Tháng Giêng Ra Biển Đông Ngồi Nhớ, Hải Chiến Hoàng Sa “Hận Ngút Trời” – Mường Giang

Tháng Giêng Ra Biển Đông Ngồi Nhớ, Hải Chiến Hoàng Sa “Hận Ngút Trời” – Mường Giang

Về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, theo chính sử cũng như những tài liệu của ngoại quốc như Ðại Nam Thực Lục, Ðại Nam Nhất Thống Chí của Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Hoàng Việt Địa Dư Chí thời vua Minh Mạng, Quảng Ngãi Tỉnh Trí của các Tuần Vũ Nguyễn Bá Trác và Nguyễn Ðình Chi, Quảng Ngãi Nhất Thống Chí của Lê Ngại đều đề cập tới và xác nhận đó lãnh thổ lâu đời của Ðại Việt. Với các tác phẩm ngoại quốc, có nhiều thiên ký sự của các giáo sĩ Thiên Chúa trên tàu Amphitrite viết năm 1701, của đô đốc Pháp tên là D’Estaing viết năm 1768 rằng: “Sự giao thông giữa đất liền và các đảo Paracel (Hoàng Sa) rất nguy hiểm, khó khăn nhưng Người Ðại Việt chỉ dùng các thuyền nhỏ, lại có thể đi lại dễ dàng”. Nhưng quan trọng nhất, là tác phẩm viết về Hoàng Sa của Ðổ Bá tự Công Ðạo, viết năm Chính Hòa thứ 7 (1686), trong đó có bản đồ Bãi Cát Vàng: “Ðảo phỏng chừng 600 dặm chiều dài và 20 dặm bề ngang. Vị trí nằm giữa cửa Ðại Chiêm và Quyết Mông. Hằng năm vào cuối mùa đông, các chúa Nguyễn Ðàng Trong cho Hải Ðội Hoàng Sa gồm 18 chiến thuyền đến nơi tuần trú”. Năm 1776, trong tác phẩm “Phủ Biên Tạp Lục”, Lê Quý Ðôn đã viết một cách rõ ràng: “Trước đây, các Chúa Nguyễn đã đặt Ðội Hoàng Sa 70 suất, tuyển lính tại Xã An Vĩnh, cắt phiên mỗi năm vào tháng 2 ra đi, mang theo lương thực 6 tháng. Dùng loại thuyền câu nhỏ, gồm 5 chiếc, mất 3 ngày 3 đêm, từ đất liền tới đảo.”

Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ của VN ngay khi người Việt từ đàng ngoài tới định cư tại Phủ Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi vào khoảng thế kỷ thứ XV sau tây lịch. Hai quần đảo trên nằm ngoài khơi Ðông Hải: Hoàng Sa ở phía bắc và Trường Sa nằm về cực nam gần Côn Ðảo.

QUẦN ÐẢO HOÀNG SA:

Nằm giữa hai kinh tuyến đông 111-112 độ và vĩ tuyến bắc 15 độ 45 – 17 độ 05. Ðây là một chuỗi đảo gồm 120 hòn lớn nhỏ nhưng quy tụ thành bốn nhóm chính. Muốn tới đảo, nếu khởi hành từ Ðà Nẵng, bằng tàu của hải quân phải mất 10 giờ (chừng 170 hải lý), theo hướng 083. Bốn nhóm đảo chính là:

– NHÓM NGUYỆT THIỀM (CROISSANT): gồm các đảo Cam Tuyền hay Hữu Nhật (Robert), hình tròn, diện tích là 0 km 2032, là đảo san hô nên có nhiều phốt phát. Toàn đảo chỉ có chim hải âu trú ngụ , tuyệt nhiên không có bóng người. Ðảo Quang Hòa Ðông (Duncan), diện tích 0 km2 48, phía đông đảo là rừng cây phốt phát và nhàn nhàn, phía tây toàn san hô là nơi trú ngụ của chim hải âu. Ðảo Quang Hòa Tây (Palon Island) , hình tròn, diện tích 0km241, trên đảo toàn cây nhàn nhàn và phốt phát , đảo toàn san hô chỉ có chim ở. Ðảo Dung Mộng (Drummond) hình bầu dục, diện tích 0km241, toàn đảo chỉ có nhàn nhàn và phốt phát. Giữa đảo có một vùng đất rộng, thời Ðệ 1 Cộng Hòa trước tháng 11-1963, Tiểu Ðoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến trấn đóng tại đây để bảo vệ lãnh thổ. Hiện trên đảo vẫn cò hai ngôi mộ lính VNCH và 3 ngôi mộ cổ khác với mộ bia viết bằng chữ Hán.

Trong số này quan trọng nhất vẫn là đảo Hoàng Sa (Pattle) có hình chữ nhật, chu vi 2100m, diện tích 0km230. Ðảo nay đã được khai phá từ lâu đời nên có nhiều công trình kiến trúc như Ðồn Quân Trú Phòng, Sở Khí Tượng, Hải Đăng và cầu tàu để các chiếm hạm Hải Quân/VNCH cập bến. Trên đảo có một ngôi miếu cổ thờ Bà Chúa Ðảo và do một trung đội Ðịa Phương Quân thuộc Tiểu Khu Quảng Nam trấn đóng.

Ðảo Vĩnh Lạc hay Quang Ảnh (Money) nằm biệt lập không thuộc nhóm đảo Nguyệt Thiềm, hình bầu dục, diện tích 0, 50 km2. Trên đảo toàn nhàn nhàn, phốt phát và một loại cây cao trên 5m, có trái như mít. Toàn đảo không có người ở.

