Thay Ngôi Đổi Chủ – Phạm Đình Hưng

Thay Ngôi Đổi Chủ – Phạm Đình Hưng

LỜI TÁC GIẢ

Sanh năm Ất Hợi (1935) tại An Phú Xã, tỉnh Thủ Dầu Một, tốt nghiệp đại học và cao học tại Sài Gòn, tôi đã trải nghiệm từ thuở thiếu thời hai cuộc chiến tranh ác liệt kéo dài 30 năm. Trong ba thập niên của thế kỷ 20, tôi đã lần lượt phục vụ chánh quyền trung ương tại Phủ Thủ Hiến Nam Phần, Phủ Tổng Thống, Bộ Nội Vụ, Pháp Đình Sài Gòn, Quốc Hội Lập Hiến và Giám Sát Viện. Học vấn và công vụ đã giúp tôi tích lũy một số kiến thức và kinh nghiệm trong nhiệm vụ quản lý đất nước, điều hành guồng máy hành chánh quốc gia, soạn thảo luật pháp và hiến pháp, đảm bảo công lý trong tinh thần thượng tôn luật pháp, tôn trọng quyền lợi của Tổ quốc và Nhân dân. Từ chế độ Quốc Gia Việt Nam của Quốc trưởng Bảo Đại (1948-1955) đến chánh thể Đệ Nhứt Cộng Hòa (1955-1963) của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và chánh thể Đệ nhị Cộng Hòa (1967-1975) của Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, các nhà lãnh đạo chánh quyền Sài Gòn đều cố gắng bảo vệ độc lập của nước Việt Nam, duy trì toàn vẹn lãnh thổ, phát triển đất nước, phục vụ nhân dân và xây dựng dân chủ ngay trong hoàn cảnh chiến tranh. Mặc dầu phải liên tục đối phó với các hành động khủng bố, phá hoại và xâm lăng của phía Cộng Sản, Sài Gòn vẫn là Hòn Ngọc Viễn Đông xinh đẹp, niềm mơ ước của một số nước khác ở Đông Nam Á và Đông Bắc Ả như Tân Gia Bae và Nam Hàn (South Korea).

Sau ngày 30-4-1975, tôi lại có thêm một trải nghiệm đau thương về chế độ Cộng Sản Việt Nam, một chế độ ác độc chưa từng có trong lịch sử loài người trước thế kỷ 20. Khi thắng trận từ miền Bắc đến tha hồ bắn giết người vô tội, cướp đoạt tài sản của nhân dân miền Nam và chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa, lùa cả triệu sĩ quan, viên chức của chế độ cũ, cán bộ, đảng viên các chánh đảng và tổ chức chánh tri quốc gia, nhà báo, văn nghệ sĩ và nhân viên Sở Mỹ vào các nhà tù hoặc trại tập trung cải tạo để hành hạ, trả thù một cách đê tiện, bỏ đói hoặc bắn giết không cần tòa án xét xử. Mười năm sống dưới chế độ cộng sản đã cho tôi thấy rõ bộ mặt thật của người cộng sản Việt Nam. Đó là hiện thân của một sinh vật mặt người dạ quỷ. Tám năm tù trong các trại tập trung cải tạo cộng sản ờ miền Bắc đã cho tôi nhận định hai câu nói để đời sau đây của cố Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu là chân lý: “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói. Hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm”. “Mất nước là mất tât cả”.

Kiến thức và kinh nghiệm chánh trị đã cung cấp cho tôi chất liệu để hoàn thành tác phẩm “Thay Ngôi Đổi Chủ” bao gồm 25 bài viết về lược sử chánh trị Việt Nam trong thế kỷ 20 và 21. Các mỹ từ “Cách Mạng Mùa Thu” “giải phóng dân tộc” và “thống nhứt đất nước” chỉ là một cuộc Huynh Đệ Tương Tàn (Fratricide) nhằm mục đích thay ngôi, đoạt vị và đổi chủ theo kế hoạch của Trung Cộng. Người chỉ đạo thực hiện âm mưu tàn sát đồng bào Lạc Việt là một gián điệp Tàu dân tộc Hẹ (Hakka) tên Hồ Quang, bí danh của Hồ Tập Chương. Tôi h vọng công trình tâm huyết của tôi có thể soi sáng và cống hiến các thế hệ trẻ một lược sử chính xác của nước Việt Nam trong thời kỳ cận và hiện đại mà đảng Cộng sản đã sửa đổi hoàn toàn để lừa dối nhân dân. Tác giả cũng thành thật cám ơn các thân hữu và độc giả sẽ vui lòng chỉ dẫn các sai lầm và khiếm khuyết để giúp bổ khuyết tác phẩm nầy.

Nam California, ngày mồng một Tết năm Bính Thân

Cựu Thẩm Phán Phạm Đình Hưng

***

THAY NGÔI ĐỔI CHỦ

HỒ CHÍ MINH: MỘT ANH HÙNG HAY GIAN HÙNG

Từ năm 1945 đến nay, hệ thống tuyên truyền của đảng Cộng Sản Việt Nam không ngớt tôn sùng và thần tượng hóa Hồ Chí Minh. Nhân vật trăm tên ngàn mặt nầy đã được chế độ cộng sản Việt Nam tôn vinh như một vị anh hùng tái thế đứng cao nhứt trong lịch sử nước Việt. Thậm chí, đảng Công Sản Việt Nam còn muốn biến Hồ Chí Minh thành Phật: tại Đại Nam Quốc Tự trong tỉnh Bình Dương, tượng vàng Hồ Chí Minh đã được đặt chung với tượng Đức Phật Thích Ca và tượng Hùng Vương để thiện nam tín nữ bái lạy.

Trong Đại hội 12 của đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức tại Hà Nội tháng 1 năm 2016, hình ảnh hai ông Tây râu xòm xa lạ đối với đồng bào người Việt vẫn được treo trên cao để toàn đảng, toàn quân, toàn dân chiêm ngưỡng, thờ phượng, bài Quốc tế ca vẫn được hát vang rền. Theo nghị quyết của Đại hội 12, nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tiếp tục tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng của chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh mặc dầu chủ nghĩa cộng sản của Karl Marx và Vladimir Lenin đã bị thế giới vứt bỏ vào xọt rác từ năm 1991 và Hồ Chí Minh đã từng tuyên bố ông ta không có một tư tưởng nào ngoài chủ nghĩa ngoại lai của Karl Marx và Vladimir Lenin.

Trước sự dối trá và lừa gạt, đổi trắng thay đen của bộ máy tuyên truyền cộng sản, các sử liệu chính xác có thể giúp dân tộc Việt Nam chúng ta minh định Hồ Chí Minh là một vị anh hùng hay một kẻ gian hùng và ông ta có tư tưởng gì đặc biệt ngoài học thuyết của Marx, Lenin và Mao Trạch Đông.

Một người hám danh, tham lợi

Sanh năm 1890, Nguyễn Sinh Cung đổi tên là Nguyễn Tất Thành lúc học tại trường Quốc Học ở Huế nhờ có cha là Nguyễn Sinh Sắc đang làm Tri huyện của Nam triều. Khi rời bỏ rất sớm trường Quốc Học đi vào Phan Thiết dạy học tại trường tư thục Dục Anh một thời gian ngắn, Nguyễn Tất Thành chỉ có trình độ Tiểu học. Không ai biết Nguyễn Tất Thành có bằng Tiểu Học (CEPCI: Certificat d’Etudes Primaires Complémentaires Indochinoises) hay không? Từ Phan Thiết, Nguyễn Tất Thành đi vào Sài Gòn tìm việc làm. Năm 1911, nhằm mục đích cải thiện đời sống, Nguyễn Tất Thành xin làm phụ bếp trên tàu Amiral Latouche Treville để có cơ hội xuất dương sang Pháp. Trên đường biển từ Sài Gòn đến Marseille, một hải cảng ở phía Nam nước Pháp, Nguyễn Tất Thành đã nhận được sự giúp đỡ và thương mến của Bùi Quang Chiều, Nghị viên Hội Đồng Nam Kỳ. Trong sổ lương của hảng tàu Les Chargeurs Reunis, Nguyễn Tất Thành mang tên Văn Ba.

Vừa đến Marseille, Nguyễn Tất Thành đã có tham vọng làm quan của Pháp quốc: Đệ đơn đề ngày 15-9-1911 thỉnh cầu Tống Thống Pháp chấp thuận cho đương sự nhập học trường École Coloniale (trường Thuộc Địa để trở thành một administrateur (nhà cai trị) của Pháp quốc tại các thuộc địa.

Tổng thống Pháp đã bác đơn xin nhập học trường École Coloniale của Nguyễn Tất Thành vì xét thấy đương sự có một trình độ học vấn quá kém. Riêng cá nhân tôi khi xem qua lá đơn viết tay bằng tiếng Pháp của Nguyễn Tất Thành đã nhận thấy ngay 3 lỗi về văn phạm và chánh tả trong nội dung lá đơn ngắn của đương sự:

– Lỗi chánh tả: Viết substance (bản chất) thay vì subsistance (sanh sống)

– Lỗi văn phạm: Viết employe à la Compagnie thay vì employe par la Compagnie (nhân viên do công ty tuyển dụng)

– Lỗi vãn phạm: Viết agrẻer Monsieur le President thay vì Veuillez agréer Monsieur le President.

Nếu tổng thống Pháp chấp thuận thỉnh cầu của Nguyễn Tất Thành để giúp đương sự trở thành một ông quan cai trị các thuộc địa của Pháp có quyền uy, địa vị cao và lương bổng hậu thi chắc chắn Việt Nam đã không có một ông Vua cách mạng vô sản tên Hồ Chí Minh tại Hà Nội và đã tránh khỏi hai cuộc chiến tranh tàn khốc.

Từ năm 1912 đến 1917: Nguyễn Tất Thành chỉ tìm được những công việc làm chân tay như bồi tàu, phụ bếp hoặc thợ làm bánh mì trên các thương thuyền viễn dương hoặc trong các khách sạn, tiệm ăn ở miền Đông Hoa Kỳ và Luân Đôn, thủ đô Anh Quốc. Ngay các tài liệu và sách báo của đảng Cộng Sản Việt Nam cũng không nói đến quá trình học vấn của Nguyễn Tất Thành tại bất cứ trường trung hoặc đại học nào. Vì đi đó đây trên các thương thuyền, Nguyễn Tất Thành có khả năng tạm sử dụng vài ngôn ngữ ngoại quốc như Pháp, Anh, Tây Ban Nha nhưng không thể viết đúng chánh tả và văn phạm. Khi nói ngoại ngữ, nhiều khi Nguyễn Tấn Thành phải dùng tiếng bồi và không chia động từ.

Từ năm 1917 đến 1924: Nguyễn Tất Thành từ London trở qua Paris năm 1917 theo lời gọi của Phan Châu Trinh để gia nhập Nhóm Ngũ Long và phụ trách nhiệm vụ của một người chạy việc, giao dịch bên ngoài, nhứt là với các tòa báo. Nhóm Ngũ Long gồm có 5 nhân vật theo thứ tự tuôi tác kê sau:

Phó Bảng Phan Châu Trinh (1872-1926)

Luật Sư Tiến Sĩ Phan văn Trường (1876-1933)

Nguyễn Tất Thành (1890-1969)

Kỹ Sư Nguyễn Thế Truyền (1898-1969)

Cử nhân Luật Nguyễn An Ninh (1900-1943)

Trong Nhóm Ngũ Long, Nguyễn Tất Thành là người ít học nhất.

Nguyễn Tất Thành không thỏa mãn với công việc hằng ngày của một người thợ chụp ảnh và người giao dịch bên ngoài của Nhóm Ngũ Long.

Để xây dựng công danh sự nghiệp, Nguyễn Tất Thành gia nhập đảng Cộng Sản Pháp. Mặc dầu là người giới thiệu Nguyễn Tất Thành gia nhập đảng Cộng Sản Pháp năm 1920 nhưng vài năm sau Nguyễn Thế Truyền đã sáng suốt từ bỏ đảng Cộng Sản Pháp còn Nguyễn Tất Thành (lấy bút hiệu Nguyễn Ái Quốc của Nhóm Ngũ Long làm bí danh cùa mình) thì rất vui mừng được Đệ Tam Quốc tế Cộng Sản tuyển dụng làm cán bộ lảnh lương tháng kể từ năm 1924 để thực hiên nhiệm vụ bành trướng chủ nghĩa Cộng Sản tại Á Châu. Ngoài niềm tin tuyệt đối vào chủ thuyết Marx-Lenin như một thứ tôn giáo mới, Nguyễn Tất Thành còn mang ơn Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản đã trọng dụng một người không có trình độ văn hóa cao như ông ta.

