Tản Mạn Về Tên Một Ngôi Trường – Nguyễn Văn Sâm

Tản Mạn Về Tên Một Ngôi Trường – Nguyễn Văn Sâm
(TVVN.ORG) Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu hiện nay có một ngôi trường trung học mang tên danh nhơn văn hóa Miền Nam Huình Tịnh Của. Trên bảng tên trường ta thấy: Trường Trung Học Cơ Sở Huỳnh Tịnh Của. Chắc chắn trước khi bảng được dựng thế nào cũng có thức giả đề nghị viết cái họ theo chánh tả của nhân vật mang họ Huình mà ông dùng khi in quyển tự điển thời danh của mình là Đại Nam Quấc Âm Tự Vị. Và kết quả là ý nầy đã bị bác với lý do không hợp với chuẩn chánh tả ngày nay! Sửa mũ mấn người xưa đâu phải bây giờ chỉ có một!

Thôi thế cũng được, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ về một chữ Y dài hay I ngắn trên một cái tên đã quá xa xưa. Có được tên nhà văn gắn trên một trường học là tốt rồi. Còn hơn những cái tên chìm nổi như Lê Văn Tám, Lê Thị Riêng hay ngô nghê hơn như Trường Trung Học Cơ Sở Phường Bảy, Trường Trung Học Cơ Sở Phường Tám… Chắc hương linh nhà làm tự điển lừng danh Huình Tịnh Của cũng đồng ý về điều đó.

Huình Tịnh Của viết nhiều. Quan trọng nhứt là quyển tự điển nói trên. Số mục từ  gồm 71 651, bắt đầu bằng mục từ A cuối cùng là mục từ xụt. Tổng cộng các chữ trong toàn bộ quyển tự điển lên gần 900 ngàn.Con số chữ tròm trèm một triệu vào những năm cuối của thế kỷ 19 khi chữ quốc ngữ mới bắt đầu được dùng cho cả nước, khi chuyện in ấn là cả một sự nhiêu khê về chuyện sắp các con chữ và đúc bản chì cho tới việc phải đúc chữ Hán, Nôm ở Hồng Kông hay đâu đó ngoài nước Việt thì việc cho ra đời một quyển tự điển vĩ đại có thể coi như là đầu tiên Việt-Việt có thêm chữ Hán, chữ Nôm cho mỗi từ thiệt là công trình đáng được đề cao mà một cái tên trường thôi cho cả nước chắc chắn là chưa đủ.

Tôi luôn có bên cạnh bộ tự điển nầy, đầu tiên là một bộ còn rất tốt do thầy mình là nhà chơi đồ cổ và sách xưa Vương Hồng Sển tiên sanh nhường lại vào năm 1961. Bộ nầy bỏ lại ở quê nhà khi chủ nhơn tìm đường vượt thoát vào năm 1979, nay không biết nó đương nằm ở đâu trong nhà một người thích sách nào đó hay đã thoát kiếp nhờ mấy bà bán xôi bán thịt tùng xẻo từng tờ từng tờ! Lúc đó số tiền để thủ đắc tương đương với 4 lượng vàng – vàng lúc đó sao mà quá rẻ! Nay thì vàng đã lên giá nếu còn, ở Mỹ giá cũng qua khỏi  con số một cây!

Mỗi khi dùng Đại Nam Quấc Âm Tự Vị tôi nhớ ơn thầy mình, nhờ Vương sư phụ tôi chuyển hướng đi từ triết học Tây phương sang văn chương miền Nam Việt. Từ đó tôi cũng cảm phục sâu sắc công trình của ông Đốc Phủ Sứ Huình Tịnh Của, người ảnh hưởng rất sớm những gì du nhập của tân trào, nhưng cũng như hiền triết Petrus Ký, không lặn lội vô quan trường mà bận bịu với sách vở văn chương.

Tôi tâm đắc với những định nghĩa của từng mục từ, nhiều khi được định nghĩa hai lần, thường chúng bổ túc nhau, thêm nghĩa cho rõ ràng hơn, nhưng không bao giờ có sự mâu thuẫn.

Thí dụ:

          Chia tay: Chia riêng với nhau.

          Chia tay: Phân bâu; biệt nhau.

hay:  

          Chia phe: Làm phe đảng, không thuận mọi ý.          

