Tại Sao Stephen Hawking, Người Vô Thần Nổi Tiếng, Có Mặt Tại Một Học Viện Giáo Hoàng – Andrea Gagliarducci

Tại Sao Stephen Hawking, Người Vô Thần Nổi Tiếng, Có Mặt Tại Một Học Viện Giáo Hoàng – Andrea Gagliarducci

Stephen Hawking thăm Vatican tuần này đã làm tăng sự tò mò, có người thắc mắc là nhà vật lý thiên văn nổi tiếng và tự xưng vô thần này chính xác đang làm gì ở trung tâm Giáo Hội Công Giáo.

Nhưng đối với Vatican, chuyến thăm của ông không có gì khác thường. Hawking là một thành viên của Học Viện Giáo Hoàng về Khoa Học – trong đó có 80 nhà khoa học xuất sắc nhất thế giới – và ông có mặt ở thành phố Vatican cho cuộc họp hàng năm của nhóm.

Hội nghị năm nay tập trung vào “Khoa Học Và Tính Bền Vững.” Chính Hawking đã có buổi nói chuyện về “Nguồn Gốc Của Vũ Trụ”, một chủ đề đã khiến ông nổi tiếng trên thế giới.

Niềm tin tôn giáo – Công Giáo hay gì khác – không phải là một tiêu chuẩn để trở thành thành viên của Học Viện Giáo Hoàng. Chủ tịch của nhóm, Werner Arber, một cựu khôi nguyên giải Nobel Y học, là một người Tin Lành. Và các thành viên của học viện là những người Công Giáo, vô thần, Tin Lành và thành viên của các tôn giáo khác.

Chính sách thành viên cởi mở này tồn tại vì Giáo Hoàng Học Viện được quan niệm như là một nơi mà khoa học và đức tin có thể gặp gỡ và thảo luận. Nó không phải là một diễn đàn thú tội, nhưng là một nơi có thể có một cuộc thảo luận cởi mở và kiểm tra các phát triển khoa học trong tương lai.

Học viện được thành lập năm 1603 bởi Hoàng Tử Federico Cesi với phép lành của Giáo Hoàng Clement VII, và vị lãnh đạo đầu tiên của nó là Galileo Galilei. Khi Hoàng Tử Cesi chết, học viện đã đóng cửa. Đức Piô IX lập lại nó vào năm 1847, nhưng rồi học viện đã được đặt gọn trong Vương quốc Ý sau sự sụp đổ của nhà nước giáo hoàng. Năm 1936, Đức Piô XI lập lại học viện một lần nữa, đặt cho nó tên hiện tại và một đạo luật được cập nhật năm 1976 bởi Đức Phaolô VI và rồi cập nhật một lần nữa năm 1986 bởi Đức St. John Paul II.

Lược qua danh sách các thành viên của Học viện trong những năm qua, người ta có thể tìm thấy nhiều khôi nguyên giải Nobel, một số trong họ đã là thành phần của Giáo hoàng Học viện khi họ được giải thưởng, một số khác đã đoạt giải sau khi họ là thành viên của Học viện.

Trong số những khôi nguyên đã là thành phần của Giáo Hoàng Học Viện đoạt giải Nobel là Niels Bohr, Rita Levi Montalcini, Werner Heisenberg, Alexander Fleming, và Carlo Rubbia.

Theo Đức Tổng Giám Mục Marcelo Sanchez Sorondo, chưởng khế của học viện thì thời kỳ của những năm 1930 là một trong những thời kỳ “thú vị nhất của học viện.”

Một trong những thành viên trong thời gian đó là Max Planck, đoạt giải Nobel Vật Lý năm 1918 và khởi xướng các nghiên cứu về vật lý lượng tử. Chính Max Planck là người đã cảnh cáo Đức Piô XII về những hậu quả có thể có của chiến tranh nguyên tử.

Cảnh báo của Planck lấy cảm hứng từ một số giáo huấn của Đức Piô XII. Phát biểu tại Học Viện Giáo Hoàng về Khoa Học ngày 30 tháng 11 năm 1941, đức giáo hoàng nói rằng “chiến tranh xé rách thế giới và sử dụng tất cả các nguồn công nghệ có sẵn để tiêu diệt nhân loại”. Đức giáo hoàng ghi nhận rằng khoa học có thể là con dao hai lưỡi trong bàn tay của con người, nó có thể vừa chữa bệnh vừa giết người. Ngài đề cập đến sự “mạo hiểm kinh ngạc của con người dấn thân vào các nghiên cứu về năng lượng hạt nhân và biến đổi hạt nhân”.