Từ năm 1924 đến 1929: Nguyễn Tất Thành hoạt động tại Quảng Đông dưới bí danh Lý Thụy và tại Siam (Thái Lan) dưới bí danh Thau Chin. Năm 1925, trong khi hoạt động tại Trung Hoa, Nguyễn Tất Thành đã kiếm được khả nhiều tiền khi bán đứng chí sĩ Phan Bội Châu cho mật thám Pháp để nhận lãnh một số tiền thưởng lớn.

Từ năm 1930 đến 1932: Năm 1930, Nguyễn Tất Thành nhận lịnh của Mạc Tư Khoa trở qua Hồng Kông hoạt động dưới bí danh Tống Văn Sơ để thành lập đảng Cộng Sản Việt Nam với một số tiền trợ cấp lớn của Josef Stalin, tổng bí thư đảng Cộng Sản Liên Sô. Năm 1931, trong khi công tác bí mật cho Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản tại Hồng Kông, Tống văn Sơ đã bị Cảnh sát Anh bắt giam nhưng cho nằm điều trị bệnh lao phổi trong một bệnh viện và chết trong bệnh viện này theo tin tức của báo chí Hong Kong.

Từ năm 1932 đến 1938: Nguyễn Tất Thành giả (mang bí danh Nguyễn Ái Quốc hoặc P.C Lin) bị thất sủng vỉ Josef Stalin khiển trách ông ta đã phát động nông nỗi cuộc khởi nghĩa Xô viết Nghệ-Tỉnh năm 1931 làm tổn thương quan hệ ngoại giao giữa Pháp và Liên Xô. Năm 1935, Nguyễn Tất Thành còn suýt bị Stalin giết chết. Mặc dầu luôn luôn phập phòng lo sợ bị thanh trừng nhưng Nguyễn Tất Thành vẫn sống xa hoa và ăn mặc sang trọng đi dạ hội cùng với Nguyễn Thị Minh Khai, người đàn bà mang bí danh Phan Lan được KGB ghi nhận trong hồ sơ là vợ của Nguyễn Ái Quốc. Trong bản tự khai lý lịch, Nguyễn Thị Minh Khai (bí danh Phan Lan) cũng ghi là vợ của Quốc (7).

Từ 1938 đến 1945: Năm 1938, Nguyễn Tất Thành âm thầm rời khỏi Mạc Tư Khoa, đi đến Diên An (thủ đô của Hồng Quân Trung quốc), phục vụ Quân Đội Nhân Dân Giải Phóng Trung Quốc với bí danh Hồ Quang mang cấp bậc thiếu tá. Tham vong vinh quang và quyền lực đã thúc đấy Hồ Quang đưa ra một số cam kết bí mật liên quan đến các vấn đề trọng đại của nước Việt Nam để lấy lòng Mao Trạch Đông. Các cam kết bí mật của Hồ Quang đã gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho sự tồn vong của đất nước và dân tộc Việt Nam sau này. Trong các cuộc thương thuyết về ranh giới của Trung Quốc và Việt Nam trên đất liền và biển Đông, phái đoàn Tàu Cộng đã đe dọa công bố các bí mật của Hồ Quang để bắt buộc phái đoàn Việt Cộng phải cắt đất, biển và tài nguyên quốc gia dâng lên thiên triều Bắc kinh.

Cuối năm 1940, với tư cách đảng viên của đảng Cộng Sản Trung Quốc, Hồ Quang được Mao Trạch Đông sai phái về công tác tại Quảng Tây, Vân Nam và Cao Bằng để thành lập Mặt Trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội (Việt Minh) chuẩn bị cướp chánh quyền khi thời cơ thuận lợi. Lúc nào trở về trú ẩn trong hang Pác Bó (Cao Bằng), Nguyễn Tất Thành được cán binh Trung Cộng và người thiểu số của Chu văn Tấn ở biên giới Việt-Hoa bảo vệ cẩn mật.

Năm 1942, Nguyễn Tất Thành (Hồ Quang) bị tướng Trương Phát Khuê của Trung Hoa Quốc Dân Đảng bắt giam tại Liêu Châu (Quảng Tây) vì tình nghi y là gián điệp cộng sản. Nhờ sự can thiệp của Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tất Thành (Hồ Quang) được tra tự do với điều kiện phải phục vụ Trung Hoa Quốc Dân Đảng và Việt Nam Quốc Dân Đảng. Sau khi được tướng Trương Phát Khuê trả tự do, Nguyễn Tất Thành đã được dạy học tập Tam Dân Chủ Nghĩa của Tôn Dật Tiên. Vì vậy, các khẩu hiệu “Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc” do Hồ Chí Minh đề cao khi thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã sao chép từ học thuyết Tam Dân Chủ Nghĩa: Dân tộc Độc lập, Dàn quyền Tự do, Dân sinh Hạnh phúc. Năm 1943, từ Quàng Tây trở về hang Pác Bó, Nguyễn Tất Thành (Hồ Quang) lấy một bí danh mới: Hô Chí Minh.

Từ năm 1945 đến 1950: Ngày 19-8-1945, Việt Minh cướp được chảnh quyền, Hồ Chí Minh trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chu Cộng Hòa, thực hiện được giấc mơ vinh quang và quyền lực. Tuy nhiên, từ năm 1945 đên 1949, ngụy quyền Hồ Chí Minh xây dựng trên cơ sở bạo lực cách mạng đã không được bất cứ quốc gia nào trên thê giới công nhận, kể cả Liên Xô. Trong giai đoạn 5 năm nầy, bộ đội Việt Minh rất yếu và “phải chiến đấu trong vòng vây của quân Pháp” (theo lời các cố vấn Tàu). Chính Hồ Chí Minh đã suýt bị quân Pháp bắt tại Việt Bắc nhưng may mắn trốn thoát. Tham vọng quyền lực của Hồ Chí Minh sắp tiêu tan thành mây khói trước thế thượng phong của liên quân Pháp-Việt. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh vẫn không từ bỏ giấc mơ thống trị Việt Nam với bàn tay sắt của đảng Cộng Sản do ông ta lãnh đạo và rèn luyện. Mặc dầu nước Việt Nam đã thu hồi độc lập hoàn toàn trên cơ sở hiệp định Elysée ký kết ngày 8-3-1949 giữa cựu Hoàng Bảo Đại và Tổng Thống IJháp Vincent Auriol, Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục chiến tranh để duy trì quyển bính và nhuộm đỏ bán đảo Đông Dương theo chỉ thị của Trung Quốc và Liên Xô. Mục đích cuối cùng của Mồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam không phái là giành độc lập cho dân tộc Việt Nam mà là áp đặt chủ nghĩa cộng sản trên đất nước ta.

(Xem Cương lĩnh chánh trị của đảng Cộng Sản Việt Nam do Bí thư Trần Phú soạn thảo)

Lập trường hiếu chiến của Hồ Chí Minh càng được củng cố sau khi Mao Trạch Đông (Mao Tse Tung hay Mao Zedong) đánh thắng Tưởng Giới Thạch (Chiang Kai Chek) tại Trung Hoa và thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa ngày 1-10-1949. Máu của hàng trăm ngàn đồng bào người Việt tiếp tục đỗ ra trong cuộc chiến tranh Đông Dương (1945. 1954) vì tham vọng quyền bính của một người Tàu: Hồ Chí Minh.

Từ 1950 đến 1954: Thời cơ đã xoay chiều thuận lợi cho Hồ Chỉ Minh. Năm 1950, ngay sau khi được Trung Cộng và Liên Xô công nhận, Hồ Chí Minh đã đi sang Bắc kinh và Moscow cầu xin viện trợ quân sự để giúp ông ta trở về Bắc bộ phủ ngồi trên ngôi Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa kiêm Chủ tịch đảng Cộng Sản Việt Nam. Cũng như Vua Lê Chiêu Thống của nhà Hậu Lê cầu viện nhà Thanh năm 1788, Hồ Chí Minh đã hai lần sang Trung Hoa (năm 1950 và 1951) khẩn cầu quân Tàu nhập Việt để đánh Pháp, huấn luyện cán bộ Việt Minh, đồng thời tái lập ảnh hường thống trị của Trung quốc trên xứ chư hầu “An Nam”, tuyển chọn tay sai trung thành với Bắc kinh, điều nghiên các vị trí chiến lược trọng yếu của nước ta và Hán hóa dần dân dân tộc Việt.. Viện trợ quân sự của Trung Quốc đã giúp cho Hồ Chí Minh trở về Hà Nội ngự trị miền Bắc Việt Nam sau chiến thắng Điện Biên Phủ nhờ hỏa lực hùng hậu của Pháo binh Trung Quốc dưới quyền chỉ huy của tướng Tàu Vi Quốc Thanh.

Từ năm 1955 đến ngày 2-9-1969 (ngày Hồ Chí Minh tạ thế); Hồ Chí Minh đã mua được danh vọng và quyền lực với một giá quá đắt: Xương máu của hàng trăm ngàn đồng bào vô tội và hai quân đảo Hoàng Sa và Trường Sa chuyển nhượng chánh thức cho Trung Quốc do giác thư ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm văn Đồng để trả nợ chiến tranh và cầu xin giúp đỡ xâm chiếm miền Nam Việt Nam.

Ngồi làm vua của nửa nước Việt Nam, Hồ Chí Minh vẫn chưa thỏa mãn. “Bác Hô kính yêu ” vẫn muốn làm vua của cả nước Việt Nam thống nhất dầu có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn và hy sinh đến người Việt cuối cùng. Vì tham vọng quyền lực vô bờ bến, Hồ Chí Minh tiếp tục cầu xin viện trợ của Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa để phát động chiến tranh thôn tính miền Nam. Ngày đi chầu hai sư tổ Karl Marx và Vladimir Lenin, Hồ Chí Minh còn tiếc nuối không thấy được vinh quang ngự trị cả hai miền Nam Bắc Việt Nam như đàn em Lê Duẫn.

Một người tàn bạo khủng khiếp

Say mê chủ nghĩa cộng sản như một tín đồ nhiệt thành tuân phục các giáo điều của một tôn giáo mới, Nguyễn Tất Thành đã đem chủ nghĩa ngoại lai nẩy thực nghiệm lần đầu tiên tại Việt Nam năm 1931: phát động từ Hong Kong cuộc nổi dậy của nông dân hai tỉnh Nghệ An và Hà Tỉnh. Trong cuộc khởi nghĩa gọi là Xô viết Nghệ-Tỉnh, chủ trương bạo lực khủng khiếp đã được thực hiện để tận diệt các thành phần xã hội không phải là nông dân vô sản:

“Trí, Phú, Địa, Hào
Đào tận gốc, trốc tận rễ”

Cuộc nôi dậy nầy đã giết khá nhiều người nhưng thất bại. Nguyễn Tất Thành (bí danh Tống văn Sơ) đã bị truy tố trước tòa án Vinh, xử tử hình khiếm diện nhưng được chánh quyền Anh tại Hồng Kông che chở, không dẫn độ về Việt Nam để thụ hình vì phạm nhân can tội chánh trị chớ không phải hình sự. Ở lại Hồng Kông tiếp tục hoạt động cho Cộng Sản, Nguyễn Tất Thành đã bị cảnh sát Anh bắt giữ và cho nằm bệnh viện đề điều trị bệnh lao phổi trầm trọng. Năm 1932, Nguyễn Tất Thành đã qua đời vì bệnh lao phổi không chửa trị được trong thập niên 1930.