          Chia phe: Chia làm nhiều bọn, nhiều đảng.

hoặc:

          Trộm cướp: Dùng sức mạnh, thế mạnh mà lấy của người.          

          Trộm cướp: Cướp giựt, rình người vô ý mà lấy của (cũng là tiếng đôi).

hoặc:

          Trộm phép: Lấy phép riêng mà làm sự gì.         

          Trộm phép: Mạo lệnh quan trên, lấy tiếng quan trên mà làm sự gì.

Tại sao có sự giải nghĩa hai lần?

Ngày xưa người làm tự điển không có những dụng cụ để kiểm tra mục từ nào mình đã giải thích rồi và đã xếp nó ở chỗ khác do đó dễ có sự trùng lập. Mục từ chia tay có giải thích 1 ở từ chia và giải thích 2 ở từ tay. Cũng vậy giải thích 1 từ trộm phép nằm ở từ trộm và giải thích 2 nằm ở từ phép.

Tùy theo cái nhìn của từng người, sự kiện định nghĩa hai lần mang tính ưu điểm hay khuyết điểm. Khoảng đầu thập niên bảy mươi, sinh viên Nguyễn Văn Y trình luận văn Cao Học ở trường Đại Học Văn Khoa Sàigòn về quyển tự điển nầy, coi đó là một yếu tố để ông kết luận rằng Huình Tịnh Của không làm quyển tự điển một mình mà có thêm những người giúp sức. 

Tôi không coi quan trọng chuyện có trợ thủ. Điều quan trọng là tự điển Huình Tịnh Của ghi lại hầu hết những từ ngữ Nam Bộ dùng cho tới cuối thế kỷ 19, ngày nay những từ xưa khó hiểu, nhứt là từ dùng ở Nam Trung phần xuống dưới phía cực Nam đều được tìm hiểu nghĩa từ đây. Đó là một từ điển không thể thiếu của người nghiên cứu/giảng dạy văn học cổ, nhứt là văn học miền Nam. Không thể trích nhiều, chỉ xin đưa ra hai thí dụ chữ tôi đã gặp trong hai tuồng hát bội thế kỷ 19 mà không hiểu nghĩa, phải cầu cứu đến ông Huình Tịnh Của.

Hàng thuyền: Quân chèo thuyền, quân thủy.

Hàng thuyềnHàng quân lính.

Định nghĩa 1 thì ai cũng hiểu, cũng có thể đã biết trước khi tham khảo, nhưng định nghĩa 2 thiệt là có ích lợi, nhờ đó tôi biết hàng thuyền tương tợ như lính tà lọt thân cận dưới quyền sĩ quan chỉ huy một đơn vị nhỏ trước đây.

Chữ tòa khang thì còn khó hơn,

          Tòa khang: Ăn mặc sắc quá, áo quần nhũm nha.

Đây là tiếng chỉ người giàu có, ăn mặc sang trọng theo cách cắt nghĩa ngày nay.

Một vài từ cho đến nay người ta đã hiểu sai và sự hiểu sai đó đương trở thành đúng theo quy luật đa số người dùng của ngôn ngữ. Chẳng hạn từ bát ngát.

          Bát ngát: Áy náy, lo xa.     

          Bát ngát: Lo xa, lo buồn nhiều nỗi.

Vậy thì căn cứ theo nghĩa của tự điển thời rất gần với Nguyễn Du thì câu: Bốn bề bát ngát xa trông phải hiểu lại. Nguyễn Du không chủ ý nói về phong cảnh rộng rãi bao la trước mặt Kiều mà chỉ nhắm tới nội tâm lo buồn nhiều nỗi của nhân vật…

Về chánh tả cũng có nhiều điều hữu lý, chẳng hạn từ chuối và: Ta có 4 từ:

Chuối và hương | Chuối và lùn | Chuối và | Mềm như chuối và hương |

Từ nào cũng viết bằng , tôi chắc chắn rằng loại trái cây nầy có nguồn gốc Nam Đảo, đặc biệt là Java, từ đó có tên , như từ chà-và, cũng như chuối Xiêm có gốc từ Thái Lan mà ngày trước gọi là Xiêm La...