Ðảo Linh Côn (Lincoln) cũng năm biệt lập và đã bị Ðài Loan cưỡng chiếm vào tháng 12-1946 khi Trung Hoa Dân Quốc, được lệnh LHQ tới đảo giải giới quân Nhật đang trú đóng trên đảo.

– NHÓM TUYÊN ÐỨC (AMPHITRITE): Cũng bị Ðài Loan chiếm năm 1946, nằm về phía bắc đảo Hoàng Sa gồm 16 đảo nhỏ, trong số này quan trong nhất có đảo Phú Lâm (Woody Island), dài 3700m, rộng 2800m. Trên đảo có nhiều cây ăn trái như dừa, được Nhật Bổn khai thác phốt phát từ thời Pháp thuộc. Năm 1950, Trung Cộng đánh đuổi Tưởng Giới Thạch chạy ra đảo Ðài Loan, chiếm lục địa và luôn các hải đảo của VN, xây phi trường, làm đường xá, lập căn cứ quân sự. Ðây là nơi giặc Tàu phát xuất, tấn công chiếm các đảo của VN sau này.

QUẦN ÐẢO TRƯỜNG SA:

Gồm chín đảo lớn nhỏ, nằm giữa hải phận của các nước VN, Phi Luật Tân, Srawak. Trong số này đảo lớn nhất là Trường Sa (Sparley) , dài 700m, ngang 200m, nằm ở kinh tuyến 114 độ 25 và vĩ tuyến 19 độ 10 bắc. Ðảo cấu tạo bởi san hô, có nhiều hải âu trú ngụ, đẻ trứng rất to. Trên đó có nhiều loại cây ăn trái vùng nhiệt đới như dừa, bàng, mù u, nhàn nhàn, rau sam

ÐỘI HOÀNG SA:

Theo sử liệu cũng như nhân chứng, thì buổi trước, Ðội Hoàng Sa tập trung tại Vươn Ðồn để luyện tập cũng như sửa chữa thuyền bè và nhận lệnh thượng cấp. Trước khi xuất quân, Ðội đến Miếu Hoàng Sa tế lễ. Ðây là một ngôi nhà gồm 3 gian, làm bằng gỗ tốt, lợp tranh dầy, mặt Miếu quay ra cửa Sa Kỳ, trước có 2 cây gạo cổ thụ. Trong Miếu thờ Một Bộ Xương Cá Ông rất lớn. Theo người địa phương, hơn 300 năm về trước, Ông lụy tại Hoàng Sa, nhưng đã được Hải Ðội dìu về đất liền. Sau ba năm chôn cất, những người lính, thỉnh cốt vào thờ trong Miếu. Từ đó về sau, hằng năm vào tháng 6, khi những người lính, mãn phiên từ Hoàng Sa trở về, dân làng tổ chức cúng lễ tại Miếu, gọi là “Ðánh Trống Tựu Xôi”.

Từ thị xã Quảng Ngãi, qua cầu Trà Khúc, bỏ Quốc Lộ 1, rẽ vào Quốc Lộ 24B, ngang qua Làng Sơn Mỹ dưới chân Núi Thiên Ấn chừng 5 km, thì rẽ vào một con đường đất đỏ chạy giữa sông Kinh và rừng dương sát biển. Ðó là xã Tịnh Kỳ thuộc Huyện Sơn Tịnh, nơi khai sinh Hải Ðội Hoàng Sa, khoảng mấy trăm về trước, thời các Chúa Nguyễn, Nam Hà, thuộc Ðại Việt. Theo Quảng Ngãi địa dư chí, vùng đất này, trước năm 1898 thuộc trấn Bình Sơn. Năm Thành Thái thứ 10, tách ra thành 2 Huyện Bình Sơn và Sơn Tịnh. Sau tháng 8-1945, khu Tịnh Kỳ được hoàn thành bởi ba xã An Kỳ-An Vịnh và Kỳ Xuyên. Xưa vùng này là một cù lao, nằm cách đất liền, phải dùng ghe vào các bến Mỹ Khê, Chợ Mới, Sa Kỳ hay xa hơn là Thị Xã Quảng Ngãi và các Thị Trấn Ba Gia, Ðồng Ké, Sông Vê, Ba Tơ. Từ năm 1993, qua việc xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất nên hải cảng Sa Kỳ đã được mở rộng, đồng thời với con đường, chạy từ cầu Khê Kỳ, qua Cửa Lở tới Kỳ Xuyên. Có lẽ do địa thế sông nước bao quanh, nên từ mấy trăm năm về trước, Các Vị Chúa Nguyễn đã chọn An Vĩnh làm căn cứ, đặt Hải Ðội Hoàng Sa, với nhiệm vụ bảo vệ hải đảo, cũng như khai thác các tài nguyên ngoài Ðông Hải. Ðình làng An Vĩnh trước đây rất đồ xộ, là nơi Xuân thu nhị kỳ cúng tế những người lính Hoàng Sa, nay đã đổ nát, chỉ còn lại Chiếc Cổng Tam Quan. Ðiều này đủ để minh chứng với thế giới, việc Quần Ðảo Hoàng Sa-Trường Sa là lãnh thổ lâu đời của Ðại Việt. Người Tàu chỉ ỷ vào sức mạnh và tờ văn khế bán nước của Phạm Văn Ðồng năm 1958, để cướp chiếm nước ta, như sau này chúng đã làm tại biên giới Việt Trung và Lãnh Hải trong Vịnh Bắc Việt.

