết làm chi, vì nói làm sao cho đầy đú nổi, – nhưng xét lại, mặc dầu không cạn tàu ráo máng, cũng nên ghi lại phòng hờ sách của tôi một ngày kia sẽ có chưn biết chạy:

“Trong khi đồng rouble mất giá, người Nga đã nghiên cứu vấn đề tìm một thứ gì để thay thế là: valeurs-relùges, đối với tiết kiệm, và monnaies de secours, đối với tiền trả cho nhau (pour les règlements). Ban đầu, họ nghĩ ra và lấy hàng hoá thông thường làm bản vị, để đối với nạn hút kém càng tăng. Như ở Mạc Tư Khoa, vào năm 1920, muối ăn (sel) thay thế cho tiền. Đứng hàng nhì, hàng ba, sau muối, là bột mì, bánh mì, thịt cả, khoai Tây. Miệt đồng quê nhứt là ở Ukraine, năm 1922, lấy seigle (lúa mạch) làm căn bản thế tiền gọi “Rouble-seigle”, chính các công ty của chánh phủ, như ký nghệ gỗ, cũng dùng roubles-seigle trong bút toán.

Nơi các chỗ khác, thì lựa dầu hoá, dầu bông quỷ (huile de tournesol), vải bông thay cho tiền. Vấn đề đổi chác (troc) của người Nga muốn áp dụng không được thành công, và trớ lại hình thức kinh tế thời kỳ sơ khai (économie primitive). Trong lúc ấy và chạy theo song song là mấy đồng tiền vàng xưa (veilles pièces d or) lại ló mặt và phục hồi giá trị cũ. Theo nguyên tắc thì đã bị huỷ bỏ hoặc bị trưng thu, nhưng sự thật, người dân Nga nhà quê vẫn trọng và quý và gìn giữ cấn thân đồng tiền cũ của Nga hoàng, vì họ xem nó có giá trị hơn tờ bạc giấy của Sô Viết. Đồng tiền vàng vẫn đem ra dùng nơi các bến tàu, nơi xứ Transcaucasie, nơi hóc bà tó Tây Nga (confins occidentaux de la Russie), và vùng Đông Á (Extrême-asie). Nơi một hãng kỹ nghệ lớn ở Moscou, thấy thợ nài trả bằng vàng. Nhiều cơ sở của chánh phủ bắt đầu dùng tiền trở lại. Nếu chánh phủ không ngăn và cứ để cho làm, thì ắt đồng tiền bằng kim khí sẽ hồi sanh lấy nó. Rồi, những ngoại tệ, theo nguyên tắc là cấm, cũng nhảy ào vào thị trường. Ai lại chẳng ưa và có ai lại từ chối không nhận đồng đô la Mỹ, đồng sterling của Ăng Lê, nơi các tỉnh ngoại biên Nga, như Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, A Phú Hãn, Trung Quốc, Nhựt Bản, thảy đều thích xài tiền của họ hơn là tiền rouble của Nga.

Mạc Tư Khoa bèn phản ứng, nhưng ngầm nhìn nhận chưa bỏ tiền tệ được (Il est impossible dabolir la monnaie). Năm 1921, Uỷ Ban Nhơn Dân bày “étalon travail”, để theo đúng phương pháp Karl Max. Chọn troud là “một ngày nhơn công” làm bản vị, tiêu chuẩn, nhưng mặc dầu quyền lực của lao động vô sản giai cấp, tiền nầy không được dân chúng thích, nên lại dẹp. Thành thử, phải nghĩ ra cách thức, và thay cho đồng rouble, đã xuất hiện ra, nào là:

– Rouble-marchandise, của nhà băng chính phủ (Gosbank) năm 1921;

– Tchervonetz, (có nghĩa là “sáng” – brillant), năm 1922, trị giá 10 rouble-or, tức 7,74 gram vàng y, hoặc tương đương 5,15 dollards. Từ lối năm 1923, nước Nga có hai thứ tiền tranh nhau: Đồng rouble do ngân khố chính phủ phát hành và tchervonetz do nhà băng Gosban của chính phủ phát hành, cho đến tháng fevrier 1924, ngân khố cho ra rouble “dixième de tchervonetz”.