Sau đó, qua bài phát biểu với cùng học viện ngày 21 tháng Hai năm 1943, Đức Piô XI đã kêu gọi những người đứng đầu nhà nước: “Mặc dù chúng ta không thể vẫn nghĩ rằng để tách cái lợi kỹ thuật ra khỏi quá trình bão tố (nguyên tử), chính quá trình này trải đường cho một loạt các cơ hội, do đó khả năng xây dựng một bộ máy dùng năng-lực-uranium không thể đơn thuần coi là một điều không tưởng “.

Đức Thánh Cha nói thêm rằng “điều quan trọng là không để cho quá trình này xảy ra, mà là để ngăn chặn quá trình với các phương tiện hóa học thích hợp,” bởi vì “nếu không thì một thảm họa nguy hiểm có thể xảy ra không chỉ ở nơi đó, nhưng trên toàn bộ hành tinh”.

Các cuộc họp của Học Viện Giáo Hoàng về Khoa Học thảo luận về chủ đề trọng yếu nhất của khoa học. Ví dụ, Giáo Hoàng Học Viện đã thảo luận về “Higgs boson” nhiều lần. Các hạt cơ bản cuối cùng được khám phá vào năm 2015, nhưng các nhà khoa học của CERN ở Geneva đã tiên đoán khám phá này đã xảy ra tại một cuộc họp năm 2011 về vật lý hạ-hạt-nhân (subnuclear) tổ chức tại Casina Pio IV, trụ sở chính của học viện.

Trong một ý nghĩa nào đó, học viện là một cầu nối giữa khoa học, đức tin và thế giới. Nó chứng tỏ rằng kiến thức khoa học không loại trừ sự hiện diện của Thiên Chúa.

Đức Tổng Giám Mục Sanchez nói: “Nhà khoa học phát hiện ra những điều ông ta đã không đặt ở đó. Hỏi xem ai đã đặt những điều đó là một câu hỏi thần học: các nhà khoa học chỉ phát hiện ra chúng, người tín hữu nhìn thấy trong đó sự hiện diện của Thiên Chúa”.

Đức tổng giám mục cũng đã kể lại rằng ngài hỏi Hawking làm thế nào ông có thể khẳng định rằng Thiên Chúa không tồn tại, nếu ông đã đi đến kết luận này như là một nhà khoa học hay là dựa trên cơ sở kinh nghiệm của mình trong cuộc sống. Và, ngài nói, “Hawking đã phải thừa nhận rằng sự khẳng định của ông không có gì liên quan với khoa học”.

Đây chỉ là một trong nhiều giai thoại đã phát sinh từ Vọc viện, đưa ra bằng chứng rằng Vatican không phải là một kẻ thù của khoa học, mà còn là nơi mà tranh luận về sự tiến bộ khoa học từ lâu đã được khuyến khích và thúc đẩy tích cực.

Trong hội nghị của mình tại Casina Pio IV, Stephen Hawking bầy tỏ lòng tôn kính Đức Ông Georges Lemaître, chủ tịch Học Viện Giáo Hoàng về Khoa Học từ năm 1960 đến năm 1966. Hawking nói rằng Đức Ông Lemaître đích thực là cha đẻ của “thuyết Big Bang”, do đó bác bỏ niềm tin phổ biến rằng cha đẻ của học thuyết này là nhà vật lý George Gamow quốc tịch Mỹ.

Hawking nói: “Georges Lemaître là người đầu tiên đề xuất một mô hình theo đó vũ trụ có một khởi đầu rất dày đặc. Chính Lemaître, chứ không phải George Gamow, là cha đẻ của thuyết Big Bang”.

Không có gì ngạc nhiên khi Hawking sẽ tham gia một buổi hội thảo ngày 02 tháng 12 đánh dấu kỷ niệm 50 năm cái chết của Lemaître. Sự kiện này sẽ được tổ chức tại học viện của Bỉ tại Ý, và sẽ được kết thúc bởi Đức Hồng Y Gerhard Ludwig Mueller, tổng trưởng Thánh Bộ của Bộ Giáo Lý Đức Tin.

Trương Ngọc Thạch chuyển ngữ

Share this post