Ở đây, hiện còn nhà thờ Cai Ðội Phạm Quang Ánh, là người được Vua Gia Long cử ra Hoàng Sa năm 1815, đo đạc, khảo sát lộ trình và tổ chức Hải Ðội. Ông được nhà Nguyễn phong chức Thượng Ðẳng Thần khi mất. Tóm lại, từ thời các Chúa Nguyễn (1558-1783), nhà Tây Sơn (1788-1802), Nhà Nguyễn (1802-1945), đã có Hải Ðội Hoàng Sa. Ðặc biệt, năm 1836, Minh Mạng thứ 17, quần đảo Paracel hay bãi cát vàng, được Công Bộ đặt tên là “Bản Quốc Hải Cương Hoàng Sa Xứ, Tối Thị Hiểm Yếu”.

Từ năm 1954, Hoàng Sa là một đơn vị hành chánh thuộc tỉnh Quảng Nam-VNCH được Tiểu Ðoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến bảo vệ. Từ năm 1959 tới 1974, đảo do các đơn vị Địa Phương Quân Quảng Nam trú đóng. Giống như Quần Ðảo Trường Sa ở phía Nam, cũng là một đơn vị hành chánh của tỉnh Phước Tuy và do Địa Phương Quân của tỉnh này bảo vệ, cho tới ngày 30-4-1975.

Tính đến năm 1974, khi xảy ra trận hải chiến Hoàng Sa, Hải Quân VNCH rất hùng hậu với quân số trên 40.000 người (sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ), phân thành 5 vùng duyên hải và 2 vùng sông ngòi. Hải quân có một hạm đội gồm 83 chiến ham đủ loại. Ðể bảo vệ các sông ngòi, kênh rạch ở Nam phần, hải quân đã thành lập 4 Lực Lượng Đặc Nhiệm hành quân lưu động, gồm LL Tuần thám 212, LL Thủy Bộ 211, LL Trung Ương 214 và Lực Lượng Đặc Nhiệm 99. Ngoài ra còn Lực Lượng Duyên Phòng 213, Liên Đoàn Tuần Giang, 28 duyên đoàn, 20 giang đoàn xung phong, 3 Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân và nhiều căn cứ yểm trợ khắp nơi. Khi xảy ra cuộc hải chiến, Ðề Đốc Trần Văn Chơn là tư lệnh hải quân. Tóm lại Hải Quân VNCH rất hùng mạnh trong vùng Ðông Nam Á.

Ngay từ thời thượng cổ, người Tàu luôn kính nể dân Việt vì “họ tuy ở núi mà rất thạo thủy tánh, lấy thuyền làm xe, lấy chèo làm ngựa. Ðến thì như gió thoảng, đi thì khó đuổi theo. Tính tình khinh bạc, hiếu chiến, không bao giờ sợ chết và luôn luôn quật khởi với kẻ thù”. Bởi vậy suốt dòng lịch sử, Hải Quân Việt đã ba lần oanh liệt chiến thắng quân Tàu trên Bạch Ðằng Giang và sông Như Nguyệt. Sau năm 1975, nhiều tài liệu mật nhất là của Mỹ được bạch hóa, trong đó có tương quan lực lượng hải quân giữa Trung Cộng vùng đảo Hải Nam so với Hải quân của VNCH thì thua xa và rất yếu. Tình trạng này tới năm 1979 tình trạng quân sự của Trung Cộng vẫn còn lạc hậu, cho nên khi Ðặng Tiểu Bình muốn dạy VC một bài học về quân sự, lại bị thằng đàn em phản bội đá giò lái. Nhưng dù bị Mỹ dùng viện trợ ngăn cản, đâm sau lưng, Hải quân VNCH trong suốt hai mươi năm (1955-1975) , đã anh dũng giữ vững lãnh hải của đất nước một cách gần như trọn vẹn, trước sự dòm ngó tranh dành hải đảo của các nước Trung Cộng, Ðài Loan, Phi Luật Tân, Mã Lai Á, Nam Dương và Kampuchia..

Sau khi đạt được thắng lợi ngoại giao với Hoa Kỳ qua cặp Nixon-Kissinger, đồng thời với sự đồng lõa của Việt Cộng, nên giặc Tàu quyết tâm chiếm cho bằng được hai quần đảo ngoài Ðông Hải của VNCH. Dã tâm càng lớn từ năm 1973, sau khi được tin các hãng dầu thăm dò cho biết vùng này có trữ lượng rất lớn về dầu khí. Lúc đó VNCH cũng đã bắt đầu ký nhiều hợp đồng, cho phép các hãng dầu tới hai vùng đảo trên khai thác. Thế là ngày 11-1-1974, Trung Cộng lại tuyên bố chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa. Ngày 19-1-1974, bất thần Trung Cộng tấn công Hoàng Sa gây nên trận hải chiến tuy ngắn ngủi nhưng đẫm máu. Trung Cộng dù chiếm được đảo nhưng thiệt hại gấp 3 lần VNCH.

Quần đảo Hoàng Sa thời Ðệ I Cộng Hòa (1955-1963) thuộc tỉnh Quảng Nam. Cũng trong thời kỳ này, chính phủ đã ban hành sắc lệnh số 134/NV ban hành năm 1956, sáp nhập quần đảo Trường Sa, vào tỉnh Phước Tuy. Nghị định số 241/BNV ban hành ngày 14-12-1960, do chính Tổng Thống Diệm bổ nhiệm Nguyễn Bá Thước làm Phái viên hành chánh Hoàng Sa. Lại phối trí Tiểu Đoàn 1 TQLC trú đóng khắp các đảo để bảo vệ lãnh thổ VNCH.