Đế bành trướng chủ nghĩa Cộng Sản trên bán đảo Đông Dương và tái lập ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Việt Nam, Mao Trạch Đông đã phái Thiếu Tá Hồ Quang của Quân Đội Nhân Dân Giải phóng Trung Quốc đến miền thượng du Bắc Việt năm 1940 lãnh đạo và rèn luyện đảng Cộng Sản Viêt Nam, chuẩn bị cướp chánh quyền tại Hà Nội và tiến hành hai cuộc chiến tranh tiêu hao sinh lực của dân tộc Việt. Ngay sau khi cướp được chánh quyền, Hồ Chi Minh đã ra lịnh giết chết vô số trí thức và người yêu nước, những tinh hoa của dân tộc Việt như Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi,Trương Từ Anh, Lý Đông A, Khái Hưng Trần Khánh Giư, Nhượng Tống, Bùi Quang Chiêu, Tạ Thu Thâu, Phan văn Hùm, Huỳnh Phú Sổ, Dương vãn Giáo, Lê Bá Cang, Trần văn Thạch, Huỳnh văn Phương, Hồ văn Ngà, vợ chồng Hồ Vĩnh Ký, Đào Sanh Long, Lê văn Tình, Hoàng Thọ v.v… Nếu Nguyễn An Ninh, một thành viên của Nhóm Ngũ Long ở Paris, không chết năm 1943 tại Côn Đảo thì ông ta cũng không tránh khỏi bị Việt Minh dưới quyền lãnh đạo của Trần Văn Giàu và Nguyễn Văn Trấn tại Sài Gòn ám sát hoặc xử tử theo lịnh của Võ Nguyên Giáp.

Sau chiến dịch Biên giới (1950) có sự tham chiến của tướng Tàu Trần Canh, Hồ Chí Minh đã vâng lịnh Mao Trạch Đông tiến hành Cải Cách Ruộng Đất theo mô thức của Trung Cộng để giết hại 172,000 người ở nông thôn miền Bắc từ năm 1952 đến 1956. Sau cùng, trước khi đi gặp Karl Marx,Vladimir Lenin, Josef Stalin và Mao Trạch Đông ngày 2-9-1969, Hồ Chí Minh đã nhẫn tâm phát lịnh Tồng Công Kích và Nỗi Dậy trong những ngày Tết Mậu Thân (1968) để giết chết Tám mươi bốn ngàn (84,000) bộ đội miền Bắc và quân Giải phóng miền Nam, tàn sát gần sàu ngàn (6,000) người dân thành phố Huế trong thời gian quân quản.

Nói tóm lại, thiên đường xã hội chủ nghĩa của Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam đã được xây dựng trên núi xương sông máu của nhiều triệu người Việt với hậu quả ly tán nhân tâm, tàn phá đất nước, suy tàn nội lực của dân tộc Việt và chồng chất số nợ chiến tranh khổng lồ phải trả cho Liên Sô (10 tỷ Mỹ Kim) và Trung Quốc (870 tỷ Mỹ Kim theo con số của Hoàn Cầu Thời Báo).

Một người lừa thầy, phản bạn

Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh là hai nhà yêu nước rất được đồng bào ngưỡng mộ. Các tư tưởng và thành tích hoạt động chánh trị chống Pháp bất chấp tù tội của hai nhà chí sĩ nầy rất đáng ca ngợi. Đối với hai nhân vật tiền bối Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, Hồ Chí Minh thuộc hàng con cháu, học trò. Phan Bội Châu là một thân hữu đã được Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh của Hồ Chí Minh, kính trọng. Phan Châu Trinh cũng là một Phó Bảng đồng liêu với Nguyễn Sinh sắc đã cùng làm việc chung với nhau một thời gian tại Bộ Lễ của Nam Triều. Nhưng Nguyễn Tất Thành đã trở mặt đối với hai nhà chí sĩ họ Phan.

Năm 1925, trong khi công tác cho Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản tại Quảng Đông, Trung Quốc, Nguyễn Tất Thành dưới bí danh Lý Thụy đã cùng với Lâm Đức Thụ (Nguyễn Công Viễn) mật báo cho mật thám Pháp chận bắt Phan Bội Châu tại Thượng Hải để nhận lãnh môt sỗ tiền thưởng lớn: Một trăm ngàn đồng bạc (100,000 piastres) Đông Dương. Phan Bội Châu đã bị áp giải về Huế ra tòa lãnh án tử hình nhưng án hình đã không được thi hành nhờ sự can thiệp của các tổ chức nhân quyền Pháp.

Đối với Phan Châu Trinh, người đã cưu mang và hướng dẫn Nguyễn Tất Thành hoạt động chánh trị trong Nhóm Ngũ Long ở Paris, ông ta cũng đã ra mặt phản phúc sau khi gia nhập đảng Cộng Sản Pháp năm 1920. Năm 1917, Phan Châu Trinh gọi Nguyễn Tất Thành đang làm thợ trong một tiệm bánh mì của một người Pháp ở London về Paris tham gia Nhóm Ngũ Long đế phụ trách công việc giao dịch với bên ngoài, nhứt là với các tòa báo, vì Nguyễn Tất Thành là người ít học nhứt trong nhóm người yêu nước nầy. Phan Châu Trinh đã dạy Nguyễn Tất Thành làm thợ chụp hình để mưu sinh. Đền đáp lại ân nghĩa của tiền bối Phan Châu Trinh, Nguyễn Tất Thành đã viết một lá thơ gởi Phan Bội Châu trong đó ông ta chê bai Phan Châu Trinh là “một sĩ phu bảo thủ đâu óc hẹp hòi” (a conservative narrow-minded man of letters). Phan Châu Trinh đã bị Nguyễn Tất Thành chê bai vì khác với chủ trương bạo lực cách mạng của chủ nghĩa cộng sản, nhà chí sĩ họ Phan gốc Quảng Nam đề cao ‘nguyên tắc đấu tranh ôn hòa và bất bạo động và còn có viễn kiến sáng suốt khi nhấn mạnh đến ưu tiên “nâng cao dân trí” và “chấn dân khí” trong công cuộc đấu tranh giành độc lập.

Đối với các đồng chí Cộng Sản đàn em đã được Josef Stalin trọng dụng như Lê Hồng Phong (Lê Huy Doãn), Hà Huy Tập, Dương Bạch Mai trong thời gian Nguyễn Ái Quốc bị thất sủng ở Mạc Tư Khoa (1932-1938), ông ta cũng tìm cách trừ khử: một liên lạc viên của Hồ Chí Minh đã mật báo Cảnh sát Pháp bắt giam và tù đày đến chết một số nhân vật Cộng Sản đang lên như Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập vì họ có thể thách thức địa vị lãnh đạo của ông ta.

Riêng đối với Dương Bạch Mai, Hồ Chí Minh đã cho đầu độc chết ông Đại biểu Quốc Hội đại diện tỉnh Bà Rịa ngay trong một phiên họp Quốc Hội tại Hà Nội sau năm 1954.

Đối với Lâm Đức Thụ tức Nguyễn Công Viễn, một người đã từng cộng tác mật thiết với Nguyễn Ái Quốc lúc hoạt động tại Trung Hoa dưới bí danh Lý Thụy, nhất là trong vụ bán đứng Phan Bội Châu cho mật thám Pháp tại Thượng Hải để nhận lãnh một số tiền thưởng lớn, Hồ Chí Minh cũng đã bí mật cho thủ tiêu khi y trở về nước sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 vì y biết quá rõ sự khác biệt giữa Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc.

Một kẻ cướp các công trình trí tuệ của người khác

Để chứng tỏ mình là một người trí thức, Hô Chí Minh đã mạo nhận ông ta là tác giả của hai tác phấm: Sách Le Proces de la Colonisation Francaise (Bản Án Chế Độ Thực Dân Pháp) và tập thơ Ngục Trung Nhật Ký (Nhật Ký Trong Tù).

Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn bịa đặt rằng ông ta đã xuất bản và bỉnh bút tờ báo Le Paria (Kẻ Cùng Khổ) ở Paris.

1) Le Proces de la Colonisation Francaise: Từ cuối năm 1925 đến năm 1926, nhật báo L’Humanite (Nhân Đạo) của đảng Cộng Sản Pháp ở Paris trích đăng tác phẩm Le Proces de la Colonisation Francaise của một tác giả đứng tên Nguyễn Ái Quốc, bút hiệu của Nhóm Ngũ Long. Tác phấm này viết bằng tiếng Pháp trôi chảy, mạch lạc và đúng văn phạm Pháp. Ở Paris lúc bấy giờ, nhiều người biết rõ tác giả thật sự của quyển sách Le Proces de la Colonisation Francaise là Nguyễn Thế Truyền (Kỹ sư, Cử nhân Văn chương), Nguyễn An Ninh (Cử nhân Luật) và Nguyễn Đắc Lộc còn Nguyễn Tất Thành là một người ít học, chỉ phụ trách công việc chạy văn thư cho Nhóm Ngũ Long.

Khi nhật báo L’Humanité bắt đầu đăng tác phẩm Le Proces de la Colonisation Francaise vào cuối năm 1925, Nguyễn An Ninh đã về Sài Gòn lần thứ ba cùng với Phan Châu Trinh để họp tác với Luật sư Phan văn Trường (đã về nước từ năm 1923) đấu tranh trực diện chống lại chế độ đô hộ của thực dân Pháp. Vào thời điểm nầy, chỉ còn một mình Nguyễn Thế Truyền ở lại Paris, kết hôn với một công chúa Bỉ; Nguyễn Tất Thành (lấy bí danh Nguyễn Ái Quốc) đang công tác cho Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản tại Quảng Đông từ năm 1924. Như vậy, chỉ có thể Nguyễn Thế Truyền là người cho trích đăng trên nhật báo L’Humanite quyển Le Proces de la Colonisation Francaise do ông ta viết trước đó cùng với Nguyễn An Ninh và Nguyễn Đắc Lộc nhưng sử dụng bút hiệu Nguyễn Ái Quốc của Nhóm Ngụ Long. Giả thuyết Nguyễn Tất Thành là tác giả của quyến sách Le Proces de la Colonisation Francaise cần phải gạt bỏ vì Nguyễn Ái Quốc chỉ là bút hiệu tập thể của Nhóm Ngũ Long, Nguyễn Tất Thành chỉ có trình độ tiểu học, hoàn toàn không có khả năng viết quyển sách nầy bằng tiếng Pháp.

Trong một bài viết ngày 19-4-2011 tựa đề “Phát Súng Ân Huệ Cho Thần Tượng Hồ Chí Minh Của Việt Nam”, bình luận gia Lý Đại Nguyên đã cung cấp một thông tin của Pháp liên quan đến trình độ Pháp ngữ của Hồ Chí Minh, Chủ tich nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa:

Viện INA (Institut National d’Administration của Luxembourg?) đã công bố một phim tài liệu âm thanh và hình ảnh về việc Hồ Chí Minh trả lời một cuộc phỏng vấn bằng tiếng Pháp trong tháng 6 năm 1964. Ồng Nguyễn Ngọc Quỳ đã nhận thấy nhiều lỗi sơ đẳng về văn phạm Pháp. Trả lời bằng tiếng Pháp 6 câu hỏi ngắn gọn, Hồ Chí Minh đã mắt phải 9 lỗi về văn phạm Pháp.

Nhà văn Thụy Khuê cũng quả quyết Hồ Chí Minh chưa đọc quyển Le Proces de la Colonisation Francaise, nói gì đến là tác giả của quyển sách nay.

Là một người học Pháp văn từ Tiếu học đến Cao học, tôi có ý kiến như sau:

Người học tiếng Pháp đều biết rõ viết tiếng Pháp khó hơn nói tiếng Pháp và cách chia động từ của Pháp rất phức tạp, một người chỉ có trình độ Tiểu học không thể vượt qua trở ngại nầy.

Từ khi sang Pháp năm 1911, Nguyễn Tất Thành chỉ làm công việc chăn tay. Vì vậy, ông ta không có đủ trình độ Pháp văn để viết tiếng Pháp trôi chảy, mạch lạc và đúng văn phạm; chỉ có thế nói tiếng Pháp bồi và không chia động từ đúng theo văn phạm của Pháp.

2) Ngục Trung Nhật Kỷ (Nhật Kỷ Trong Tù)

Giáo sư Lê Hữu Mục ở Canada đã phát hiện tác giả tập thơ Ngục Trung Nhật Ký là một người Hán. Khi viết tập thơ này trong tù, tác giả đã tự thán là một người Hán nhưng bị bắt giam oan vì bị tình nghi là Hán gian. Đành rằng Nguyễn Tât Thành có học Hán văn trước khi rời khỏi trường Quốc Học và đã sống tại Trung Hoa từ 1924 đến 1927 và từ 1930 đến 1932 nhưng ông ta không phải là người Hán. Nêu Hô Chí Minh tự nhận là tác giả của tập thơ Ngục Trung Nhật Ký thì ông ta quả thật là Hồ Tập Chương, người Hẹ (Hakka) đúng như sự xác nhận của giáo sư Sử học Đài Loan Hồ Tuấn Hùng (8)

3) Mạo nhận Hồ Chí Minh xuất bản và bỉnh bút tờ bảo Le Paria (Kẻ Cùng Khổ)

Để nêu cao thành tích văn hóa của lãnh tụ Hô Chí Minh, đảng Cộng Sản Việt Nam đã mạo nhận Hồ Chí Minh đã xuất bản và bỉnh bút tờ Le Paria ở Paris.

Sự thật như sau: Báo Le Paria do đảng Cộng Sản Pháp xuất bản. Kỹ sư Nguyễn Thế Truyền làm chủ bút và đóng góp bài viết cho tờ báo này. Luật sư Tiến sĩ Phan văn Trường cũng đã cho đăng một số bài viết trên báo Le Paria. Nguyễn Tất Thành không có khả năng viết một bài báo nào đăng trên báo Le Paria.

Kết luận:

Huyền thoại Hồ Chí Minh do đảng Cộng Sản Việt Nam xây dựng bằng sự dối trá, lừa gạt đã sụp đổ tan tành. Trong thời đại Thông tin ngày nay, mọi người Việt Nam đều đã biết rõ Hồ Chí Minh không phải là một anh hùng mà là một con người gian hùng tàn bạo khủng khiếp. Nhưng đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn bắt buộc các đảng viên học tập và hành động theo gương “Bác Hồ” nghĩa là phải hám danh, tham lợi, tàn bạo, độc ác và lừa thầy, phản bạn, tráo trở như ông ta.

California, ngày 30-1-2016
(Bô túc và tu chính)

Tài liệu tham khảo:

(7) Sophie Judge, Ho Chi Minh: The Missing Years, Berkeley University of California Press, 2002.

(8) Hồ Tuấn Hùng, Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo, Đài Bắc, 2008.

***

THAY NGÔI ĐỔI CHỦ – CHƯƠNG 4

HỒ CHÍ MINH: MỘT ANH HÙNG HAY GIAN HÙNG

Từ năm 1945 đến nay, hệ thống tuyên truyền của đảng Cộng Sản Việt Nam không ngớt tôn sùng và thần tượng hóa Hồ Chí Minh. Nhân vật trăm tên ngàn mặt nầy đã được chế độ cộng sản Việt Nam tôn vinh như một vị anh hùng tái thế đứng cao nhứt trong lịch sử nước Việt. Thậm chí, đảng Công Sản Việt Nam còn muốn biến Hồ Chí Minh thành Phật: tại Đại Nam Quốc Tự trong tỉnh Bình Dương, tượng vàng Hồ Chí Minh đã được đặt chung với tượng Đức Phật Thích Ca và tượng Hùng Vương để thiện nam tín nữ bái lạy.

Trong Đại hội 12 của đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức tại Hà Nội tháng 1 năm 2016, hình ảnh hai ông Tây râu xòm xa lạ đối với đồng bào người Việt vẫn được treo trên cao để toàn đảng, toàn quân, toàn dân chiêm ngưỡng, thờ phượng, bài Quốc tế ca vẫn được hát vang rền. Theo nghị quyết của Đại hội 12, nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tiếp tục tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng của chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh mặc dầu chủ nghĩa cộng sản của Karl Marx và Vladimir Lenin đã bị thế giới vứt bỏ vào xọt rác từ năm 1991 và Hồ Chí Minh đã từng tuyên bố ông ta không có một tư tưởng nào ngoài chủ nghĩa ngoại lai của Karl Marx và Vladimir Lenin.

Trước sự dối trá và lừa gạt, đổi trắng thay đen của bộ máy tuyên truyền cộng sản, các sử liệu chính xác có thể giúp dân tộc Việt Nam chúng ta minh định Hồ Chí Minh là một vị anh hùng hay một kẻ gian hùng và ông ta có tư tưởng gì đặc biệt ngoài học thuyết của Marx, Lenin và Mao Trạch Đông.

Một người hám danh, tham lợi

Sanh năm 1890, Nguyễn Sinh Cung đổi tên là Nguyễn Tất Thành lúc học tại trường Quốc Học ở Huế nhờ có cha là Nguyễn Sinh Sắc đang làm Tri huyện của Nam triều. Khi rời bỏ rất sớm trường Quốc Học đi vào Phan Thiết dạy học tại trường tư thục Dục Anh một thời gian ngắn, Nguyễn Tất Thành chỉ có trình độ Tiểu học. Không ai biết Nguyễn Tất Thành có bằng Tiểu học (CEPCI: Certificat d’Etudes Primaires Complémentaires Indochinoises) hay không? Từ Phan Thiết, Nguyễn Tất Thành đi vào Sài Gòn tìm việc làm. Năm 1911, nhằm mục đích cải thiện đời sống, Nguyễn Tất Thành xin làm phụ bếp trên tàu Amiral Latouche Treville để có cơ hội xuất dương sang Pháp. Trên đường biển từ Sài Gòn đến Marseille, một hải cảng ở phía Nam nước Pháp, Nguyễn Tất Thành đã nhận được sự giúp đỡ và thương mến của Bùi Quang Chiều, Nghị viên Hội Đồng Nam Kỳ. Trong sổ lương của hảng tàu Les Chargeurs Reunis, Nguyễn Tất Thành mang tên Văn Ba.

Vừa đến Marseille, Nguyễn Tất Thành đã có tham vọng làm quan của Pháp quốc: đệ đơn đề ngày 15-9-1911 thỉnh cầu Tống Thống Pháp chấp thuận cho đương sự nhập học trường École Coloniale (trường Thuộc Địa để trở thành một administrateur (nhà cai trị ) của Pháp quốc tại các thuộc địa.

Tông Thống Pháp đã bác đơn xin nhập học trường École Coloniale của Nguyễn Tất Thành vì xét thấy đương sự có một trình độ học vấn quá kém. Riêng cá nhân tôi khi xem qua lá đơn viết tay bằng tiếng Pháp của Nguyễn Tất Thành đã nhận thấy ngay 3 lỗi về văn phạm và chánh tả trong nội dung lá đơn ngắn của đương sự:

– Lỗi chánh tả: Viết substance (bản chất) thay vì subsistance (sanh sống)

– Lỗi văn phạm: Viết employe à la Compagnie thay vì employe par la Compagnie (nhân viên do Công ty tuyển dụng)

– Lỗi vãn phạm: Viết agrẻer Monsieur le President thay vì Veuillez agréer Monsieur le President.

Nếu Tổng Thống Pháp chấp thuận thỉnh cầu của Nguyễn Tất Thành để giúp đương sự trở thành một ông quan cai trị các thuộc địa của Pháp có quyền uy, địa vị cao và lương bổng hậu thi chắc chắn Việt Nam đã không có một ông Vua cách mạng vô sản tên Hồ Chí Minh tại Hà Nội và đã tránh khỏi hai cuộc chiến tranh tàn khốc.

Từ năm 1912 đến 1917: Nguyễn Tất Thành chỉ tìm được những công việc làm chân tay như bồi tàu, phụ bếp hoặc thợ làm bánh mì trên các thương thuyền viễn dương hoặc trong các khách sạn, tiệm ăn ở miền Đông Hoa Kỳ và London, thủ đô Anh Quốc. Ngay các tài liệu và sách báo của đảng Cộng Sản Việt Nam cũng không nói đến quá trình học vấn của Nguyễn Tất Thành tại bất cứ trường trung hoặc đại học nào. Vì đi đó đây trên các thương thuyền, Nguyễn Tất Thành có khả năng tạm sử dụng vài ngôn ngữ ngoại quốc như Pháp, Anh, Tây Ban Nha nhưng không thể viết đúng chánh tả và văn phạm. Khi nói ngoại ngữ, nhiều khi Nguyễn Tấn Thành phải dùng tiếng bồi và không chia động từ.

Từ năm 1917 đến 1924 : Nguyễn Tất Thành từ London trở qua Paris năm 1917 theo lời gọi của Phan Châu Trinh để gia nhập Nhóm Ngũ Long và phụ trách nhiệm vụ của một người chạy việc, giao dịch bên ngoài, nhứt là với các tòa báo. Nhóm Ngũ Long gồm có 5 nhân vật theo thứ tự tuôi tác kê sau:

Phó Bảng Phan Châu Trinh (1872-1926)

Luật sư Tiến sĩ Phan văn Trường (1876-1933)

Nguyễn Tất Thành (1890-1969)

Kỹ sư Nguyễn Thế Truyền (1898-1969)

Cử nhân Luật Nguyễn An Ninh (1900-1943)

Trong Nhóm Ngũ Long, Nguyễn Tất Thành là người ít học nhất.

Nguyễn Tất Thành không thỏa mãn với công việc hằng ngày của một người thợ chụp ảnh và người giao dịch bên ngoài của Nhóm Ngũ Long.

Để xây dựng công danh sự nghiệp, Nguyễn Tẩn Thành gia nhập đảng Cộng Sản Pháp. Mặc dầu là người giới thiệu Nguyễn Tất Thành gia nhập đảng Cộng Sản Pháp năm 1920 nhưng vài năm sau Nguyễn Thế Truyền đã sáng suốt từ bỏ đảng Cộng Sản Pháp còn Nguyễn Tất Thành (lấy bút hiệu Nguyễn Ái Quốc của Nhóm Ngũ Long làm bí danh cùa mình) thì rất vui mừng được Đệ tam Quốc tế Cộng sản tuyển dụng làm cán bộ lảnh lương tháng kể từ năm 1924 để thực hiên nhiệm vụ bành trướng chủ nghĩa cộng sản tại A châu. Ngoài niềm tin tuyệt đối vào chủ thuyết Marx-Lenin như một thứ tôn giáo mới, Nguyễn Tất Thành còn mang ơn Đệ tam Quốc tế Cộng sản đã trọng dụng một người không có trình độ văn hóa cao như ông ta.

Từ năm 1924 đến 1929: Nguyễn Tất Thành hoạt động tại Quảng Đông dưới bí danh Lý Thụy và tại Siam (Thái Lan) dưới bí danh Thau Chin. Năm 1925, trong khi hoạt động tại Trung Hoa, Nguyễn Tất Thành đã kiếm được khả nhiều tiền khi bán đứng chí sĩ Phan Bội Châu cho mật thám Pháp để nhận lãnh một số tiền thưởng lớn.

Từ năm 1930 đến 1932: Năm 1930, Nguyễn Tất Thành nhận lịnh của Moscow trở qua Hong Kong hoạt động dưới bí danh Tống văn Sơ để thành lập đảng Cộng Sản Việt Nam với một số tiền trợ cấp lớn của Josef Stalin, Tổng Bí thư đảng Cộng Sản Liên Xô. Năm 1931, trong khi công tác bí mật cho Đệ tam Quốc tế Cộng sản tại Hong Kong, Tống văn Sơ đã bị Cảnh sát Anh bắt giam nhưng cho nằm điều trị bệnh lao phổi trong một bệnh viện và chết trong bệnh viện này theo tin tức của báo chí Hong Kong.

Từ năm 1932 đến 1938: Nguyễn Tất Thành giả (mang bí danh Nguyễn Ái Quốc hoặc P.C Lin) bị thất sủng vỉ Josef Stalin khiển trách ông ta đã phát động nông nỗi cuộc khởi nghĩa Xô viết Nghệ-Tỉnh năm 1931 làm tổn thương quan hệ ngoại giao giữa Pháp và Liên Xô. Năm 1935, Nguyễn Tất Thành còn suýt bị Stalin giết chết. Mặc dầu luôn luôn phập phòng lo sợ bị thanh trừng nhưng Nguyễn Tất Thành vẫn sống xa hoa và ăn mặc sang trọng đi dạ hội cùng với Nguyễn thi Minh Khai, người đàn bà mang bí danh Phan Lan được KGB ghi nhận trong hồ sơ là vợ của Nguyễn Ái Quốc.Trong bản tự khai lý lịch, Nguyễn thị Minh Khai (bí danh Phan Lan) cũng ghi là vợ của Quốc (7)

Từ 1938 đến 1945: Năm 1938, Nguyễn Tất Thành âm thầm rời khỏi Moscow, đi đến Diên An (thủ đô của Hồng quân Trung quốc), phục vụ Quân đội Nhân dân Giải phóng Trung Quốc với bí danh Hồ Quang mang quân hàm Thiếu tá. Tham vong vinh quang và quyền lực đã thúc đấy Hồ Quang đưa ra một số cam kết bí mật liên quan đến các vấn đề trọng đại của nước Việt Nam để lấy lòng Mao Trạch Đông. Các cam kết bí mật của Hồ Quang đã gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho sự tồn vong của đất nước và dân tộc Việt Nam sau này. Trong các cuộc thương thuyết về ranh giới của Trung quốc và Việt Nam trên đất liền và biển Đông, phái đoàn Tàu Cộng đã đe dọa công bố các bí mật của Hồ Quang để bắt buộc phái đoàn Việt Cộng phải cắt đất, biển và tài nguyên quốc gia dâng lên thiên triều Bắc kinh.

