Thằng Hên – Lâm Thụy Phong

Thằng Hên – Lâm Thụy Phong

Thằng Hên cùng tuổi với tôi. Nhà nó và nhà tôi cách nhau bởi con đường Bắc Việt chạy dài đi tới Cầu Tre.

Gia đình gốc Hoa lâu đời, thích húp nước mắm hơn xì dầu. Trong nhà, ngoài bàn thờ ông bà, còn có bàn thờ Quan Công với cái đèn dầu “hột vịt “ thắp quanh năm, kế bên là bàn thờ ông Địa cười thật tươi nhìn dĩa trái cây, lúc thì chuối vàng tươi, lúc thì cam sành xanh thật mát mắt.

Thằng Hên mến bạn bè, tánh thảo ăn. Mỗi lần tôi đi qua nhà chơi, nó hay lấy trái cây cúng trên bàn thờ chia cho tôi. Có lần tôi nói, mầy làm vậy không sợ má mầy rầy sao? Nó trả lời, má tao dạy rồi, xá ba xá rồi cứ lấy mà ăn.

Buổi sáng nó học trường Tàu, viết bút lông. Một gạch là chữ nhứt, hai gạch chữ nhị, ba gạch chữ tam, gạch một đống là một đống gạch xà bần. Có vẻ nó không mặn mà gì lắm với thiên trời, địa đất, thất mất, tồn còn. Buổi chiều, nó theo học trường Khai Tâm, gần nhà độ vài ba chục thước.

Từ nhỏ, thằng Hên cắt tóc thật cao, nhìn thấy da đầu. Khuôn mặt tròn, má lúm đồng tiền, lúc nào cũng thấy nó cười. Xóm trên, xóm dưới  ai gặp nó cũng muốn nựng, muốn ôm.

Cả hai đứa tụi tôi đều mê đá banh. Nhờ ông Huyền Vũ  “dẫn“ banh trên đài phát thanh nên những cái tên vang bóng một thời như Tổng Tham Mưu, Quan Thuế, Ngôi Sao Gia Định, Thương Cảng Saigon … cùng các cầu thủ đời đời vang bóng như Tam Lang, Ngôn, Rạng, Đực một, Đực hai … đã in hằn trong trí những đứa trẻ mê lừa banh như tụi tôi.

Những ngày nghỉ học, Hên và tôi thường rủ nhau vô đá banh trong sân cỏ Nhị Tì Quảng Đông, cách một bức tường khá cao bên kia là hương lộ băng qua Bình Thới. Kế bên sân cỏ là cái hồ nước mưa khá rộng, nước trong vắt quanh năm có bông súng và lục bình bồng bềnh trên mặt nước theo từng cơn gió nhẹ. Bao nhiêu câu truyện ma được nghe kể tại đây, tôi nghe cũng ớn, nhưng tật ưa đá banh lấn cái ớn ma nên quên ma để lừa banh.

Cũng tại Nhị Tì Quảng Đông này đã xảy ra trận chiến dành từng ngôi mộ giữa Biệt Động Quân VNCH và các mũi tiến quân của cộng sản từ Cầu Tre đi lên. Tết Mậu Thân 1968, Kalachnikov bội ước, xách AK đi vào thành phố, máu đổ thịt rơi!

Trở về với thằng Hên. Cũng nhờ cái tên mà từ nhỏ, mỗi dịp Tết Nguyên Đán là nó … hốt bạc. Từ trước Tết, xóm trên xuống tới xóm dưới, nhà nào cũng “đặt hàng“ thằng Hên: xông đất lấy hên cho năm mới, sức khỏe sung mãn, tài lộc dồi dào, tiền vô như nước sông nước biển, tiền ra như nước … đái són!

Cho nên từ sáng mùng một Tết, thằng Hên đã thức sớm, diện thiệt cỏn, đi lòng vòng lượm tiền lì xì.

Chỉ buổi sáng ngày đầu năm, nó “vô mánh” khá bộn, rủn rỉn bạc giấy và bạc cắc vài trăm. Một số tiền không nhỏ đối với con nít vào đầu thập niên 60 của thế kỷ 20.

Tánh của nó rất tốt bụng, thảo ăn. Có tiền trong túi, gặp bạn bè quen biết đều hỏi ăn sáng gì chưa, cầm tiền nè đi ăn đi! Mặc dù nó biết ngày Tết, trong túi đứa nào cũng có su, không nhiều thì ít.