Có nhiều từ lạ đối với chúng ta ngày nay chắc chắn đã xuất hiện cho tới năm 1896 là năm quyển sách được in, nhưng điều đó không có nghĩa là tất cả những từ khó của thời đó đã được ghi nhận.  Chẳng hạntừ quấy chạ thấy trong quyển thơ mỏng Mài Gươm Dạy Vợ của Đặng Lễ Nghi xuất bản ở Sàigòn năm 1914 không có mặt trong tự điển nầy:

Dữ hiền cũng tại nơi ta,

Nơi ta quấy chạ người la người rầy.

Làm đâu khó dễ xưa nay,

Khác nào sợi chỉ lòn rày trôn kim.  (MGDV, trg 14)

Những ‘mục từ’ không có nầy có thể thấy nhiều hơn khi ta đọc tác phẩm của M. D. Chaigneau 1à Thơ Nam Kỳ in ở Paris năm 1876 và quyển kế tiếp cũng của ông là Thơ Tiếp Theo Thơ Nam Kỳ.

Nhưng tự điển dầu được rà soát cách mấy cũng không bao giờ có đủ. Ta thông cảm với Huình Tịnh Của ở điểm nầy.

Nếu bắt khó hơn thì Đại Nam Quấc Âm Tự Vị còn mang khuyết điểm ở chỗ thỉnh thoảng có những mục từ mà tác giả viết chánh tả không đồng nhứt hay những trích dẫn thơ văn quá ít oi lại không ghi xuất xứ. Khuyết điểm thứ nhứt ta có thể hiểu để thông cảm rằng ông Huình Tịnh Của còn đương phân vân giữa cách viết chánh tả chuẩn và cách viết theo giọng đọc mà ông đã nghe. Khuyết điểm thứ hai là bề dầy của quyển sách và mục tiêu mà ông hướng về khác với mục tiêu của nhũng người làm tự điển cho bộ Tự Điển Việt Nam của Hội Khai Trí Tiến Đức (Hà Nội, 1931) hay Tự Điển Chữ Nôm Trích Dẫn (Hoa Kỳ, 2009).

Một vài khuyết điểm nhỏ nói trên không đủ để che lấp vô vàn ưu điểm khác của quyển tự

điển, đó là một kho kiến thức đồ sộ, một bách khoa từ điển về đời sống nhân văn của người Việt Nam bất cứ ở mặt nào. Lấy một thí dụ nhỏ. Từ chén cho ta hầu như tất cả loại chén thời đó và những sinh hoạt liên quan đến chén.

 
Chén bánh bò | Chén chè | Chén kiểu | Chén đá | Chén cẩm biên | Chén trà chén rượu | Chén thuốc | Chén uống chè |Chén uống rượu | Chén thù chén tạc | Đánh một chén me | Chén ăn | Chén thua | Chén mắt trâu | Chén chỏm chưn | Chén chỏm lòng | Chén chung | Chén bát dùng lâu phải khờn | Lau chén bát | Chén lạu | Chén ngủ liễu | Chén mắt tre | Bát chén mẻ | Chén mích | Nhậm chén rượu |Chén con phụng | Bát rạn chén rạn | Giả chén trà chén rượu | Nói theo chén trà chén rượu | Sứa chén | Chén thánh | Chén ông tiên |

Từ chén mích hơi lạ ta thử coi ông Huình cắt nghĩa ra làm sao:

Chén mích: Chén mẻ một ít.

Tôi chắc rằng ít người biết cái định nghĩa nầy.

Tò mò thử kiếm coi mục từ nào nhiều nhứt: Nói chăng? Nói có 824 mục từ (xem phụ lục).

Không! Từ làm bứt phá con số nầy, nó có 854 mục từ (xem phụ lục).

Từ ăn ở con số cũng rất cao, gồm 558 mục từ….

Các từ khác như  nhà (210), cây (361)thuốc (132), ai (106),  cũng thuộc loại  nhiều. Các từ ít hơn cũng ruộng (38) chơi (45), hiền (39), dữ (28), ghét (13), giận (31), thương (87)… nhiều ít tùy thuộc nhiều yếu tố.Nhìn chung tiếng thuộc về động tác trong loại sinh hoạt thường nhựt của con người chiếm số lớn, những tiếng chỉ vật cụ thể thuộc đời sống xã hội chiếm hạng hai, những tiếng biểu lộ tình cảm thì ít hơn. Những từ thuộc loại chỉ tình trạng hay tiếng mô phỏng âm thanh hoặc mô phỏng hình dạng của đồ vật cũng có mặt nhưng mục từ của những chữ thuộc lại nầy thường có con số 2, 3. Những chữ đồng âm giữa từ Hán Việt và từ Nôm có số mục từ nhiều hơn con số phải có vì  hiện diện  cả  mục từ  của loại Hán và  loại Nôm (từ thươngbình chẳng hạn)