Cuối năm 1940, với tư cách đảng viên của đảng Cộng Sản Trung Quốc, Hồ Quang được Mao Trạch Đông sai phái về công tác tại Quảng Tây, Vân Nam và Cao Bằng để thành lập Mặt Trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội (Việt Minh) chuẩn bị cướp chánh quyền khi thời cơ thuận lợi. Lúc nào trở về trú ẩn trong hang Pác Bó (Cao Bằng), Nguyễn Tất Thành được cán binh Trung Cộng và người thiểu số của Chu văn Tấn ở biên giới Việt-Hoa bảo vệ cẩn mật.

Năm 1942, Nguyễn Tất Thành (Hồ Quang) bị tướng Trương Phát Khuê của Trung Hoa Quốc Dân Đảng bắt giam tại Liêu Châu (Quảng Tây) vì tình nghi y là gián điệp cộng sản. Nhờ sự can thiệp của Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tất Thành (Hồ Quang) được tra tự do với điều kiện phải phục vụ Trung Hoa Quốc Dân Đảng và Việt Nam Quốc Dân Đảng. Sau khi được tướng Trương Phát Khuê trả tự do, Nguyễn Tất Thành đã được dạy học tập Tam Dân Chủ Nghĩa của Tôn Dật Tiên. Vì vậy, các khẩu hiệu “Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc” do Hồ Chí Minh đề cao khi thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã sao chép từ học thuyết Tam Dân Chủ Nghĩa: Dân tộc Độc lập, Dàn quyền Tự do, Dân sinh Hạnh phúc. Năm 1943, từ Quàng Tây trở về hang Pác Bó, Nguyễn Tất Thành (Hồ Quang) lẩy một bí danh mới: Hô Chí Minh.

Từ năm 1945 đến 1950: Ngày 19-8-1945, Việt Minh cướp được chảnh quyền, Hồ Chí Minh trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chu Cộng Hòa, thực hiện được giấc mơ vinh quang và quyền lực. Tuy nhiên, từ năm 1945 đên 1949, ngụy quyền Hồ Chí Minh xây dựng trên cơ sở bạo lực cách mạng đã không được bất cứ quốc gia nào trên thê giới công nhận, kể cả Liên Xô. Trong giai đoạn 5 năm nầy, bộ đội Việt Minh rất yếu và “phải chiến đấu trong vòng vây của quân Pháp” (theo lời các cố vấn Tàu). Chính Hồ Chí Minh đã suýt bị quân Pháp bắt tại Việt Bắc nhưng may mắn trốn thoát. Tham vọng quyền lực của Hồ Chí Minh sắp tiêu tan thành mây khói trước thế thượng phong của liên quân Pháp-Việt. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh vẫn không từ bỏ giấc mơ thống trị Việt Nam với bàn tay sắt của đảng Cộng Sản do ông ta lãnh đạo và rèn luyện. Mặc dầu nước Việt Nam đã thu hồi độc lập hoàn toàn trên cơ sở hiệp định Elysée ký kết ngày 8-3-1949 giữa cựu Hoàng Bảo Đại và Tổng Thống IJháp Vincent Auriol, Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục chiến tranh để duy trì quyển bính và nhuộm đỏ bán đảo Đông Dương theo chỉ thị của Trung Quốc và Liên Xô. Mục đích cuối cùng của Mồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam không phái là giành độc lập cho dân tộc Việt Nam mà là áp đặt chủ nghĩa cộng sản trên đất nước ta.

(Xem Cương lĩnh chánh trị của đảng Cộng Sản Việt Nam do Bí thư Trần Phú soạn thảo)

Lập trường hiếu chiến của Hồ Chí Minh càng được củng cố sau khi Mao Trạch Đông (Mao Tse Tung hay Mao Zedong) đánh thắng Tưởng Giới Thạch (Chiang Kai Chek) tại Trung Hoa và thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa ngày 1-10-1949. Máu của hàng trăm ngàn đồng bào người Việt tiếp tục đỗ ra trong cuộc chiến tranh Đông Dương (1945. 1954) vì tham vọng quyền bính của một người Tàu: Hồ Chí Minh.

Từ 1950 đến 1954: Thời cơ đã xoay chiều thuận lợi cho Hồ Chỉ Minh. Năm 1950, ngay sau khi được Trung Cộng và Liên Xô công nhận, Hồ Chí Minh đã đi sang Bắc kinh và Moscow cầu xin viện trợ quân sự để giúp ông ta trở về Bắc bộ phủ ngồi trên ngôi Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa kiêm Chủ tịch đảng Cộng Sản Việt Nam. Cũng như Vua Lê Chiêu Thống của nhà Hậu Lê cầu viện nhà Thanh năm 1788, Hồ Chí Minh đã hai lần sang Trung Hoa (năm 1950 và 1951) khẩn cầu quân Tàu nhập Việt để đánh Pháp, huấn luyện cán bộ Việt Minh, đồng thời tái lập ảnh hường thống trị của Trung quốc trên xứ chư hầu “An Nam”, tuyển chọn tay sai trung thành với Bắc kinh, điều nghiên các vị trí chiến lược trọng yếu của nước ta và Hán hóa dần dân dân tộc Việt.. Viện trợ quân sự của Trung Quốc đã giúp cho Hồ Chí Minh trở về Hà Nội ngự trị miền Bắc Việt Nam sau chiến thắng Điện Biên Phủ nhờ hỏa lực hùng hậu của Pháo binh Trung Quốc dưới quyền chỉ huy của tướng Tàu Vi Quốc Thanh.

Từ năm 1955 đến ngày 2-9-1969 (ngày Hồ Chí Minh tạ thế); Hồ Chí Minh đã mua được danh vọng và quyền lực với một giá quá dắt: xương máu của hàng trăm ngàn đồng bào vô tội và hai quân đảo Hoàng Sa và Trường Sa chuyển nhượng chánh thức cho Trung Quốc do giác thư ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm văn Đồng để trả nợ chiến tranh và cầu xin giúp đỡ xâm chiếm miền Nam Việt Nam.

Ngồi làm vua của nửa nước Việt Nam, Hồ Chí Minh vẫn chưa thỏa mãn. “Bác Hô kính yêu ” vẫn muốn làm vua của cả nước Việt Nam thống nhất dầu có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn và hy sinh đến người Việt cuối cùng. Vì tham vọng quyền lực vô bờ bến, Hồ Chí Minh tiếp tục cầu xin viện trợ của Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa để phát động chiến tranh thôn tính miền Nam. Ngày đi chầu hai sư tổ Karl Marx và Vladimir Lenin, Hồ Chí Minh còn tiếc nuối không thấy được vinh quang ngự trị cả hai miền Nam Bắc Việt Nam như đàn em Lê Duẫn.

Một người tàn bạo khủng khiếp

Say mê chủ nghĩa cộng sản như một tín đồ nhiệt thành tuân phục các giáo điều của một tôn giáo mới, Nguyễn Tất Thành đã đem chủ nghĩa ngoại lai nẩy thực nghiệm lần đầu tiên tại Việt Nam năm 1931: phát động từ Hong Kong cuộc nổi dậy của nông dân hai tỉnh Nghệ An và Hà Tỉnh. Trong cuộc khởi nghĩa gọi là Xô viết Nghệ-Tỉnh, chủ trương bạo lực khủng khiếp đã được thực hiện để tận diệt các thành phần xã hội không phải là nông dân vô sản:

“ Trí, Phú, Địa, Hào

Đào tận gốc, trốc tận rễ”

Cuộc nôi dậy nầy đã giết khá nhiều người nhưng thất bại. Nguyễn Tất Thành (bí danh Tống văn Sơ) đã bị truy tố trước tòa án Vinh, xử tử hình khiếm diện nhưng được chánh quyền Anh tại Hong Kong che chở, không dẫn độ về Việt Nam để thụ hình vì phạm nhân can tội chánh trị chớ không phải hình sự. Ở lại Hong Kong tiếp tục hoạt động cho cộng sản, Nguyễn Tất Thành đã bị Cảnh sát Anh bắt giữ và cho nằm bệnh viện đề điều trị bệnh lao phổi trầm trọng. Năm 1932, Nguyễn Tất Thành đã qua đời vì bệnh lao phổi không chửa trị được trong thập niên 1930.

Đế bành trướng chủ nghĩa cộng sản trên bán đảo Đông Dương và tái lập ảnh hưởng của Trung Ọuôc đối với Việt Nam, Mao Trạch Đông đã phái Thiếu tá Hồ Quang của Quân đội Nhân dân Giải phóng Trung Quốc đến miền thượng du BắcViệt năm 1940 lãnh đạo và rèn luyện đảng Cộng sản Viêt Nam, chuẩn bị cướp chánh quyền tại Hà Nội và tiến hành hai cuộc chiến tranh tiêu hao sinh lực của dân tộc Việt. Ngay sau khi cướp được chánh quyền, Hồ Chi Minh đã ra lịnh giết chết vô số trí thức và người yêu nước, những tinh hoa của dân tộc Việt như Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi,Trương Từ Anh, Lý Đông A, Khái Hưng Trần Khánh Giư, Nhượng Tống, Bùi Quang Chiêu, Tạ Thu Thâu, Phan văn Hùm, Huỳnh Phú Sổ, Dương vãn Giáo, Lê Bá Cang, Trần văn Thạch, Huỳnh văn Phương, Hồ văn Ngà, vợ chồng Hồ Vĩnh Ký, Đào Sanh Long, Lê văn Tình, Hoàng Thọ v.v… Nếu Nguyễn An Ninh, một thành viên của Nhóm Ngũ Long ở Paris, không chết năm 1943 tại Côn Đảo thì ông ta cũng không tránh khỏi bị Việt Minh dưới quyền lãnh đạo của Trần văn Giàu và Nguyễn văn Trấn tại Sài Gòn ám sát hoặc xử tử theo lịnh của Võ Nguyên Giáp.

Sau chiến dịch Biên giới (1950) có sự tham chiến của tướng Tàu Trần Canh, Hồ Chí Minh đã vâng lịnh Mao Trạch Đông tiến hành Cải Cách Ruộng Đất theo mô thức của Trung Cộng để giết hại 172,000 người ở nông thôn miền Bắc từ năm 1952 đến 1956. Sau cùng, trước khi đi gặp Karl Marx,Vladimir Lenin, Josef Stalin và Mao Trạch Đông ngày 2-9-1969, Hồ Chí Minh đã nhẫn tâm phát lịnh Tồng Công Kích và Nỗi Dậy trong những ngày Tết Mậu Thân (1968) để giết chết Tám mươi bốn ngàn (84,000) bộ đội miền Bắc và quân Giải phóng miền Nam, tàn sát gần sàu ngàn (6,000) người dân thành phố Huế trong thời gian quân quản.

Nói tóm lại, thiên đường xã hội chủ nghĩa của Hổ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam đã được xây dựng trên núi xương sông máu của nhiều triệu người Việt với hậu quả ly tán nhân tâm, tàn phá đất nước, suy tàn nội lực của dân tộc Việt và chồng chất số nợ chiến tranh khổng lồ phải trả cho Liên Xô (10 tỷ Mỹ kim) và Trung Quốc (870 tỷ Mỹ kim theo con số của Hoàn cầu Thời Báo).

Một người lừa thầy, phản bạn

Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh là hai nhà yêu nước rất được đồng bào ngưỡng mộ. Các tư tưởng và thành tích hoạt động chánh trị chống Pháp bất chấp tù tội của hai nhà chí sĩ nầy rất đáng ca ngợi. Đối với hai nhân vật tiền bối Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, Hồ Chí Minh thuộc hàng con cháu, học trò. Phan Bội Châu là một thân hữu đã được Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh của Hồ Chí Minh, kính trọng. Phan Châu Trinh cũng là một Phó Bảng đồng liêu với Nguyễn Sinh sắc đã cùng làm việc chung với nhau một thời gian tại Bộ Lễ của Nam Triều. Nhưng Nguyễn Tất Thành đã trở mặt đối với hai nhà chí sĩ họ Phan.