Năm 1923, tháng Mars, đồng rouble mới (dixième de tchervonetz) trở nên monnaie légale (tiền chính thức công nhận), giá trị ăn 1 đồng mới nầy ăn 50.000 rouble cũ của năm 1923, tức 5 millions rúp 1922, và bằng 50 milliards rúp xưa (1921) vân vân. Luật lệ phát hành trở lại gần y của một nước tư bản, đến đây tôi xin tạm ngừng vì nói thêm nữa chỉ rộn trí người đọc mà chẳng tới đâu vì việc biến đổi hiện thời bên Nga, tôi nào biết chút gì, duy rõ lại, lúc ban sơ chê vàng, không dùng, nay thi đua tìm và khai thác mỏ vàng ở Sibérie, thêm nhiều việc biến chuyển trong nước, nào binh Đức Quốc Xã của Hiler xâm lăng, xáo trộn một lúc, kết cuộc vẫn trong vòng lẩn quẩn, theo tôi là chưa có lối thoát, chung quy, phải đọc nguyên văn sách ngoại quốc, hoạ may hiểu chút ít về vấn đẻ tiền tệ ngày nay của các nước, và đừng đọc những gì tôi viết chẳng qua “ếch nằm đáy giếng, toan nói chuyện trên trời”. Vàng, bạc, tiền đồng, nữ trang, quý kim các loại, không khác “người quân tử” hất hủi, đày đoạ, rồi độc quyền tàng trữ trong tay kẻ mạnh, chắt mót, dành dụm, an ủi, ghét cũng mi, mà thương nhớ cũng mi, vàng bạc kim cương platine, đúng là “inutile” (vô ích) nhưng cũng “irremplacable” (không gì thay thế), làm tội người ta không ít. Bài nầy quá dài và gần lạc đề, nên dành thì giờ đọc và hiểu trở lại về Agonie de l’indochine cua H. Navarre, có lẽ thú hơn (viết 8-12-1983).

Chương 62: 12. Trở lại đọc sách cũ, và về cuốn “l’agome de l’indochine” của tướng H. Navarre

Tôi có tật lớn, hay nói lê thê dông dài, không biết bao giờ dứt, vì đây là tôi nói tôi viết cho tôi đỡ buồn, không khác mấy chị đi gánh nước mướn, vừa gánh gánh trên vai, nhơn thì chạy, miệng vẫn lầm bầm, người bàn cây đề đã xổ, người than nhà đã hết gạo, chồng thì bỏ nhà đi biệt, con lại ốm đau, lại mấy sao đâu? Phải nói cho đỡ…

“Ngồi buồn khuấy nước giỡn trăng, nước xao trăng lặn buồn chăng hỡi buồn!”. (khuấy hay quấy, vọc hay chọc, xao hay dao, cũng không quan hệ, miễn nhớ cho buồn vẫn là buồn), ông Navarre nầy cũng vậy. Ông được cử qua đây cầm đầu đạo binh viễn chinh, đánh cầm cự đã hơn bảy tám năm, đánh cù nhầy không thấy thắng nổi, nay về tay ông chấp chướng, thì chẳng bao lâu xảy ra trận bại chiến lớn nơi Điện Biên Phủ, thôi rồi công lao hạng mã bấy lâu, chỉ còn lại danh “tướng bại trận”…, viết đến đây khiến tôi nhớ “bắt quàng, qua bài thơ tương truyền là của phò mã Trị, đời Tây Sơn làm khi thua trận, bài thơ ấy tôi đã có kể rồi nay xin lặp lại nơi đây:

Miệng sành thơ

Sa cơ một chút hoá tan tành,
Thiên hạ đều kêu cái miếng sành.
Sắc lém như gươm người gớm mặt,
Rán sao ra mỡ chúng hay danh.
Ghe phen sắp cật nằm trên cát,
Có thuở làm chông đứng vách thành.
Chuông khánh dầu ai không dám sánh,
Gõ chơi cũng có tiếng canh canh!