Tóm lại, qua ĐNQÂTV ta có nhiều điều để khảo sát, từ ngôn ngữ, cách viết chữ Nôm cho tới nghĩa xưa và đời sống tinh thần cũng như vật chất (trò chơi, trị bịnh…) của người Việt miền Nam từ khi có phong trào di dân thời các chúa Nguyễn cho tới cuối thế kỷ 19.

Cùng với những đóng góp khác của Huình Tịnh Của ở những công trình phiên âm, giới thiệu những kiến thức cận đại của Âu Mỹ vào thời kỳ nước ta mới tiếp xúc trực tiếp với nước Pháp, một cái tên trường đúng với cách viết của ông là điều cần nên có.

Mong lắm thay!

 

NVS (CA, Nov. 2, 2015)

                                         

Phụ lục.

Đọc các mục từ của một chữ ta có thể phát hiện ra được nhiều điều, xếp lại theo từng đề mục liên quan đến sinh hoạt của con người và xã hội một thời. Một đề tài còn đương bỏ ngõ.

 

Mục từ ăn:

 

Nhứt ẩm nhứt trác sự giai tiền định: một ăn một uống đều có định trước. | Ăn | Ăn mầng | Ăn lời | Ăn lời: nuốt lời nói, không giữ lời nói | Ăn tết ăn chơi ngày đầu năm năm, tiết đầu năm | Ăn chay ăn đồ lợt; nhịn bữa ăn; kiêng thịt, cữ thịt | Ăn cưới | Ăn giỗ | Ăn kị | Ăn mặn | Ăn lộc| Ăn gian | Ăn lận | Ăn quanh | Ăn hối lộ | Ăn lót | Ăn tiền | Khó ăn khó nói | Ăn bạc | Ăn năn | Ăn dỗ | Ăn bòn | Ăn mót | Ăn mày | Ăn xin |Ăn cướp | Ăn trộm | Ăn cắp | Ăn hàng | Ăn hiếp | Thiếu ăn thiếu mặc | Ăn xưa chừa nay | Ăn hổn | Ăn chực | Ăn bốc | Đủ ăn đủ mặc | Ăn nhịp | Ăn rập | Ăn khít ăn khao | Ăn ý | Ăn huyết thệ | Ăn léo | Ăn vụng ăn lén | Ăn chùng | Chó ăn vụng bột | Ăn tham | Ăn giành | Ăn khín| Ăn thép | Ăn thu phân | Ăn bớt | Ăn chẹt | Ăn gánh | Ăn vặt | Ăn đứt | Ăn yến | Ăn tiệc | Ăn cuộc | Ăn dải | Ăn phần | Ăn cấm địa | Ăn hoa hồng | Trây máu ăn phần | Ăn trước trả sau | Ăn chung | Ăn thua | Ăn chơi | Ăn sơ | Ăn thiệt | Ăn tráng miệng | Ăn sốt | Ăn nguội | Ăn lót lòng | Ăn đồ điểm tâm | Không ăn có chịu | Kẻ ăn mắm, người khát nước | Ăn tươi nuốt sống | Ăn trầu | Ăn trầu gẫm | Ăn trầu cách mắt | Ăn sống | Ăn thuốc | Ăn tấm trả giặt | Ăn như tằm ăn lên | Ăn mực | Ăn lan ra | Ăn cây nào, rào cây ấy | Ăn xôi chùa ngọng miệng |Bạ ăn bạ nói | Ăn xâu ăn đầu | Ăn kết | Ăn rằm | Ăn đầy tuổi | Ăn vía | Ăn thướng | Ăn cân ký | Ăn chịu | Ăn ngay ở thật, mọi tật mọi lành |Ăn xấp | Ăn gọt | Ăn sạch | Ăn ráo | Ăn ong | Ăn kén | Ăn gạo | Ăn ở | Ăn cần ở kiệm | Ăn nói | Ăn một đọi, nói một lời | Ăn nhín | Ăn cực| Ăn mặc | Bạ ăn bạ nói | Ham ăn mắc bẩy | Ăn băm | Ăn cắp | Ăn cắp vặt | Ăn chịu | Có sức ăn có sức chịu | Chịu lời ăn tiếng nói | Chịu đấm ăn xôi | Ăn bàn | Ăn bận | Ăn bắp | Ăn bặp | Ăn nói lặp bặp | Ăn bỗng | Ăn cằn | Khi lành cho nhau ăn cháy, khi dữ mắng nhau cạy nồi | Ăn thì cho, buôn thì so | Ăn cho đều kêu cho đủ | Không chó bắt mèo ăn dơ | Ăn nói bảu lảu | Bề ăn mặc | Bị ăn trộm | Bị ăn cướp |Bỏ ăn bỏ uống | Ăn bộ | Ăn bốc | Ăn cầu hối lộ | Ăn cơm mới nhắc chuyện cũ | Lính cũ ăn hiếp lính mới | Ăn bòn | Chó ăn vụng bột | Ăn nói bãi buôi | Ăn bữa | Ăn bữa hôm, lo bữa mai | Ăn cơm bữa | Ăn nửa bữa | Ăn có bữa, lo không có bữa | Cả ăn cả ỉa | Ông ăn chả bà ăn nem | Nói như ăn cơm bữa | Ăn cơm | Ăn cuộc | Ăn cám | Ăn sinh cầm | Ăn như xa cán cùn | Ăn có kè có cánh | Ăn cạo | Ăn cào |Biểu về nhắn với ông câu, cá ăn thì giựt, để lâu mất mồi | Cá ăn mòng chách chách | Ăn chay | Ăn chán | Đòi ăn chẹo chẹo | Ăn chẹt | Ăn trộm có điểm chỉ | Chỗ ăn không hết, chỗ thết không khẳm | Ăn chực | Ăn coi nồi, ngồi coi hướng | Ăn nói đãi đưa | Ăn đất | Ăn chay nằm đất | Ăn mặc chón hón | Ăn chưa no lo chưa tới | Chứa ăn trộm | Ăn chung làm riêng | Ăn chùng | Ăn chuối không biết lột vỏ | Có ăn có chịu | Có ăn có hậu | Gà cồ ăn bẩn cối xay | Ăn cỗ | Ăn mặt cởn cời | Ăn mặc cởn cởi | Có cơm ăn có công việc làm | Ăn cực | Ăn cưới |Đi ăn cưới | Ăn cướp | Quân ăn hèm | Ăn dải | Ăn dầm nằm dề | Ăn dễ làm khó | Ăn dơ | Dọn ăn ba dòng | Dư ăn dư để | Ăn đỡ | Ăn lạt |Ăn khô lạt | Ăn dữ | Ăn thì dùa thua thì chịu | Đảng ăn cướp | Ăn đặng | Ăn no lo đặng | Ăn cay uống đắng | Đói ăn rau đau uống thuốc |Ăn ếc ăn nhái | Ăn nói ráo hoảnh | Ăn thì vóc học thì hay | Ăn đêm | Ăn đến | Ăn đi | Trâu đồng nào ăn cỏ đồng ấy | Đủ ăn đù mặc | Ăn có đụn chứa | Ăn được | Ăn êm | Ăn tân gia | Ăn mầng con gà | Ăn trâu gẫm | Ăn gan | Ăn gấp | Gạt khỉ ăn ớt | Ăn nói gắt gớm | Ăn chua bắt ghê răng | Tài gia là cha ăn cướp | Ăn giỗ | Làm ăn go khổ | Ăn gỏi | Nó ăn gỏi mầy | Ăn gọt | Ăn ở bầy hầy | Ăn như hạm | Ăn hàng | Ăn bánh ăn hàng | Ăn ở không hậu | Khéo ăn khéo ở | Ngã heo ăn mầng | Của ăn hay hết người còn thấy nhau | Ăn cho hết | Ăn hiếp | Ăn hiếp gió | Ăn nói sách hoặch | Ăn kiện | Ăn lính | Ăn thì hơn hờn thì thiệt | Ăn tràn họng | Hộp ăn trầu | Có cơm cho ăn ba hột | Ăn huyết thệ | Hùm dữ không ăn thịt con | Ăn hung | Ăn húng ăn hiếp | Ăn mặc lem hem | Đạn ăn lên ăn xuống | Ăn yến | Đi ăn yến | Ăn yếu hoặc yếu ăn | Ít ăn ít nói | Ăn nói quê kệch | Vật ăn kém lắm | Thợ ăn kén | Ăn khẩm | Khẩm ăn khẩm mặc | Chỗ ăn không hết, chỗ thết không khẩm | Ăn nói khước kháo | Khi cá ăn kiến, khi kiến ăn cá | Ăn khín | Khó ăn khó nói | Hết chăn hết khố mới ra ăn mày | Thấy người ta ăn khoai, mình vác mai chạy quây | Ăn cơm không | Ăn kỉ no dai | Ăn no ngủ kỉ | Làm không lập thở, ăn chẳng kịp nhai | Ăn năn không kịp |Ăn mỡ môi