Năm 1925, trong khi công tác cho Đệ tam Quốc tế Cộng sản tại Quảng Đông, Trung Quốc, Nguyễn Tất Thành dưới bí danh Lý Thụy đã cùng với Lâm Đức Thụ (Nguyễn Công Viễn) mật báo cho mật thám Pháp chận bắt Phan Bội Châu tại Thượng Hải để nhận lãnh môt sỗ tiền thưởng lớn: Một trăm ngàn đồng bạc (100,000 piastres) Đông Dương. Phan Bội Châu đã bị áp giải về Huế ra tòa lãnh án tử hình nhưng án hình đã không được thi hành nhờ sự can thiệp của các tổ chức nhân quyền Pháp.

Đối với Phan Châu Trinh, người đã cưu mang và hướng dẫn Nguyễn Tất Thành hoạt động chánh trị trong Nhóm Ngũ Long ở Paris, ông ta cũng đã ra mặt phản phúc sau khi gia nhập đảng Cộng Sản Pháp năm 1920. Năm 1917, Phan Châu Trinh gọi Nguyễn Tất Thành đang làm thợ trong một tiệm bánh mì của một người Pháp ở London về Paris tham gia Nhóm Ngũ Long đế phụ trách công việc giao dịch với bên ngoài, nhứt là với các tòa báo, vì Nguyễn Tất Thành là người ít học nhứt trong nhóm người yêu nước nầy. Phan Châu Trinh đã dạy Nguyễn Tất Thành làm thợ chụp hình để mưu sinh. Đền đáp lại ân nghĩa của tiền bối Phan Châu Trinh, Nguyễn Tất Thành đã viết một lá thơ gởi Phan Bội Châu trong đó ông ta chê bai Phan Châu Trinh là “một sĩ phu bảo thủ đâu óc hẹp hòi” (a conservative narrow-minded man of letters). Phan Châu Trinh đã bị Nguyễn Tất Thành chê bai vì khác với chủ trương bạo lực cách mạng của chủ nghĩa cộng sản, nhà chí sĩ họ Phan gốc Quảng Nam đề cao ‘nguyên tắc đấu tranh ôn hòa và bất bạo động và còn có viễn kiến sáng suốt khi nhấn mạnh đến ưu tiên “nâng cao dân trí” và “chấn dân khí” trong công cuộc đấu tranh giành độc lập.

Đối với các đồng chí cộng sản đàn em đã được Josef Stalin trọng dụng như Lê Hồng Phong (Lê Huy Doãn), Hà Huy Tập, Dương Bạch Mai trong thời gian Nguyễn Ái Quốc bị thất sủng ở Moscow (1932-1938), ông ta cũng tìm cách trừ khử: một liên lạc viên của Hồ Chí Minh đã mật báo Cảnh sát Pháp bắt giam và tù đày đến chết một số nhân vật cộng sản đang lên như Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập vì họ có thể thách thức địa vị lãnh đạo của ông ta.

Riêng đối với Dương Bạch Mai, Hồ Chí Minh đã cho đầu độc chết ông Đại biểu Quốc Hội đại diện tỉnh Bà Rịa ngay trong một phiên họp Quốc Hội tại Hà Nội sau năm 1954.

Đối với Lâm Đức Thụ tức Nguyễn Công Viễn, một người đã từng cộng tác mật thiết với Nguyễn Ái Quốc lúc hoạt động tại Trung Hoa dưới bí danh Lý Thụy, nhất là trong vụ bán đứng Phan Bội Châu cho mật thám Pháp tại Thượng Hải để nhận lãnh một số tiền thưởng lớn, Hồ Chí Minh cũng đã bí mật cho thủ tiêu khi y trở về nước sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 vì y biết quá rõ sự khác biệt giữa Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc.

Một kẻ cướp các công trình trí tuệ của người khác

Để chứng tỏ mình là một người trí thức, Hô Chí Minh đã mạo nhận ông ta là tác giả của hai tác phấm: sách Le Proces de la Colonisation Francaise (Bản Án Chế Độ Thực Dân Pháp) và tập thơ Ngục Trung Nhật Ký (Nhật Ký Trong Tù).

Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn bịa đặt rằng ông ta đã xuất bản và bỉnh bút tờ báo Le Paria (Kẻ Cùng Khổ) ở Paris.

1) Le Proces de la Colonisation Francaise: Từ cuối năm 1925 đến năm 1926, nhật báo L’Humanite (Nhân Đạo) của đảng Cộng Sản Pháp ở Paris trích đăng tác phẩm Le Proces de la Colonisation Francaise của một tác giả đứng tên Nguyễn Ái Quốc, bút hiệu của Nhóm Ngũ Long. Tác phấm này viết bằng tiếng Pháp trôi chảy, mạch lạc và đúng văn phạm Pháp. Ở Paris lúc bấy giờ, nhiều người biết rõ tác giả thật sự của quyển sách Le Proces de la Colonisation Francaise là Nguyễn Thế Truyền (Kỹ sư, Cử nhân Văn chương), Nguyễn An Ninh (Cử nhân Luật) và Nguyễn Đắc Lộc còn Nguyễn Tất Thành là một người ít học, chỉ phụ trách công việc chạy văn thư cho Nhóm Ngũ Long.

Khi nhật báo L’Humanité bắt đầu đăng tác phẩm Le Proces de la Colonisation Francaise vào cuối năm 1925, Nguyễn An Ninh đã về Sài Gòn lần thứ ba cùng với Phan Châu Trinh để họp tác với Luật sư Phan văn Trường (đã về nước từ năm 1923) đấu tranh trực diện chống lại chế độ đô hộ của thực dân Pháp. Vào thời điểm nầy, chỉ còn một mình Nguyễn Thế Truyền ở lại Paris, kết hôn với một công chúa Bỉ; Nguyễn Tất Thành (lấy bí danh Nguyễn Ái Quốc) đang công tác cho Đệ tam Quốc tế Cộng sản tại Quảng Đông từ năm 1924. Như vậy, chỉ có thể Nguyễn Thế Truyền là người cho trích đăng trên nhật báo L’Humanite quyển Le Proces de la Colonisation Francaise do ông ta viết trước đó cùng với Nguyễn An Ninh và Nguyễn Đắc Lộc nhưng sử dụng bút hiệu Nguyễn Ái Quốc của Nhóm Ngụ Long. Giả thuyết Nguyễn Tất Thành là tác giả của quyến sách Le Proces de la Colonisation Francaise cần phải gạt bỏ vì Nguyễn Ái Quốc chỉ là bút hiệu tập thể của Nhóm Ngũ Long, Nguyễn Tất Thành chỉ có trình độ tiểu học, hoàn toàn không có khả năng viết quyển sách nầy bằng tiếng Pháp.

Trong một bài viết ngày 19-4-2011 tựa đề “Phát Súng Ân Huệ Cho Thần Tượng Hồ Chí Minh Của Việt Nam”, bình luận gia Lý Đại Nguyên đã cung cấp một thông tin của Pháp liên quan đến trình độ Pháp ngữ của Hồ Chí Minh, Chủ tich nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa:

Viện INA (Institut National d’Administration của Luxembourg?) đã công bố một phim tài liệu âm thanh và hình ảnh về việc Hồ Chí Minh trả lời một cuộc phỏng vấn bằng tiếng Pháp trong tháng 6 năm 1964. Ồng Nguyễn Ngọc Quỳ đã nhận thấy nhiều lỗi sơ đẳng về văn phạm Pháp. Trả lời bằng tiếng Pháp 6 câu hỏi ngắn gọn, Hồ Chí Minh đã mắt phải 9 lỗi về văn phạm Pháp.

Nhà văn Thụy Khuê cũng quả quyết Hồ Chí Minh chưa đọc quyển Le Proces de la Colonisation Francaise, nói gì đến là tác giả của quyển sách nay.

Là một người học Pháp văn từ Tiếu học đến Cao học, tôi có ý kiến như sau:

Người học tiếng Pháp đều biết rõ viết tiếng Pháp khó hơn nói tiếng Pháp và cách chia động từ của Pháp rất phức tạp, một người chỉ có trình độ Tiểu học không thể vượt qua trở ngại nầy.

Từ khi sang Pháp năm 1911, Nguyễn Tất Thành chỉ làm công việc chăn tay. Vì vậy, ông ta không có đủ trình độ Pháp văn để viết tiếng Pháp trôi chảy, mạch lạc và đúng văn phạm; chỉ có thế nói tiếng Pháp bồi và không chia động từ đúng theo văn phạm của Pháp.

2) Ngục Trung Nhật Kỷ (Nhật Kỷ Trong Tù)

Giáo sư Lê Hữu Mục ở Canada đã phát hiện tác giả tập thơ Ngục Trung Nhật Ký là một người Hán. Khi viết tập thơ này trong tù, tác giả đã tự thán là một người Hán nhưng bị bắt giam oan vì bị tình nghi là Hán gian. Đành rằng Nguyễn Tât Thành có học Hán văn trước khi rời khỏi trường Quốc Học và đã sống tại Trung Hoa từ 1924 đến 1927 và từ 1930 đến 1932 nhưng ông ta không phải là người Hán. Nêu Hô Chí Minh tự nhận là tác giả của tập thơ Ngục Trung Nhật Ký thì ông ta quả thật là Hồ Tập Chương, người Hẹ (Hakka) đúng như sự xác nhận của giáo sư Sử học Đài Loan Hồ Tuấn Hùng (8)

3) Mạo nhận Hồ Chí Minh xuất bản và bỉnh bút tờ bảo Le Paria (Kẻ Cùng Khổ)

Để nêu cao thành tích văn hóa của lãnh tụ Hô Chí Minh, đảng Cộng Sản Việt Nam đã mạo nhận Hồ Chí Minh đã xuất bản và bỉnh bút tờ Le Paria ở Paris.

Sự thật như sau: Báo Le Paria do đảng Cộng Sản Pháp xuất bản. Kỹ sư Nguyễn Thế Truyền làm chủ bút và đóng góp bài viết cho tờ báo này. Luật sư Tiến sĩ Phan văn Trường cũng đã cho đăng một số bài viết trên báo Le Paria. Nguyễn Tất Thành không có khả năng viết một bài báo nào đăng trên báo Le Paria.

Kết luận :

Huyền thoại Hồ Chí Minh do đảng Cộng Sản Việt Nam xây dựng bằng sự dối trá, lừa gạt đã sụp đổ tan tành. Trong thời đại Thông tin ngày nay, mọi người Việt Nam đều đã biết rõ Hồ Chí Minh không phải là một anh hùng mà là một con người gian hùng tàn bạo khủng khiếp. Nhưng đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn bắt buộc các đảng viên học tập và hành động theo gương “Bác Hồ” nghĩa là phải hám danh, tham lợi, tàn bạo, độc ác và lừa thầy, phản bạn, tráo trở như ông ta.

California, ngày 30-1-2016
(Bô túc và tu chính)

Tài liệu tham khảo:

(7) Sophie Judge, Ho Chi Minh: The Missing Years, Berkeley University of California Press, 2002.

(8) Hồ Tuấn Hùng, Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo, Đài bắc, 2008.

***

THAY NGÔI DỔI CHỦ – CHƯƠNG 10
Text Box: GẬY ÔNG ĐẬP LƯNG ÔNG

Trong tiểu thuyết kiếm hiệp Thiên Long Bát bộ, nhà văn Kim Dung đã tạo dựng ra một nhân vật đặc biệt suốt đời đam mê làm vua của một vong quốc. Đó là Mộ Dung Phục nổi danh với chiêu thức “Gậy ông đập lưng ông” bằng cách sử dụng món võ sở trường của các môn phái võ lâm để đánh thắng người của họ.