Cứ đều đều như vậy , tiền bá tánh lì xì kiếm … Hên. Nó ngồi sòng bầu cua cá cọp, hay lắc hột xí ngầu. Trưa, cùng tôi, lúc thì phở “Xuân Trường“ tái, chín, sụn, ngầu, cho thêm vài miếng “khăn lông”. Tối, có khi là mì khô, mì ướt trong ngỏ cụt đầu đường Chợ Thiếc, có khi là bột chiên của ông Tiều với trứng hột vịt trên đường Tôn Thất Hiệp …

Chúng tôi chung một thời tuổi trẻ êm đềm cho đến cuối năm 1963, gia đình thằng Hên dọn qua Phú Thọ Hoà. Rồi mất liên lạc nhau. Tôi quên từ đó (và không quên) thằng Hên của tôi, với cái đầu húi tóc thật cao, má lúm đồng tiền, nụ cười luôn nở trên khuôn mặt tròn như ông Địa , dễ dãi và tốt bụng.

Năm 2000, trở về thăm lại quê hương. Bao đổi thay theo vận nước, biển xanh hoá thành ruộng dâu. Con đường Bắc Việt ngày nào cũng đổi tên, tôi nhớ thằng Hên ngày nào. Cái quán nước của ông Hai già, người Bắc di cư, Hên và tôi ngồi ăn gỏi cuốn, uống nước đá đậu đỏ bánh lọt mấy mươi năm về trước, không còn.  Con đường được mở rộng hơn, tráng nhựa … Ông hai “nước đá“ còn không. Hỏi thăm những người chung quanh, không ai biết. Thằng Hên trôi dạt nơi đâu, còn hay mất?

Một buổi trưa, tôi quyết định qua Phú Thọ Hoà tìm thằng Hên. Tôi biết là không dễ vì mất liên lạc quá lâu và tôi rất ít thông tin về nó. Qua tới khu «ve chai“ Phú Thọ Hoà, tôi lần theo từng nhà để hỏi thăm với rất ít tin tức mà tôi biết về Hên. Người trẻ lắc đầu, người có tuổi cũng không ai biết.
Nắng oi bức, mồ hôi ướt áo, hy vọng tìm được thằng Hên trong tôi tan dần như nước đá dưới nắng. Khát nước, tôi ghé lại một xe nước mía lề đường để uống một ly nước mía “ép liền« với “nước đá sạch“.

Trong lúc chờ đợi, tôi làm quen với một người thợ sửa, vá xe  ngồi gần đó. Anh cởi mở cho tôi biết là lính của chế độ cũ, sống ở khu này từ “thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm“ (sic). Nghe vậy, tự nhiên tôi vô đề liền:

-“Tôi muốn tìm một người bạn tên Hên, dọn về đây năm 1963 … “

Anh nói liền:

-“ Có phải nó có đứa em gái tên H. không? Nó mất tích lâu lắm rồi anh. H. ở trong hẻm bên kia, không biết giờ nầy nó đi bán hay có ở nhà. Anh ngồi đợi đây, tôi chạy vô kiếm rồi cho anh hay liền …”

Nói dứt câu, anh chạy thật nhanh qua đường, vô hẻm và chỉ hai phút sau trở ra nói:

-“H. đi bán, chiều về nhiều khi rất trễ. Sáng mai anh trở lại, tôi nhắn với nó đợi anh … “. Tôi mời anh uống nước, ngồi một lúc có khách đem xe lại vá. Tôi xin phép về và hẹn ngày mai.

Đêm đó, trời nóng, tôi khó dỗ giấc ngủ. Trong đầu tôi là hình ảnh của thằng Hên, má lúm đồng tiền, cười vui như ông Địa. Những ngày Tết, bầu cua cá cọp, tiền lì xì lấy …hên, đá banh trong Nhị Tì … Thằng Hên không còn. Mệt mõi, nhìn đồng hồ đã hơn ba giờ sáng, tôi thiếp đi lúc nào không hay. Trong giấc ngủ, tôi thấy thằng Hên, vẫn nụ cười thường trực trên môi…

Sáng hôm sau, tôi qua nhà H. thật sớm với người lính chế độ cũ vá bánh xe đầu đường. H. tiếp chúng tôi thật niềm nở, chân tình … Thằng Hên vô Biệt Kích năm 1973 sau hai năm đi Nhảy Dù. Chuyến bay cuối cùng để nó trở thành Kinh Kha, tháng 11 năm 1974.

Tôi không bao giờ gặp lại thằng Hên, mãi mãi từ đây. Nhưng thằng Hên không bao giờ mất với nụ cười thật đẹp, thật dễ thương đi vào thiên thu.

Lâm Thụy Phong  (PK 1964- 1971)

Share this post