Độc giả nên xem lại lời chú thích trong quyển 3 bộ Hiếu Cổ Đặc San, trang 41, ở đây tôi chỉ cần nêu thêm tâm sự ông Navarre nầy không khác, cũng như việc gần đây, tôi xin nói luôn, để so sánh: Vừa rồi, ngày 2-12-1983 mới đây, sáng sớm, tôi còn ngồi nơi sân sau nhấp chén trà buổi thanh tâm, bỗng có một người đến nơi cổng sân, tần ngần ngó ngay mặt tôi, nửa cười nửa như quen thân lắm, xưng “Đại Tá Tư”, tôi nhìn không ra, lật đật mời vào, rót trà mời (nhưng khách đi rồi, chén trà vẫn còn nguyên), khách hỏi tôi “đồ xưa ắt làm gì xài cho hết?”, tôi cẩn thận đính chính “xưa nay, đó là vật sưu tập cùng và nưng niu như vợ bé”, chưa từng bán chao hay gá đợ một cục yêu nào”, tôi tình thật hỏi, khách nói cho một hơi không ngừng: “Đi cải tạo ngót bảy tám năm, năm tháng chỗ nầy, mấy tháng chỗ nọ, vân vân và vân vân hại thay tôi vẫn bơ phờ không nhớ rõ đã từng gặp hay quen ông nầy nơi nào, khách hói thêm một câu: “Đã ghé nhà bà Phước Mỹ, nhưng bà đã từ trần”, nói xong khách từ giã cho biết sẽ ghé quê là Cà Mau, nhưng cũng chưa biết nhà cửa còn chăng, và khi ra khỏi cổng, khách nói với: “Nếu mà không còn, thì còn nhà bà con thân quyến”… khách đã ra về mất dạng, tôi vờ vẫn mấy ngày rừng đào óc tìm không ra danh tánh ông nầy, mãi đến chúa nhựt 4-12, có người cho tôi rõ, thì đó là cựu tỉnh trưởng Gia Định trước đây, một nhơn vật chầu gần đây đồng cánh ngộ phò mã Tây Sơn và ông tướng Pháp thua trận Điện Biên Phủ, có lẽ anh hùng lỡ vận lại rủi gặp thằng chơi đồ xưa vận lỡ! (viết 9-12-1983).