láng xầy | Ăn mày | Ăn như mèo | Đồ ăn mèo ngửi | Ăn trầy mép | Ăn mẹp sườn | Làm ăn lam lụ | Ăn làm sóng nói làm gió | Ăn lậm | Ăn lận | Ăn no mặc lành | Ăn mày ăn mót | Đặng của vua thua là ăn mày | Ăn nói bảnh lảnh | Ăn lễ | Ăn léo | Lời ăn tiếng nói | Cá ăn móng | Ăn no lo được | Lo ăn lo mặt | Ăn hối lộ | Ăn lòi họng | Ăn cầu mút lợi | Lời ăn lỗ chịu | Ăn lóm | Ăn nói lục cục | Làm như ăn bánh ếch lột lần | Ăn nói lua lua láu háu | Ăn lụn | Ăn lún | Ăn lung | Ăn vừa lửng lửng | Ăn lương | Vật ăn hàn lương | Mắc lời ăn tiếng nói | Ăn cơm mắm thâm về lâu | Ăn mặn | Ăn mặn uống đậm | Chớ đi nước mặn, mà hà ăn chơn | Tiếc công bỏ mằn cho cu, cu ăn cu lớn, cu già cu đi | Mang lời ăn tiếng nói | Ăn mầng | Ăn mạnh miệng | Ăn thuở mập mặt | Ăn ở khúc mắt | Trây máu ăn phần | Đồ ăn tráng miệng | Miếng ăn là miếng tồi tàn, mất đi một miếng lộn gan lên đầu | Ăn rồi quẹt mỏ | Ăn nói lỗ mỗ | Chó ăn bụng bột, (vấy đầy mồm ) | Ăn đủ no mọi món | Ăn mòn răng | Ăn mót | Ăn cơm chúa múa tối ngày | Muốn ăn thì làm vào bếp, muốn chết thì lết vào săng | Làm ruộng ăn cơm nằm, đểtằm ăn cơm đứng | Thà nhịn đói nằm co, chẳng thà ăn no đi mần | Ăn nem | Nết ăn thói ở | Ăn nhờ ngập mặt | Ăn trộm đi ngờ ngờ | Ăn mặc ngỏa nguê | Ăn uống ngỏa nguê | Ăn nói ngoai rạch | Ăn ngon | Ăn xài lắm phải ngốt | Ăn tái ngu | Ngon ăn ngon ngủ | Ngựa kim ăn cỏ chỉ, chó vá cần thợ may | Vật ăn ngưng ngang ngựa | Ăn cơm nhà nói chuyện hàng xóm | Ăn nhẩy cổ | Ăn nhàm miệng | Cá ăn móng nhâm mặt nước | Ăn nói ẩm nhẩm | Ăn nói xấp nhập | Ăn nhậu | Làm ăn nhẹ | Ăn mặc bèn nhèn | Ăn nói nhĩm nhĩm | Nhịn ăn nhịn uống |Nhịn ăn nhín bận | Ăn nhín | Ăn nhín nhín | Ăn nhín nhúc | Ăn nhịp | Ăn nói nho nhẽ | Ăn nho nhẽ | Ăn gởi nằm nhờ | Ăn nhờ | Ăn nói có nhuân có nhụy | Nhứt ăn nhứt thua, hoặc nhứt thắng nhứt bại | Ăn no | Nố ăn cướp | Ăn nói | Nói không ăn thua | Nòi ăn cướp | Ăn thôi nôi | Làm ăn nông nổi | Làm ăn nới nuộc lạt | Ăn non | Ăn nửa bỏ nửa | Núc ních như cọp ăn no | Ăn nươm | Ăn tươi nuốt sống | Ăn nứt bụng | Ô ăn trầu | Ăn ô | Ăn ở | Nết ăn nết ở | Ăn cần ở kiệm | Khó ăn khó ở | Cách ăn thói ở | Ăn ngay ở thật, mọi tật mọi lành | Đi ăn ong| Ăn gian nhau từ phân từ tấc | Ăn phần | Đi buôn ăn phần | Phều phào bộ ăn ở thật thà; bộ không kỉ lưỡng | Làm ăn phấn phát hoặc tấn phát | Cơm ăn tiền phát | Ăn bận phê phết | Ăn mặc phủ phê | Ăn phềnh ruột | Ăn phu phỉ | Ăn không phỉ | Ăn cơm bảy phủ tiếng khen người trải việc, thuộc biết việc đời | Khô lân chả phụng vật ăn rất quí | Ăn phứt | Ăn quà | Ăn quấy quá | Ăn quấy | Ăn quấy quấy | Ăn cơm quán | Ăn trầu quánh lưỡi, quánh