TRẬN HẢI CHIẾN GIỮA VNCH VÀ TRUNG CỘNG:

Như thường lệ, vào ngày 18-1-1974 gần tới Tết Âm Lịch Nhâm Dần. Lúc đó Tuần Dương Hạm HQ.16 Lý Thường Kiệt, khởi hành từ Ðà Nẵng với công tác chuyển vận đơn vị Ðịa Phương Quân của Tiểu Khu Quảng Nam ra Hoàng Sa hoán đổi định kỳ. Trong chuyến công tác trên, còn có một phái đoàn khảo sát điạ chất , gồm 7 sĩ quan công binh và hải quân. Ngoài ra còn có một người Mỹ tên Gerald Kosh, là nhân viên tùng sự tại Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ Vùng I Chiến thuật. Trước khi vào đảo đổi quân, tàu HQ.16 đã vòng các đảo để kiểm soát nên đã phát hiện được nhiều tàu chiến của Trung Cộng sơn màu xanh ô liu, ngụy trang như các tàu đánh cá, trang bị toàn vũ khí nặng. Trong lúc đó còn có nhiều tàu chiến khác đang di chuyển từ đảo Phú Lâm tiến về các đảo Quang Hòa, Duy Mộng và Hoàng Sa. Do tình hình quá khẩn cấp nên HQ.16 đã báo về Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng 1 Chiến Thuật, nên được tăng cường thêm các chiến hạm như Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư, Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng và Hộ Tống Hạm Nhật Tảo. Tuy nhiên tất cả đã được lệnh trung ương chỉ phòng thủ, không được tấn công trước khi địch chưa khai hỏa.

Theo sử liệu, trong trận hải chiến này, lực lượng hải quân của Trung Cộng rất hùng hậu vì đã chuẩn bị trước. Thành phần tham chiến gồm: Hộ Tống Hạm 271 Kronstadt, Ðại Tá Vương Kỳ Uy là hạm trưởng, tử thương. Hộ Tống Hạm 274 Kronstadt, hạm trưởng là Ðại Tá Quan Ðức. Ðây cũng là soái hạm chỉ huy trận chiến gồm tư lệnh là Ðô Ðốc Phương Quang Kính, cũng là phó tư lệnh của Hạm Ðội Nam Hải. Sau trận đánh, toàn bộ chỉ huy của Trung Cộng trên soái hạm này gồm 2 đề đốc, 4 đại tá, 6 trung tá, 2 thiếu tá và 7 sĩ quan cấp uý đều bị trúng đạn đại bác tử thương. Trục lôi hạm 389, hạm trưởng là Trung Tá Triệu Quát tử thương. Trục lôi hạm 396, Hạm trưởng là Ðại Tá Diệp Mạnh Hải, tử thương. Phi Tiễn Ðỉnh 133 Komar, có hỏa tiễn địa điạ Styx, hạm trưởng là Thiếu Tá Tôn Quân Anh. Phi Tiễn Đỉnh 137 Komar, có hỏa tiễn địa địa Styx, hạm trưởng là Thiếu Tá Mạc Quang Ðại. Phi Tiễn Đỉnh 139 Komar có hỏa tiễn, hạm trưởng là Thiếu Tá Phạm Quy. Phi Tiễn Dỉnh 145 Komar có hỏa tiễn, hạm trưởng là Thiếu Tá Ngụy Như và 6 Hải Vận Hạm chở quân chiến đấu. Ngoài ra còn một lực lượng trừ bị gồm 2 tuần dương hạm, 4 pháo hạm, 4 khu trục hạm trang bị hỏa tiễn Kiangjiang, 2 phi đội Mig 19 và 2 phi đội Mig 21 do tư lệnh Hạm Ðội Nam Hải tổng chỉ huy.

Bên VNCH, lực lượng tham chiến gồm Khu Trục Hạm HQ4 Trần Khánh Dư, Hạm Trưởng Trung Tá HQ.Vũ Hữu San. Tuần Dương Hạm HQ5 Trần Bình Trọng, Hạm Trưởng Trung Tá Hải Quân Phạm Trọng Quỳnh. Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ10, Hạm Trưởng Thiếu Tá HQ. Ngụy Văn Thà. Trong khi giao chiến, HQ10 bị trúng đạn, toàn thể thủy thủ xuống xuồng nhỏ, thì Hạm Trưởng ở lại tuẫn quốc với chiến hạm. Tuần Dương Hạm HQ16, Hạm Trưởng là HQ.Trung Tá Lê Văn Thư. Về lực lượng trừ bị có Tuần Dương Hạm HQ6 Trần Quốc Toản, Hộ Tống Hạm HQ11 Chí Linh và Phi Ðoàn F5-A37, nhưng vì ở cách xa chiến trường nên khi chưa tới nơi thì chiến cuộc đã tàn. Riêng Sư Ðoàn 1 Không Quân không can thiệp. Kết quả, phía VNCH, các chiến hạm 4,5 và 16 bị hư hại nặng nhưng chạy được về Ðà Nẵng sửa chữa và tiếp tục hoạt động sau đó. Chỉ có Chiến Hạm HQ10 bị chìm, Hạm trưởng Ngụy Văn Thà, bị thương nhưng quyết ở lại chết với tàu. Về phía Trung Cộng, Tư Lệnh Mặt Trận, Bộ Tham Mưu và 4 Hạm Trưởng tử thương. Hộ Tống Hạm 274 bị chìm, Hộ Tống Hạm 271 và 2 Trục lôi hạm 389-396 bị hư nặng và phá hủy cùng với 4 ngư thuyền bị bắn chìm