Giữa Mộ Dung Phục và đảng Cộng Sản Việt Nam do Hồ Chí Minh và Lê Duẫn đại diện có một điểm tương đồng và một điểm khác biệt. Giống nhau về tham vọng, Mộ Dung Phục muốn làm vua của một nước không còn tồn tại (nước Đại Yên) còn đảng Cộng Sản Việt Nam muốn muôn năm trường trị nước Việt mới thâu hồi độc lập ngày 11-3-1945 sau khi Nhựt bổn đảo chánh Pháp tại Đông Dương.(Xem Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 11-3-1945 của Hoàng đế Bảo Đại). Khác nhau về tài năng và bản lãnh: Mộ Dung Phục có khả năng đánh thắng nhiều nhân vật của các môn phái võ lâm nhờ điêu luyện chiêu thức của các võ phái nầy. Trái lại, vì học lóm và vội vàng áp dụng một cách mù quáng các tư tưởng sai lầm chưa trắc nghiệm của một vài người ngoại quốc sống giữa thế kỷ 19 (Karl Marx và Frederic Engels) hoặc tiền bán thế kỷ 20 (Vladimir Lenin, Josef Stalin và Mao Trạch Đông), đảng Cộng Sản Việt Nam đã sử dụng cây gậy (hay cây súng của Tàu) đế đập vào lưng của chính mình nghĩa là giáng đòn chí tử vào dân tộc Việt

I-Hậu quả của các chánh sách và chủ trương của đảng Cộng Sản trong 30 năm chiến tranh (1945- 1975)

1–Sử dụng bạo lực để chiếm đoạt chánh quyền theo lời dạy của Mao Trạch Đông (chánh quyền trên mũi súng), đảng Cộng Sản Việt Nam, môt Chi bộ của đảng Cộng Sản Trung Quốc, đã liên tục tiến hành chiến tranh, gây ra núi xương, sông máu (10 triệu thương vong), giết hại vô số trí thức, nhân tài và tinh hoa của dân tộc Việt Nam (không dưới mười ngàn người). Một đất nước có ít nhân tài có thể phát triển được hay không? Làm sao “tìm kiếm nhân tài” như mong ước của nhà báo Bùi Tín, cựu Đại tá cộng sản miền Bắc?

2-Đẩy mạnh đấu tranh giai cấp, đảng Cộng sản đã chia rẽ các thành phần xã hội và triệt tiêu sinh lực của dân tộc Việt. Thực hiện chủ trương tiêu diệt giai cấp Hồ Chí Minh đã hạ lịnh: “ Trí, Phú, Địa, Hào. Đào tận gốc, trốc tận rễ”. Thi nô Tố Hữu đã cỗ xúy giết người trong Cải cách Ruộng Đất: “ Giết, giết , bàn tay không ngừng nghỉ”. Sau gần 40 năm thống nhứt đất nước bằng súng đạn, nhân tâm vẫn còn ly tán, hận thù vẫn ngập tràn trong tâm tư của quần chúng bị đày đọa, áp bức và bóc lột dã man. Nhân dân Việt Nam đã bị chia rẽ trầm trọng.

3-Trọng dụng bần cố nông và du côn du đảng để sẵn sàng hạ sát các thành phần trí thức, phú hộ, địa chủ và thân hào nhân sĩ, Hồ Chí Minh tức Thiếu tá Hồ Quang của Quân đội Trung Cộng đã bắt chước Mao Trạch Đông xem trí thức khồng có giá trị bàng một cục phân. Trường hợp đau đớn của hai đại trí thức Nguyễn Mạnh Tường và Trần Đức Thảo đã minh chứng chủ trương khỉnh mỉệt trí thức của Hồ Quang. Ngoài hành động tiêu diệt trí thức, đảng Cộng sản đã không đào tạo nhân tài như thực dân Pháp đã làm trong thời kỳ Bảo Hộ. Chất xám của dân tộc Việt đã bị tiêu hao quá nhiều dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Lê Duẫn. Rất nhiều nhân tài và tinh hoa của dân tộc Việt tốt nghiệp các trường đại học ở Pháp, Anh, Hoa Kỳ và trong nước đã bị ám sát, thủ tiêu trong thời kỳ chiến tranh (1945-1975)

Không những trù dập trí thức, đảng Cộng sản còn ra tay đàn áp, tù đày Nhóm Xét Lại (Revisionists) chủ nghĩa Marx- Lenin theo khuynh hướng của Tổng Bí thư đảng Cộng sản Liên xô Nikita Khrushchev (1958-1964) và trừng phạt nặng nề các văn nghệ sĩ miền Bắc tham gia hai Tạp chí Nhân Văn- Giai Phẩm.

3-Tiến hành Cải Cách Ruộng Đất (1952-1956) theo chỉ thị của Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh đã giết oan uổng trên 172,000 đồng bào ở nông thôn miền Bắc, trong đó có nhiều tiểu nông, trung nông, thân hào, nhân sĩ, trí thức tiểu tư sản, người ơn của đảng Cộng sản (Bà Nguyễn thị Năm tức Bà Cát Hanh Long) và cán bộ, sĩ quan miền Bắc. Nỗi oán hận của nhân dân miền Bắc thấu đến tận trời xanh.

4-Lừa bịp quần chúng, đảng Cộng sản đã ngu dân hóa đồng bào bằng các kỹ thuật tuyên truyền tiến hành ngày đêm. Chánh sách ngu dân đã cản trở nghiêm trọng công cuộc phát triển đất nước trong thời hậu chiến, nhứt là trong thời đại công nghiệp kỹ thuật cao.

5-Nhằm mục đích trồng người và tuyên truyền nhồi sọ (brainwashing) quần chúng để trở thành “con người mới xã hội chủ nghĩa”, đảng Cộng sản đã áp đặt môn học “Lý luận Mác-Lê nin” là môn học chánh của tất cả các trường học từ tiểu học đến đại học. Trái lại, học trình của các trường học đã xem nhẹ môn Lịch sử Việt Nam để tránh làm mất lòng quan thầy Tàu. Bộ máy tuyên truyền khổng lồ của đảng Cộng sản đã nhồi nhét vào đầu óc người dân tinh thần nhớ ơn người Anh Cả (Nga) và người Anh Hai (Tàu) nhưng không cho phép họ được biết đến các chiến công hiễn hách của tiền nhân trong công cuộc chống xâm lăng từ phương Bắc.

7-Tự nhận là tiền đồn chống chủ nghĩa tư bản tại Đông Nam Á, đảng Cộng sản đã thù ghét các nước tư bản và xem Liên Hiệp Quốc cũng như các tổ chức quốc tế là tay sai của đế quốc Mỹ. Hậu quả của thái độ thù địch vồ cùng tai hại: Việt Nam bị cô lập với Thế giới Tự Do và bị cấm vận trong một thời gian lâu dài.

8-Triệt để trung thành với chánh sách “Hồng hơn Chuyên”, đảng Cộng sản chỉ trọng dụng cán bộ, sĩ quan, công chức cỏ “lý lịch tốt” (tam đại bần cố, gốc Tàu hoặc thân Tàu), khéo nịnh bợ cấp trên và tuyệt đối tuân lịnh Trung Ương đảng. Do đó, bộ máy thư lại quan liêu của Nhà nước cộng sản kém hiệu năng và lạc hậu.

9-Nguyên tắc “Dân chủ tập trung” của đảng Cộng sản đã tạo ra một tân chế độ phong kiến thế tập của một vài lãnh tụ huyền thoại được tôn thờ và thần tượng (Hồ Chí Minh, Lê Duẫn). Chất xám cần thiết cho sự lãnh đạo quốc gia chỉ tập trung trong đầu óc thiển cận và nô lệ Nga Tàu của một số ít ủy viên bộ Chánh trị đảng Cộng sản. Trong chế độ độc tài chuyên chính của “Giai cấp mới” nhà cầm quyền không bao giờ tôn trọng hiến pháp, luật pháp, hiệp ước và công ước quốc tế đã kỷ kết (15). Theo lời dạy của Vladimir Lenin, luật pháp quốc nội và quốc tế chỉ được xem là một phương tiện của nhà cầm quyền cộng sản.

10-Cầu viện Trung Quốc từ năm 1950 để chiếm đoạt chánh quyền trong cả nước, đảng Cộng sản Việt Nam đã phải trả giá quá đắt: chuyển nhượng cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mất đất và biển, đảo. Lãnh thổ bị thu hẹp và mất chủ quyền, Việt Nam đã quay trở lại đầu phục Trung Quốc sau 76 năm thoát khỏi ảnh hưởng của Hán tộc kể từ ngày ký kết hòa ước 1874 với nước Pháp. Hồ Chí Minh không quan tâm đến những thiệt hại nghiêm trọng của Việt Nam vì ông ta là một người cộng sản Tàu có nhiệm vụ đến nước ta để áp đặt chủ nghĩa cộng sản, tái lập ảnh hưởng của Hán tộc và biến cải nước Văn Lang của dân tộc Lạc Việt thành một tỉnh hay một quận của Trung Quốc ngày nay giống như Giao Châu dưới thời Nhà Hán.

II – Hậu quả của các chánh sách và chủ trương của đảng Cộng Sản trong thời bình (từ 1975 đến nay)

1-Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội theo lịnh truyền của Tổng Bí thư Lê Duẫn, đảng Cộng sản đã đem lại đói kém cho nhân dân cả hai miền Nam Bắc, gây ra lạm phát 1,000% và khiến cho GDP của Việt Nam chỉ còn một tỷ USD.

2-Thống trị độc đoán nước Việt Nam thống nhứt, đảng Cộng sản chánh thức định nghĩa: “Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội” để bắt buộc nhân dân phải nô lệ Nga Tàu và mất hẵn tinh thần quốc gia dân tộc và độc lập tự chủ.

3- Thành lập nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Lê Duan áp đặt chủ nghĩa cộng sản lên đầu nhân dân cả nước để đi lên chủ nghĩa đại đồng vô biên giới dưới quyền lãnh đạo tối cao của Nga Tàu. Chủ nghĩa đại đồng đã trở thành không tưởng khi Nga Tàu đánh giết nhau tại sông Amor (Hắc Long Giang) năm 1969 để tranh đoạt lãnh thổ.

4-Ban hành hai hiến pháp năm 1980 và 1992 để giành đặc quyền muôn năm trường trị, đảng Cộng sản thật sự là vua của nước Việt Nam thống nhứt, mặc kệ quần chúng lầm than đói khổ và đất nước chậm phát triển so với các nước không cộng sản trong khu vực. Với đặc quyền chuyên chính, các vua quan cộng sản tha hồ tham nhũng, bóc lột và đối xử với người dân đen như nô lệ. Một chế độ quân chủ chuyên chế thế tập đã được đảng Cộng sản tái lập sau khi cướp ngôi vua của nhà Nguyễn năm 1945. Với tham vọng truyền tử lưu tôn trong ngôi vua, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã công khai bộc lộ ước mơ của đảng Cộng sản: Ngự trị Việt Nam đến cuối thế kỷ 21 và “trường tồn cùng dân tộc”.

5-Căm thù chủ nghĩa tư bản, đảng Cộng sản đã nhanh chóng đập tan nền kinh tế thị trường của miền Nam bằng nhiều biện pháp thất nhân tâm:

-Đỗi tiền ba lần với tỷ giá $500 đồng bạc Sài Gòn đổi lấy $1

đồng bạc Hà Nội. Mỗi hộ chỉ được đổi tối đa $200 đồng bạc Hà Nội. -Đảnh tư sản mại bản: bắt giam và cướp đoạt tài sản của các doanh nhân tỷ phú, triệu phú.

-Cải tạo công thương nghiệp: cướp đoạt tài sản của các tiểu thương và cơ sở của các nhà sản xuất nhỏ.

-Hợp tác hóa nông nghiệp: cướp đoạt ruộng đất, trâu bò, cày bừa và phương tiện canh tác của nhà nông, ép bức nông dân vào hợp tác xã để làm nông nô cho Nhà nước cộng sản, một đại địa chủ.

6-Cướp đoạt tài sản của chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa, sĩ quan, viên chức và “ngụy dân” miền Nam, người Việt gốc Hoa bị tống xuất ra khỏi Việt Nam và tất cả nạn nhân bị tập trung cải tạo dài hạn. Người bị cướp của, giam cầm không khỏi thán oán kẻ cướp của giết người và không bao giờ quên các tội ác nầy.

7-Tập trung cải tạo không bản án cả triệu sĩ quan, viên chức chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa, cán bộ các chánh đảng quốc gia, nhà báo, văn nghệ sĩ và nhân viên các Sở Mỹ, trong số nầy trên ba trăm ngàn (300,000) người bị lưu đày biệt xứ nơi rừng sâu núi thẳm Bắc Việt. Nếu không có sự can thiệp của Hoa Kỳ, chắc chắn đa số tù binh và tù nhân chánh trị của chế độ cộng sản không có ngày về sum họp gia đình. Theo các thống kê bán chánh thức, không dưới 20% tù nhân cải tạo đã bỏ xác trong ngục tù cộng sản.