miệng, quánh môi | Ăn quen | Ăn quen nhịn không quen | Ăn trộm quen tay, ngủ ngằy quen mắt | Ăn rán |Sâu ăn răng | Ăn cây nào rào cây ấy | Ăn cay rát miệng | Đồ ăn rẻ | Thợ rèn không dao ăn trầu | Ngồi tù ăn rệp chốn lao tù rệp ở nhiều; ra thân ở tù khốn cực, thế phải ăn cơm lộn rệp | Ăn riêng | Ăn rốc | Ăn đi cho rồi | Ăn trầu rốp miệng | Ăn ruông | Ăn ruồng | Ăn rù ăn rút |Ăn nói sách hoạch | Ăn sạch | Sẵn ăn sắn mặc | Muốn ăn thì lăn vào bếp, muốn chết thì lết vào săng | Ăn nói sành sỏi | Ăn một sắp | Ăn sẻ sẻ, đẻ ông voi | Ăn no sinh sự | Ăn sơ ba hột | Ăn nói sõi sàng | Ăn sớm | Ăn sống | Ăn thuốc sống | Ăn sốt | Sự ăn sự ở | Ăn sương nằm tuyết | Cào cào ăn tai | Ăn tái | Tài gia cha ăn cướp | Ăn như tằm ăn lên | Tằm ăn một, ăn hai, ăn ba, ngủ lớn, thức lớn có nhiều tuổi | Ăn tấm trả giặt | Ăn tạp | Ăn nói tạp nạp | Ăn tất | Ăn trầu tếch toác | Ăn trầu tém tẻ | Ăn tết | Ăn uống thảm quá | Ăn thâm | Ra thân ăn mày |Già cả ăn nói thất lật | Ăn thề | Ăn cho đã thèm | Theo ăn cướp | Ăn theo thuở, ở theo thì | Ăn thép | Đồ ăn mắt chí thiết | Ăn thiếu bữa |Thiếu ăn thiếu bận | Làm ăn thịnh lợi | Ăn chưa thíp | Hùm dữ chẳng ăn thịt con | Chó ăn thịt chó | Làm thó ăn mày | Ăn nói thô tục | Ăn nói bất thông | Ăn thử | Dính ăn dính thua | Không ăn thua | Công chuyện làm ăn thưa thớt | Ăn thừa | Ăn cơm thừa cá cặn | Ăn theo thuở ở theo thì | Ăn thuốc | Vật ăn nên thuốc | Làm ăn thút mút | Ăn tiệc | Ăn không tiêu | Ăn tinh những thịt | Ăn to | Làm ăn tở mở | Ăn mặc tòa tụi | Ăn trầu tích toát | Ăn năn tội | Ăn trái nhớ kẻ trồng cây | Ăn trây thèm | Ăn một miếng trám vàm | Tranh lời ăn tiếng nói | Trau ăn trau mặc | Ăn trầu | Ăn trầu nhểu nhão | Ăn trỗ qua | Xấu trời ăn mày | Ăn trộm | Ăn trộm vặt | Ăn trộm tiếng | Ăn trộm quen tay | Ăn cơm trộng | Ăn trót | Ăn trợt | Ăn trụm | Ăn trên ngồi trước | Ăn trầu miệng tùa lua | Ăn lục tuần | Ăn đầy tuổi | Ăn tươi | Cá không ăn muối cá ươn; con không nghe lời cha mẹ, con hư | Ăn uống vô độ | Ăn uống chời lở | Ăn vả | Ăn như vạc | Ăn vài miếng | Ăn bận vẫn vẫn | Ăn vanh ăn vũm | Ăn vào | Ăn vặt | Vật trâu, heo mà ăn mầng | Ăn vỉ vèo | Ăn nói tĩ vỉ | Ăn vía | Ăn vỏ dừa thấy vỏ dừa mà sợ | Vôi ăn trầu |Vớt ăn ba ăn tư | Đặng là vua thua là ăn mày | Ăn vụng | Ăn cho vững bụng | Ăn rồi vuốt mỏ | Ăn cơm vút | Ăn xài | Làm ăn xẩn xẩn | Ăn rồi đi cho xóc xáo | Làm ăn xấp thời | Ăn xấp | Nó ăn xấp ba xấp bảy | Xấu bát dĩa, đồ ăn cũng vậy | Ăn mặc xê xang | Ăn nói xều xào |Ăn xớ ăn bớt | Ăn xoắt | Ăn xộc xộc | Ăn xổi | Ăn ở xởi lởi ông trời gởi cho | Ăn nói xổn xảng | Ăn nói xong cảy | Ăn nói không xong |