Có một điều bi thảm mà hiện nay ai cũng biết, là hầu hết các chiến hạm mà Hoa Kỳ đã viện trợ cho Hải Quân VNCH đều được hạ thủy năm 1940, loại phế thải được tân trạng. Bốn chiến hạm tham chiến năm 1974, được coi là tối tân nhất vì HQ4 hạ thủy năm 1943, HQ5 hạ thủy năm 1944, HQ10 hạ thủy năm 1942 và HQ16 hạ thủy năm 1942. Riêng các vũ khí trên tàu, các loại súng liên thanh đều được gỡ bỏ khi cho VNCH. Nhưng dù quân lực miền Nam ít, chiến hạm vừa cũ kỹ lại nhỏ, vũ khí trang bị, chỉ có đại bác nhưng vì các sĩ auan Hải Quân VNCH đều được huấn luyện như Âu Mỹ, rất thiện chiến và tài giỏi. Cho nên đã tác xạ rất chính xác, làm nhiều tàu giặc cũng như Hạm trưởng tử thương. Tệ nhất là người Mỹ, lúc đó vẫn còn là đồng minh của QLVNCH, vẫn đang có hiệp ước hỗ tương chiến đấu và bảo vệ cho nhau. Vậy mà khi cuộc chiến xảy ra, Hạm Ðội 7 Hoa Kỳ đang tuần hành gần đó, chẳng những đã không lên tiếng, không can thiệp mà ngay thủy thủ VNCH bị chìm tàu cũng không thèm cứu vớt theo đúng luật hàng hải quốc tế.

Theo các nhân chứng đã tham dự cuộc hải chiến kể lại, thì lúc đó các chiến hạm của Hải Quân/VNCH đã chống trả với giặc rất dũng mãnh, nên chỉ trong mấy phút đầu đã có nhiều tàu chiến của Trung Cộng đã bị bắn chìm. Về phía VNCH, Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt HO.16, bị bắn trúng bánh lái và sườn tàu, được HQ.11 dìu về Ðà Nẵng. Trên chiến trường lửa máu, chỉ còn HQ. 10 và Hộ Tống Hạm Nhật Tảo vùng vẩy chiến đấu với hằng chục chiến hạm của Trung Cộng, được không quân từ các căn cứ trên dảo Hải Nam tới yểm trợ.

Cuối cùng Hộ Tống Hạm Nhật Tảo đã bị bắn cháy và chìm giữa biển Ðông. Hạm trưởng chiến hạm này là Trung Tá HQ.Ngụy Văn Thà,tốt nghiệp khóa 12 Sĩ quan Hải quan Nha Trang, sinh năm 1943 tại Trảng Bàng, Tây Ninh. Khi tàu lâm nạn, với tư cách là Chỉ huy trưởng, Trung Tá Thà đã ra lệnh cho hạm phó là Thiếu Tá Hải Quân Nguyễn Thành Trí, sinh năm 1941 tại Sa Ðéc, Tốt nghiệp khóa 17 Sĩ quan Hải quân Nha Trang, hướng dẫn số quân nhân còn sống sót, trong tổng số 80 người trên tàu, dùng bè cao su về đất liền. Riêng Ông ở lại chết với tàu.

Trên biển, Thiếu Tá Trí vì bị thương nặng nên đã chết trên bè, trước khi các quân nhân còn lại, được thương thuyền Skopionella của Hòa Lan, trên đường từ Hồng Kông đi Tân Gia Ba, cứu sống vào đúng đêm giao thừa Tết Âm Lịch Nhâm Dần (1974). Sau đó 22 quân nhân này được một chiến hạm của Hải Ðội 1 Duyên Phòng, đón về đất liền. Còn 16 Biệt Hải của Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt, có lệnh giữ đảo Vĩnh Lạc, sau khi Hòang Sa thất thủ, đã dùng bè cao su vượt biển về đất liền. Lênh đênh nhiều ngày trên sóng nước, nắng mưa gió lạnh, cuối cùng cũng được một tàu đánh cá cứu thoát đưa về điều trị tại Quân Y Viện Quy Nhơn, 2 người chết vì đói lạnh, số còn lại may mắn thoát được tử thần.

Cuộc hải chiến chấm dứt, các chiến hạm của VNCH đều rút lui vì Hoàng Sa đã thất thủ. Bấy giờ giặc Tàu mới bắt đâu thu dọn chiến trường và xua quân chiếm đóng tất cả các đảo. Về phía VNCH còn kẹt lại trên đảo, gồm trung đội Địa Phương Quân Quảng Nam, các quân nhân Hải Quân, 7 sĩ quan Công Binh trong toán khảo sát địa chất, 4 nhân viên Sở Khí Tượng và 1 người Mỹ làm việc ở Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ thuộc Quân Đoàn 1. Tổng cộng là 42 người, đều bị giặc bắt làm tù binh, giải về thành phố Quảng Châu và giam trong một trại tù, cạnh dòng sông Sa Giang. Ðây cũng chính là nơi mà hơn mấy chục năm về trước liệt sĩ Phạm Hồng Thái đã gieo mình tự vẫn để không bị sa vào tay giặc Pháp sau khi ném bom ám sát hụt Merlin, toàn quyền Ðông Dương đang có mặt tại Hồng Kông.

Lúc đó đúng 8 giờ sáng ngày mồng một Tết Nguyên Đán, thời gian hạnh phúc nhất của các dân tộc Á Ðông vui xuân theo Âm Lịch, trong đó có VNCH. Riêng 42 tù binh VN liên tục bị bọn an ninh Trung Cộng tra vấn, bắt buộc phải nhận tội là đã chiếm đóng bất hợp pháp lãnh thổ của Tàu. Nhưng rồi không biết vì sao, Ðặng Tiểu Bình ra lệnh phóng thích tất cả, đưa tới Hồng Kông để mọi người hồi hương.