Theo chỗ tôi nhận xét, tướng võ H. Navarre có một giọng văn rất sạch, đanh thép rất “kẻ cả”, tỷ như khi luận về ông tướng Hinh ở Việt Nam (trang 139), rõ là giọng đàn anh, và trọn cuốn sách – ông bị chê là tướng bại trận, nay phải biện minh việc làm của mình, ông dùng toàn lời thanh và giải bày tường tận, không phải dành cho độc giá tầm thường, mà ý ông là nhắn gởi vào chính trị gia, nghị viên và nguyên lão nghị viên, tuy giỏi về “chinh chị chính em”, nhưng việc binh pháp đánh giặc, chẳng hiểu mô tê gì cả đã làm cho nước nhà hao binh và thua trận Điện Biên, lại trút tội cho ông, giọng của ông, theo tôi là giọng phò mã Trị, rủi tay một phút hoá ra miệng sành, nhưng gõ chơi cũng có tiếng canh canh. Trong sách có nhiều danh từ chuyên môn, tôi không hiếu hết thì làm sao dám đặt bút phê bình, – tóm tắt phải đọc trang 48 so sánh binh Tây và lính Cộng, trang 72 nội các ở Paris muốn thâu gọn chi giữ Cochinchine, trang 100 nói về sự dụ dỗ lính Tây qua đây đánh giặc, cho gởi tiền về xứ, 1$ gởi đi qua Pháp lãnh 1$ ăn 17 quan, đến nơi trả theo thị trường 1$ ăn 10 quan, bọn lái bạc thừa nước đục thả câu làm giàu trong nhấp nháy, trang 18, ông tự hỏr “biết khó thắng, sao không từ chức” – và ông tự trả lời mình là con nhà tướng, lịnh trận sai đi đâu thì dầu chết cũng không giờ từ nan, trang 220 tả cuộc chiến Điện Biên Phủ, trang 229 về nhà báo nói xấu quân đội mà chánh phủ làm ngơ, trang 272, lịnh Paris dạy ông nên đánh cho địch thủ biết lợi hại dường bao mà không cần “đánh thắng”, tôi nói ông thanh nhã, vì tỷ dụ trong quyển sách, ông không giờ quy tội “đánh thua” cho ông Pinay, vì nể ông nầy lúc “làm thủ tướng”, nhưng vì sau đó ông nầy viết sách toan trút tội cho “tướng cầm binh” (tức chính ông H. Navarre), nên ông thẳng tay trả lời đính chính từng ly từng chi tiết nhó (xem bài “Pépolsa à Mie Présiden A. Pinay”, nơi mấy trang chót từ trang 307 và nhứt là nơi trang 320: ông nói thật ra hết: nước Pháp thua, vì chánh phủ không giữ vững lập trường, nói đúng ra là “thiếu lập trường”, suốt tám năm “sai qua đây chống đánh với quân phiến loạn”, 1) Từ đầu chí cuối, không có tôn chí hoặc có mà không chịu nói rõ ra cho người cầm binh rõ biết, 2) chánh phủ không dám nói cho dân chúng Pháp biết là có chiến tranh ở Đông Dương, 3) chánh phủ không biết cắt nghĩa và khuyên dân hết lòng giúp chánh phủ tẩy trừ giặc loạn, và sau đó, chánh phủ không biết giải quyết vấn đề “cầu hoà”, 4) Chánh phủ không đủ nghị lực để đưa một đường lối cho các “quốc gia liên hiệp” hay cộng lực với mình, phải ráng chịu đựng trong chiến tranh và 5) chỉ biết ngày theo ngày, giải quyết lần hồi “việc quốc gia đại sự” bằng phương pháp tạm bợ và vẫn không theo kịp sự biến chuyển của thời cuộc, 6) chánh phủ không can đảm, miệng nói bôi bỏ vấn đề “thuộc địa” mà bề trong muốn thuộc địa còn tồn tại như xưa, 7) Chánh phủ không trung tín và giữ lời với liên bang Đông Dương, tính thế nước Pháp là nhà đã sạch tiền, dân chúng thua Đức vẫn chưa lại nghỉn (đau mới mình), vết tích chưa lành, mà toan cướp nước của dân bị trị xưa để làm thuộc địa như cũ hứa với Lào – Miên – Việt bằng cách “cho ăn bánh vẽ”, đưa tay cầu cứu xin tiền xin máy bay đạn dược của Mỹ mà vẫn sợ Mỹ đoạt cái núm vú béo bổ ở Đông Dương, thiên thời (không có máy bay), địa lợi (không phục thuỷ thổ và không biết rành địa thế), nhơn hoà (không có, vì dân Đông Dương đã chán cảnh làm mọi ngày xưa), trong quyển sách, tướng Navarre than câu đau đớn: “Quyển dạy về binh thơ chiến lược “de la Guerre” của Carl von Clausewitz người Việt Minh từng đọc và thuộc làu hơn các ông trong Nội các ở Paris, giỏi tài đổ thừa, ông đã xin đủ binh đủ khí cụ, đã làm ngơ hay cho đã quá trễ, nay nhà sụp đổ là tại nhà thầu cung cấp thiếu xi măng, không nên trách kiến trúc sư kém tài xây dựng! Thuở nay đang giao chiến mà Nội các mở hội nghị nào ở Berlin, nào ở Genève, làm ngả lòng quân binh, không bại trận sao được?

Tôi đây “hơn nửa đời” làm mọi cho Tây mà vẫn bị đè đầu không cho trồi lên, tôi không biết nịnh hót, và nếu trong bài nầy, tôi có ý cũng chê mà cũng có đề cao người chủ cũ, là ý tôi hiểu mình “thắng được họ ở Điện Biên Phủ là đúng với câu của Tú Xương: Xưa nay em vẫn chịu ngài, và càng khen mấy ông thầy dạy nghề võ mà bị mớ học trò cũ và tay ngang cho đo ván, mới phải điệu người ăn ngay nói thật (viết ngày 11-12-1983).