 

Mục từ Làm:

 

Làm bấc | Làm bắc tử | Làm bài | Làm bậy | Chuột bầy làm chẳng nên hang | Làm bạn | Làm cái | Bụng làm dạ chịu | Làm bận | Làm bằng làm chứng | Làm như bắt linh lản | Biết làm tốt | Biểu đâu làm đó | Làm bụi | Làm túi bụi | Làm búi bộ, làm túi búi | Làm như bún đầy tràn |Làm cho | Làm chung | Làm bé | Làm bề | Làm bể | Làm bệnh | Bệnh làm biếng | Làm bỉ | Đá bia đá tạc làm bia | Bắt làm bia | Làm biếng |Làm cho biết xấu | Làm bình trắc | Làm bộ | Làm bốc hốt | Làm bợm | Làm việc cẩu thả | Làm cho chín | Làm buồm | Làm bưa bưa | Làm bức | Làm bướn | Làm cá | Cả mô là đồ làm biếng | Làm cách | Làm cha | Làm chạ | Làm chả | Giấy trắng mực đen, làm quen thiên ha |Làm càn | Một con sầu làm rầu nồi canh | Làm cao | Làm lập cập | Làm chay | Làm chậm chậm | Thấy người làm đặng ăn, mình xe chăn làm rớ | Làm chết thân | Làm chi | Làm mụ chị | Làm như chỉ lộn cuồng | Làm một thì giàu chia nhau thì khó | Làm đại | Làm đài các | Bắt ngựa làm chơn | Gái ngoan làm quan cho chồng | Xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ | Làm chúa | Làm chưa | Làm không chuyển | Ăn chung làm riêng | Làm chùng | Làm chứng | Làm chứng vị | Làm chứng dối | Làm chứng gian | Làm chứng lứng cứng phải đòn | Làm chừng đỗi cho qua việc | Làm chước | Làm bộ chuột | Làm mặt chuột | Lụp chụp dã đến tháng làm lụp chụp | Có ngọn đèn làm chứng | Làm cỏ |Làm cớ | Làm đỏng | Làm công | Làm cữ | Của làm tôi người, chẳng phải người làm tốt của | Làm củi | Làm gương | Làm gượng | Khôn làm dại ăn | Làm dạn; làm mặt dạn | Làm dạng | Làm dâu | Làm dấu | Ăn dễ làm khó | Làm như diều xớt con gà | Làm dơ | Làm lỡ dở |Làm doan làm phước | Làm dối | Làm việc dối ma | Làm đỡ | Làm hạn | Làm hình | Làm lợt lạt | Làm dữ | Làm đày | Làm đảy | Làm đám |Làm đặng | Đấng làm vua | Đấng làm người | Đạo làm người | Đạo làm ăn | Làm đàu (đào) | Làm điếm | Làm đêm | Làm thuốc đẹn | Làm cho đến tay | Làm đi | Làm đĩ | Làm điên | Làm điệu | Làm chi đó | Làm đò | Chẳng thương cũng làm đò cúm núm | Đồ làm ruộn

 

Share this post