Lịch sử lại tái diễn, ngày 14-3-1988, Trung Cộng lại nổ súng vào Hải quân Việt Cộng, tại quần đảo Trường Sa. Trong cuộc hải chiến ngắn ngủi này, vì VC chỉ phản ứng có lệ, nên tài liệu cho biết phía Trung Cộng , không có ai bị tử thương cũng như tàu chìm. Ngược lại, bên VC có nhiều tàu chiến bị chìm, gồm : Chiến Hạm Thượng Hải của Tàu viện trợ , 1 Tuần Dương Hạm cũ của VNCH để lại, 1 Hải Vận Hạm của Nga Sô viện trợ và trên 300 lính Hải quân bị thương vong.

Thương biết bao những anh hùng vị quốc, trong đó có những chiến sĩ Hải Quân năm nào đã anh dũng chống giặc Tàu xâm lăng, như tổ tiên ta đã bao đời banh thây đổ máu để có Nam quốc sơn hà, nam, mà ngày nay CSVN đem bán lần hồi cho giặc Tàu.

***

Tài liệu liên quan

Thư Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu gởi Tổng Thống Richard Nixon trong biến cố Hoàng Sa tháng 1-1974.

Lời mở đầu:

Trận hải chiến Hoàng Sa đã đi vào lịch sử nước Việt như là một trận chiến chống giặc ngoại xâm Trung Hoa đã ngang nhiên mang quân xâm chiếm cõi bờ thiêng liêng do cha ông chúng ta gìn giữ từ ngàn xưa truyền lại.

Trận hải chiến này đã làm chấn động các quốc gia trong vùng Đông Nam Á và đã khiến dư luận khắp thế giới xôn xao. Ngoài ra cũng qua biến cố này sự rạn nứt giữa Trung Cộng và Nga Sô đã lộ rõ qua việc Nga Sô lên tiếng chỉ trích hành vi xâm lăng quần đảo Hoàng Sa của Trung Cộng.

Giá trị lịch sử và tầm mức quan trọng của biến cố này còn được thể hiện qua sự kiện Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã gởi thư riêng đến Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon để yêu cầu chánh phủ Hoa Kỳ “…hết lòng hỗ trợ về vật chất và chánh trị cần thiết…”

Bức thơ này đề ngày 22-1-1974 và do ông Kỳ, Phụ Tá Đặc Biệt Chánh Trị của Ngoại Trưởng Vương Văn Bắc mang đến Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ trưa ngày 23 tháng 1 năm 1974 và đã được chuyển về Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ vào lúc 6 giờ chiều.

Thay vì viết phúc thư trực tiếp đến Tổng Thống Thiệu, Tổng Thống Nixon đã gởi điện văn cho Đại Sứ Martin khoảng 3 tuần sau đó và chỉ thị ông đến gặp thẳng Tổng Thống Thiệu để diễn đạt lại nội dung của bản phúc đáp.

Dưới đây là bản dịch từ điện thư mật mang số 1035 của Đại Sứ Martin gởi về Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ.

Kính gởi: Ngài Richard Nixon tổng thống Hoa Kỳ

Tòa Bạch Ốc, Washington, D.C.

Kính thưa tổng thống,

Tôi mong tổng thống lưu tâm đến tình trạng nghiêm trọng hiện nay gây nên bởi hành động quân sự của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa trong vùng quần đảo Hoàng Sa ngoài khơi bờ biển Trung phần Việt Nam.

Việc tôi tiếp xúc trực tiếp với tổng thống trong cách thức khẩn cấp này phản ảnh sự quan tâm lớn lao của tôi trước những biến chuyển gần đây ở nơi ấy.

Tôi tin tổng thống nhận thức rõ những hành động chiến tranh Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã gây ra ở quần đảo Hoàng Sa là sự vi phạm trắng trợn chủ quyền và sự vẹn toàn lãnh thổ của VNCH. Chủ quyền của quốc gia chúng tôi trên những hòn đảo này được dựa trên lịch sử, điạ lý và những căn bản pháp lý cũng như dựa trên sự kiện VNCH từ lâu đã thực thi việc cai quản một cách hữu hiệu trên những đảo này.

Ngày 11 tháng 1 năm 1974 Bộ Ngoại Giao Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã đưa ra bản tuyên cáo đòi hỏi chủ quyền trên quần đảo này, và Bộ Ngoại Giao của chúng tôi đã lập tức bác bỏ luận điệu vô căn cứ của họ.

Tiếp theo yêu sách ngày 11 tháng 1 năm 1974, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã dùng vũ lực để chiếm một phần lãnh thổ quốc gia chúng tôi. Họ đã đưa binh sĩ và chiến hạm vào trong khu vực các đảo Cam Tuyền ,Quang Hòa và Duy Mộng thuộc quần đảo Hoàng Sa và đã đổ bộ quân lính lên các đảo này.

Để đối phó với các hành động gây chiến và để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và nền an ninh quốc gia của VNCH, lực lượng Hải Quân Việt Nam hiện diện trong vùng đã ra lịnh cho lực lượng xâm nhập rút ra khỏi vùng.

Thay vì tuân lệnh, các chiến hạm Trung Cộng từ ngày 18 tháng 1 năm 1974 đã chọn thái độ gây hấn với lối vận chuyển khiêu khích và đã tác xạ vào các toán lính và các đơn vị Hải Quân đưa đến sự thiệt hại về nhân mạng và vật chất.

Ngày 20 tháng 1 năm 1974 Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã gia tăng mức độ chiến tranh. Họ đưa phi cơ vào oanh tạc 3 đảo Cam Tuyền, Vĩnh Lạc và Hoàng Sa, trên các đảo này có quân của VNCH trú đóng và ngoài ra họ cũng đã đổ bộ quân lính để chiếm đoạt những đảo này.

Sự gây hấn hiện tại đối với VNCH không những chỉ đe dọa chủ quyền và an ninh của VNCH mà còn tạo nên mối hiểm họa cho nền hòa bình và sự ổn định trong vùng Đông Nam Á .Điều này hoàn toàn đi ngược lại văn tự và tinh thần của Bản Thông Cáo Chung Thượng Hải.