Bên Pháp, nội các thay liền liền như thay áo, chánh phủ là bè phái phe đảng thay nhau lên cầm quyền, việc bọn họ thì rối như tơ, tiền không có mà muốn giữ mãi thuộc địa! D’Argenlieu thì muốn cho còn đạo Gia-tô, các tướng khác qua đây, đánh giặc mà binh không đủ dùng, binh khí, máy bay, xe tăng, tàu chiến phải chờ xin Mỹ, mượn Anh, vân vân, mãi chần chờ mà con hổ trong rừng thêm nanh thêm vuốt, làm sao thắng nổi? Valluy và Morlière, thì bất hoà nhau, quen hầm hừ mà con mồi chạy vuột. Salan, từng dẫn đạo Bác Hồ qua Pháp, từng đóng vai phó tướng cho Leclerc, de Lattre, Fly, v.v…, già kinh nghiệm, biết nhiều về Đông Dương, vì lấy tin tức, cơ mật bên địch là vẫn chung quanh bàn đèn, như ở nhà lão thầy rùa Marius Chevanieux, hoặc do mấy ông cố đạo nhờ con chiên mách lối: Gomez, Drapier ngoài Bắc, còn trong Nam thì lợi dụng tôn giáo, nào Hoà Hảo, nào Cao Đài, một chạy máy tàu mà đưa lên làm soái là Năm Lửa, không ngần ngại dùng luôn dao búa, du côn Bảy Viễn, Bình Xuyên, trông mong gì thắng người bên kia, lúc đầu một mảy của dân không phạm, làm như “hành chánh đạo”, “cứu quốc”, “đem độc lập về non sông tổ quốc”, trước đuổi Tây sau rượt Mẽo, dân theo rầm rầm. Trong khi ấy bên Pháp, hết Lon Blum, đến Ramadier, rồi nào Robert Schuman, kể không xiết một nội các, ngày 5 juin tuyên bố nhìn nhận Bảo Đại, rồi qua ngày 8 juin, cũng nội các ấy đem ván bài Bảo Đại ra bàn cãi lại, thảo nào? Trương 151, hồi ký Salan hạ câu: “c est à n y rien comprendre” tôi xin dịch “Có ông Trời mà biết”? Trương 136, báo tin Nguyễn Bình, có lịnh đòi gấp về Bắc, trong khi lội đường rừng, tới rú Srepok, bị một viên đạn lạc của một tên lính quèn Đàn Thổ mà chấm dứt cuộc đời phong ba oanh liệt. Số vua Bảo Đại chinh chông đã đành, số tướng Salan cũng không hơn. Ông tướng nầy mãi xin viện trợ hoài hoài mà làm phật lòng Paris, nên Paris bèn sai Blaizot qua thay, – việc quốc gia đại sự mà giải quyết “như bọt xà bong”. Bên võ như vậy mà bên văn cũng thế ấy: cặp Bollaert/Salan rút về, cặp Pignon/Blaizot qua thay, và vẫn “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Năm 1946 lúc còn trên đất Ấn, thì Blaizot là chủ, Pignon thuộc dưới quyền, qua năm 1949, ở Đông Dương thì Blaizot lại đặt dưới quyền Pignon, cho nên không thể nào thuận thảo nhau được. Paris sai tướng Revars sang một vòng xem xét tình hình, chuyến về Paris, vẫn đòi gấp rút cấp thêm lính và thêm binh khí cho Đông dương, y một kẻ của Sa lan, nhưng lấy đâu mà cấp vì bên ấy vẫn thiếu người thiếu của, tình hình sau trận chiến 1939-1945, Pháp vẫn như người đau mới mạnh. Thiên “chuyện cũ kể lại” nầy không dám dài dòng, nhại lại các sách khác đầy đủ và hấp dẫn hơn nhiều, tóm tắt lại: Pháp muốn duy trì thuộc địa để có chỗ cho con cháu “làm ăn”, còn ta thì một một hai hai, quyệt trừ dứt nạn “làm tôi cho nước khác”, chung cuộc: các con cờ hay, Pháp đều đem ra dùng: một nhà tu “hạ san” khoát áo nhà binh chỉ làm chết một bác sĩ bỏ nghề ra làm chánh trị, d’Argenlieu làm sao tu cho thành? Kết quả cho thấy, hai tướng có thành tích lớn: Leclerc và de Lattre đều bỏ mình, và hai con dòng dõi “gạo cội” vẫn bỏ thây chiến trường: Bernard de Lattre chết ngày 30-5-1951, Henri Leclerc de Hauteclocque, ngày 3-1-1952, và theo một sách tôi đã đọc, nhớ chính tướng de Lattre, lúc sắp tắt hơi, câu trên môi “Bernard, attends moi” (Bernard, chờ cha đi với) cây nầy khiến tôi tự hỏi “phải đúng con người có linh hồn rõ ràng và đây là hồn cha nhớ con quyết theo con”.

(Còn tiếp)

Share this post