Bằng cách công khai xử dụng vũ lực để xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam, Trung Cộng đã ngang nhiên vi phạm luật quốc tế, hiến chương Liên Hiệp Quốc, Hiệp Định Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973 mà họ đã cam kết tôn trọng và chứng thư sau cùng ngày 2 tháng 3 năm 1973 của hội nghị thế giới về Việt Nam mà Trung Cộng là một nước ký tên vào. Trên thực tế, điều khoản 1 của Hiệp Định Paris và điều khoản 4 của chứng thư sau cùng đã là một sự giao ước cho tất cả các nước, nhất là cho các nước ký vào chứng thư là phải tôn trọng sự toàn vẹn lãnh thổ cuả Việt Nam.

Sự đe dọa nghiêm trọng đến nền hòa bình đang diễn ra và chỉ có thể tránh khỏi nếu Trung Cộng bị bắt buộc chấm dứt vai trò của kẻ xâm lược và hành động hiếu chiến đối với VNCH.

Sự lấn chiếm lãnh thổ VNCH của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa không những vi phạm trắng trợn luật pháp và trật tự quốc tế mà còn tạo nên nghi ngờ về sự hiệu lực của hai thành quả đáng kể nhất trong chánh sách ngoại giao của Tổng Thống đó là Bản Thông Cáo Chung Thượng Hải và hiệp định Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973.

Vì thế tôi viết thư này đến tổng thống để yêu cầu chánh phủ Hoa Kỳ hết lòng hỗ trợ chúng tôi về vật chất và chánh trị cần thiết mà chúng tôi cần đến để đưa đến sự phục hồi nguyên trạng và dàn xếp êm đẹp việc tranh chấp quốc tế trong quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Nhân cơ hội này, tôi xin đoan chắc lại với Tổng Thống lòng quý mến sâu xa của tôi.

Ký tên: Nguyễn Văn Thiệu

***

Thái độ của Mỹ sau trận Hoàng Sa 1974

Đô Đốc Thomas H. Moorer:

“Bốn tàu Nam Việt Nam và khoảng 11 tàu Trung Quốc sau đó có trận hải chiến trong khi quân Nam Việt Nam rút lui”. Ngoại Trưởng Mỹ Henry Kissinger hỏi tiếp: “Phản ứng của Bắc Việt trước toàn bộ vụ việc là thế nào?”. William Colby, giám đốc tình báo CIA, nói: “Họ bỏ qua, nói rằng nó nằm dưới vĩ tuyến 17 và vì thế không có ảnh hưởng đến họ. Nói chung, họ không đưa ra lập trường, không theo bên nào”.

Một số tư liệu giải mật gần đây của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cho người ta biết rõ hơn về thái độ lưng chừng của Mỹ trước tranh chấp quanh quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đầu thập niên 1970.

Loạt sách Quan Hệ Ngoại Giao Của Hoa Kỳ là hồ sơ chính thức về hoạt động ngoại giao của chính phủ Mỹ bắt đầu từ 1952, tập hợp các văn bản gốc như biên bản cuộc họp, điện tín, thư từ.

Các sử gia của Bộ Ngoại Giao Mỹ đã hoàn tất 25 cuốn về chính quyền Kennedy, 34 cuốn về chính quyền Johnson, trong khi ý định làm 54 tập về thời kỳ Nixon và Ford (1969-1976) vẫn còn dở dang.

Biên bản cuộc họp ngày 25/01/1974, một tuần sau trận hải chiến Hoàng Sa (17 – 19 tháng Giêng), tường thuật cuộc họp về Đông Dương do Ngoại Trưởng Mỹ Henry Kissinger chủ trì.

‘Tránh xa’

Henry Kissinger từng đóng vai trò quyết định trong chính sách của Hoa Kỳ với Đông Nam Á nhiều năm liền.

Đô Đốc Thomas H. Moorer, chủ tịch Hội Đồng Tham Mưu Liên Quân, báo cáo: “Chúng ta đã tránh xa vấn đề.”

Ngoại Trưởng Kissinger hỏi lại: “Chúng ta chưa bao giờ ủng hộ tuyên bố chủ quyền của họ [Nam Việt Nam]?”

Đô Đốc Moorer trả lời: “Toàn vùng đó là cả vấn đề. Trường Sa và các đảo khác có cùng vấn đề – đó là lãnh thổ đang tranh chấp. Chúng tôi đã ra lệnh tránh khỏi vùng đó”.

Ông Kissinger hỏi “Ai khởi đầu trận chiến ở Hoàng Sa?”

Đô Đốc Thomas H. Moorer mô tả: “Một đội tuần tra của Nam Việt Nam trong khu vực phát hiện một số tàu Trung Quốc tiến về các đảo; họ tiến đến và đưa khoảng 75 người lên đảo Duncan (Quang Hòa). Đó là một trong các đảo phía nam của nhóm Nguyệt Thiềm.

“Họ phải đối đầu với hai đại đội Trung Quốc. Phía Nam Việt Nam phải rút sang các đảo gần đó.

“Bốn tàu Nam Việt Nam và khoảng 11 tàu Trung Quốc sau đó có trận hải chiến trong khi quân Nam Việt Nam rút lui”.

Ngoại trưởng Mỹ hỏi tiếp: “Phản ứng của Bắc Việt trước toàn bộ vụ việc là thế nào?”

William Colby, giám đốc tình báo CIA, nói: “Họ bỏ qua, nói rằng nó nằm dưới vĩ tuyến 17 và vì thế không có ảnh hưởng đến họ. Nói chung, họ không đưa ra lập trường, không theo bên nào”.

Ông William Smyser, từ Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, nói thêm: “Nó đặt họ vào tình thế tế nhị. Họ không nói gì cho đến khi đã xong chuyện, và rồi chỉ nói họ lên án việc dùng vũ lực”.

Cuộc bàn luận tiếp tục với trình tự như sau:

“Ngoại Trưởng Kissinger: Tôi biết họ nói gì rồi, nhưng họ thực sự cảm thấy thế nào?

Đô Đốc Moorer: Tôi nghĩ họ lo lắng.

Ông Colby: Bắc Việt có thể muốn có mỏ dầu tại đó.

Ông Clements [Thứ trưởng Quốc Phòng]: Đừng quá mơ mộng về khả năng có dầu tại các đảo đó. Đó vẫn là chuyện trên trời. Hiện chẳng có gì ở đấy cả, chỉ là tương lai thôi. Hiện nay dầu hỏa ở đó không khả thi. Chỉ là tiềm năng.

Đô Đốc Moorer: Người Pháp nắm giữ các đảo trong thập niên 1930 cho đến khi Nhật chiếm trong Thế Chiến. Năm 1955, người Pháp từ bỏ chủ quyền các đảo và Nhật đã làm như thế năm 1951. Nam Việt Nam và Trung Cộng kể từ đó cùng nhận chủ quyền. Phi Luật Tân có tuyên bố yếu ớt, nhưng chỉ là trên giấy”.

Sau đó, Đô Đốc Moorer xác nhận lại với Henry Kissinger: “Chỉ thị của tôi là tránh xa khỏi toàn bộ khu vực.”

Cũng cần nhắc lại, trong một cuộc gặp trước đó, ngày 23/1/1974 với ông Han Hsu, quyền trưởng phái đoàn liên lạc của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa tại Washington, Ngoại Trưởng Kissinger nói: “Hoa Kỳ không có lập trường trong việc ủng hộ tuyên bố chủ quyền của Nam Việt Nam tại các đảo này.”

Bảo vệ Phi Luật Tân hay không

Trong một cuộc họp ngày 31/1/1974 của Bộ Ngoại Giao, Ngoại Trưởng Kissinger khi đó được thông báo: “Không có dấu hiệu Trung Quốc định tiến về Trường Sa. Dẫu vậy, có sự lo ngại đáng kể từ phía Nhật, Phi Luật Tân và đặc biệt là Nam Việt Nam, mà theo tin báo chí thì hôm nay đã gửi đoàn 200 người ra chiếm một số hòn đảo lâu nay không ai ở trong khu vực Trường Sa.”

“Đài Loan đã chiếm ít nhất một đảo và Trung Quốc cũng vậy.”

Trong bối cảnh này, Phi Luật Tân đã hỏi Mỹ liệu Hiệp Ước An Ninh Mỹ-Phi Luật Tân có được dùng nếu quân Phi Luật Tân kéo ra Trường Sa và bị Trung Quốc tấn công.

Các quan chức Mỹ có mặt trong cuộc họp đồng ý rằng không có câu trả lời rõ rệt và họ muốn để ngỏ sự mơ hồ trong câu trả lời cho Phi Luật Tân.

Một người trong cuộc họp, ông Hummel, nói: “Tạp âm xung quanh các tuyên bố của chúng ta về những hòn đảo này hẳn đã đủ cho người Phi Luật Tân hiểu rằng chúng ta không có ý định hay chúng ta không muốn.”

Ngoại trưởng Kissinger kết luận: “Câu trả lời của chúng ta là đúng. Chúng ta không nên nói chúng ta sẽ bảo vệ họ.”

Chỉ cho đến gần đây, hồi tháng Bảy 2011, Thượng Nghị Sĩ Jim Webb, chủ tịch Ủy Ban Đông Á Và Thái Bình Dương của Thượng Viện Mỹ, đã kêu gọi Bộ Ngoại Giao Mỹ giải thích công khai về hiệp ước an ninh Mỹ-Phi Luật Tân trong tranh chấp Biển Đông.

Ông Jim Webb khi đó nói: “Sự minh bạch của chúng ta trong vấn đề này là vô cùng quan trọng với đồng minh, Phi Luật Tân và cho toàn vùng Đông Nam Á”.

***

Bạch Đằng Giang, Trên Sông Bạch Đằng, Hội Nghị Diên Hồng… đều là những ca khúc hùng tráng, ngợi ca tinh thần yêu nước và công cuộc đấu tranh thần thánh của toàn dân Đại Việt trước sự xâm lăng của giặc Nguyên Mông. Bài hát làm cho chúng ta không thể không nhớ tới đia danh huyền thoại Hoàng Sa của VN ngoài biển Đông đã đồng hành với dân tộc và non nuớc Việt hơn 43 năm qua trong hào khí của Hải Quân VNCH, theo gương người anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo ngăn chống giặc Tàu giữ nước.

Đêm nay buồn đau trước đại họa mất nước về tay TC xâm lăng và cưỡng đoạt lần hồi non sông gấm vóc Việt, trước sự hèn hạ đầu hàng giặc của CSVN, bổng dưng nhớ tới thời oanh liệt của giống nòi, nay đã lẫn khuất vào phong ba dâu bễ của cuộc đời. Đâu rồi những trận Hải Chiến hào hùng năm xưa, khi hồi tưởng đã khiến cho cõi hồn không khỏi dấy lên nổi bi thương thãm tuyệt

“Nam quốc sơn hà, Nam đế cư
Tiệt nhiên phận định tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!”

Tất cả nay chỉ còn trong những trang Việt sử.

Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng Giêng 2017

MƯỜNG GIANG

Share this post