8-Sau khi “ông vua” Lê Duẫn “băng hà” năm 1986, đảng Cộng sản bắt chước Trung Quốc đổi mới kinh tế nửa vời nhưng không cải tổ chánh trị. Giữ nguyên chế độ độc tài toàn trị, đảng Cộng sản áp dụng ma thuật “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” để cứu đảng và làm giàu cho các lãnh tụ và cán bộ, đảng viên cộng sản. Một giai câp mới, giai cấp tư bản đỏ, đã thống trị nhân dân với các công cụ bạo lực (Công An, Quân đội, Tòa án, Dân phòng và Xã hội đen).

Mô thức “Kinh tố thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” đã biến thể chế độ cộng sản Việt Nam thành một chế độ tư bản hoang dại của thế kỷ 19 tại Tây Âu mà Karl Marx đã lên án trong bản Tuyên Ngôn đảng Cộng sản năm 1848. Mô thức nầy cũng đã biến chất chủ nghĩa cộng sản với màu sắc Trung Hoa thành một chủ nghĩa quốc gia cực đoan (Ultra Nationalism) đang gây bất an cho cả thế giới trước “Giấc Mơ Trung Hoa” (China Dream).

9-Tiếp nối “công lao” bán nước của Hồ Chí Minh và Phạm văn Đồng,Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã chỉ thị kỷ kết hai hiệp ưởc ngày 31-12-1999 và 25-12-2000 chuyển nhượng cho Trung Quốc gần 1,000 kí lô mét vuông đất liền dọc theo 6 tỉnh biên giới Việt-Hoa và 12,000 kí lô mét vuông biển trong Vịnh Bắc Việt để được Thủ tướng Tàu Chu Dung Cơ tưởng thưởng 2.5 tỷ USD.

KÉT LUẬN

Từ 1945 đến nay, đảng Cộng sản đã lòng vòng dẫn dắt nước Việt Nam đi từ kinh tế thị trường dưới chế độ thực dân Pháp và chánh quyền Quốc Gia đến kinh tế xã hội chủ nghĩa sau khi kết thúc 30 năm chiến tranh rồi quay trở lại kinh tế thị trường của chủ nghĩa tư bản hoang dại trong thời kỳ công nhân Tây Âu bị chủ nhân bóc lột thậm tệ. Đảng đã dạy bảo nhân dân đả thực (Thực dân), bài phong (Phong kiến) để sau cùng phải chấp nhận một chế độ quân chủ chuyên chế cộng sản. Vì mục đích cướp đoạt chánh quyền tại Việt Nam để hành trướng đế quốc Hán tộc, đảng Cộng sản cũng đã dẫn dát dân tộc Việt Nam trải qua bốn cuộc chiến tranh để đi từ độc lập với Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 11-3-1945 của Hoàng dế Bảo Đại đến lệ thuộc Trung Quốc ngày càng rõ rệt kể từ năm 1950 và dần dần mất đất, biển, quần đảo, rừng đầu nguồn và Cao nguyên Trung phần. Giống như Nhà Thanh sau khi thất trận trước Bát quốc Liên quân, Việt Nam cộng sản ngày nay đã phải nhượng cho Tàu một số “tô giới” từ Bắc chí Nam: Đông Đô Đại Phổ tại tỉnh Bình Dương, Khu kinh tế tự trị Formosa tại Vũng Áng, Hà Tỉnh, Khu khai thác Bauxite tại Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Dak Nong).

Ngày nay, dân tộc Việt ở trong và ngoài nước đang lo ngại sau 30 năm ký kết Kỹ Yếu Thành Đô (Tứ Xuyên) năm 1990 giữa hai đảng Cộng sản Trung Quốc và Việt Nam, nước Việt sẽ trở thành một vong quốc như nước Đại Yên của Mộ Dung Phục và dân tộc Lạc Việt sẽ bị Hán hóa một ngày không xa. Người đã gây ra thảm họa nầy là đảng Cộng sản Việt Nam. Đau hơn nữa, người lãnh đạo tối cao của đảng Cộng sản đang được tôn thờ như một vị Phật tại Ba Đình (Hà Nội) và các chùa chiền trong nước lại không phải là người Việt. Mỉa mai thay, nhân vật huyền thoại được đảng Cộng sản Phật hóa là một lãng tử giang hồ thích chiến tranh và bất cần tôn trọng ngũ giới cấm: uống rượu thuốc bổ dương đắt tiền, nghiện nặng thuốc lá Mỹ, quan hệ tình dục với đàn bà ngay trong thời kỳ ẩn trốn quân Pháp trong rừng núi Việt Bắc.Như vậy, đảng Cộng sản Việt Nam có bản lãnh dùng “Gậy Ông Đập Lưng Ông” hay dùng “Giáo Tàu đâm Chệt” hay không?

Mùa Xuân California, 2015

Tài liệu tham khảo: (15) Milovan Djilas, The New Class: An Analysis of the Communist Syatem, Atlantic Press book, 1957

THAY NGÔI DỔI CHỦ – CHƯƠNG 10
Text Box: GẬY ÔNG ĐẬP LƯNG ÔNG

Trong tiểu thuyết kiếm hiệp Thiên Long Bát bộ, nhà văn Kim Dung đã tạo dựng ra một nhân vật đặc biệt suốt đời đam mê làm vua của một vong quốc. Đó là Mộ Dung Phục nổi danh với chiêu thức “Gậy ông đập lưng ông” bằng cách sử dụng món võ sở trường của các môn phái võ lâm để đánh thắng người của họ.

Giữa Mộ Dung Phục và đảng Cộng Sản Việt Nam do Hồ Chí Minh và Lê Duẫn đại diện có một điểm tương đồng và một điểm khác biệt. Giống nhau về tham vọng, Mộ Dung Phục muốn làm vua của một nước không còn tồn tại (nước Đại Yên) còn đảng Cộng Sản Việt Nam muốn muôn năm trường trị nước Việt mới thâu hồi độc lập ngày 11-3-1945 sau khi Nhựt bổn đảo chánh Pháp tại Đông Dương.(Xem Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 11-3-1945 của Hoàng đế Bảo Đại). Khác nhau về tài năng và bản lãnh: Mộ Dung Phục có khả năng đánh thắng nhiều nhân vật của các môn phái võ lâm nhờ điêu luyện chiêu thức của các võ phái nầy. Trái lại, vì học lóm và vội vàng áp dụng một cách mù quáng các tư tưởng sai lầm chưa trắc nghiệm của một vài người ngoại quốc sống giữa thế kỷ 19 (Karl Marx và Frederic Engels) hoặc tiền bán thế kỷ 20 (Vladimir Lenin, Josef Stalin và Mao Trạch Đông), đảng Cộng Sản Việt Nam đã sử dụng cây gậy (hay cây súng của Tàu) đế đập vào lưng của chính mình nghĩa là giáng đòn chí tử vào dân tộc Việt

I-Hậu quả của các chánh sách và chủ trương của đảng Cộng Sản trong 30 năm chiến tranh (1945- 1975)

1–Sử dụng bạo lực để chiếm đoạt chánh quyền theo lời dạy của Mao Trạch Đông (chánh quyền trên mũi súng), đảng Cộng Sản Việt Nam, môt Chi bộ của đảng Cộng Sản Trung Quốc, đã liên tục tiến hành chiến tranh, gây ra núi xương, sông máu (10 triệu thương vong), giết hại vô số trí thức, nhân tài và tinh hoa của dân tộc Việt Nam (không dưới mười ngàn người). Một đất nước có ít nhân tài có thể phát triển được hay không? Làm sao “tìm kiếm nhân tài” như mong ước của nhà báo Bùi Tín, cựu Đại tá cộng sản miền Bắc?

2-Đẩy mạnh đấu tranh giai cấp, đảng Cộng sản đã chia rẽ các thành phần xã hội và triệt tiêu sinh lực của dân tộc Việt. Thực hiện chủ trương tiêu diệt giai cấp Hồ Chí Minh đã hạ lịnh: “ Trí, Phú, Địa, Hào. Đào tận gốc, trốc tận rễ”. Thi nô Tố Hữu đã cỗ xúy giết người trong Cải cách Ruộng Đất: “ Giết, giết , bàn tay không ngừng nghỉ”. Sau gần 40 năm thống nhứt đất nước bằng súng đạn, nhân tâm vẫn còn ly tán, hận thù vẫn ngập tràn trong tâm tư của quần chúng bị đày đọa, áp bức và bóc lột dã man. Nhân dân Việt Nam đã bị chia rẽ trầm trọng.

3-Trọng dụng bần cố nông và du côn du đảng để sẵn sàng hạ sát các thành phần trí thức, phú hộ, địa chủ và thân hào nhân sĩ, Hồ Chí Minh tức Thiếu tá Hồ Quang của Quân đội Trung Cộng đã bắt chước Mao Trạch Đông xem trí thức khồng có giá trị bàng một cục phân. Trường hợp đau đớn của hai đại trí thức Nguyễn Mạnh Tường và Trần Đức Thảo đã minh chứng chủ trương khỉnh mỉệt trí thức của Hồ Quang. Ngoài hành động tiêu diệt trí thức, đảng Cộng sản đã không đào tạo nhân tài như thực dân Pháp đã làm trong thời kỳ Bảo Hộ. Chất xám của dân tộc Việt đã bị tiêu hao quá nhiều dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Lê Duẫn. Rất nhiều nhân tài và tinh hoa của dân tộc Việt tốt nghiệp các trường đại học ở Pháp, Anh, Hoa Kỳ và trong nước đã bị ám sát, thủ tiêu trong thời kỳ chiến tranh (1945-1975)

Không những trù dập trí thức, đảng Cộng Sản còn ra tay đàn áp, tù đày Nhóm Xét Lại (Revisionists) chủ nghĩa Marx- Lenin theo khuynh hướng của Tổng Bí thư đảng Cộng sản Liên xô Nikita Khrushchev (1958-1964) và trừng phạt nặng nề các văn nghệ sĩ miền Bắc tham gia hai Tạp chí Nhân Văn- Giai Phẩm.

3-Tiến hành Cải Cách Ruộng Đất (1952-1956) theo chỉ thị của Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh đã giết oan uổng trên 172,000 đồng bào ở nông thôn miền Bắc, trong đó có nhiều tiểu nông, trung nông, thân hào, nhân sĩ, trí thức tiểu tư sản, người ơn của đảng Cộng Sản (Bà Nguyễn thị Năm tức Bà Cát Hanh Long) và cán bộ, sĩ quan miền Bắc. Nỗi oán hận của nhân dân miền Bắc thấu đến tận trời xanh.

4-Lừa bịp quần chúng, đảng Cộng Sản đã ngu dân hóa đồng bào bằng các kỹ thuật tuyên truyền tiến hành ngày đêm. Chánh sách ngu dân đã cản trở nghiêm trọng công cuộc phát triển đất nước trong thời hậu chiến, nhứt là trong thời đại công nghiệp kỹ thuật cao.

5-Nhằm mục đích trồng người và tuyên truyền nhồi sọ (brainwashing) quần chúng để trở thành “con người mới xã hội chủ nghĩa”, đảng Cộng sản đã áp đặt môn học “Lý luận Mác-Lê nin” là môn học chánh của tất cả các trường học từ tiểu học đến đại học. Trái lại, học trình của các trường học đã xem nhẹ môn Lịch sử Việt Nam để tránh làm mất lòng quan thầy Tàu. Bộ máy tuyên truyền khổng lồ của đảng Cộng sản đã nhồi nhét vào đầu óc người dân tinh thần nhớ ơn người Anh Cả (Nga) và người Anh Hai (Tàu) nhưng không cho phép họ được biết đến các chiến công hiễn hách của tiền nhân trong công cuộc chống xâm lăng từ phương Bắc.

7-Tự nhận là tiền đồn chống chủ nghĩa tư bản tại Đông Nam Á, đảng Cộng Sản đã thù ghét các nước tư bản và xem Liên Hiệp Quốc cũng như các tổ chức quốc tế là tay sai của đế quốc Mỹ. Hậu quả của thái độ thù địch vồ cùng tai hại: Việt Nam bị cô lập với Thế Giới Tự Do và bị cấm vận trong một thời gian lâu dài.

8-Triệt để trung thành với chánh sách “Hồng hơn Chuyên”, đảng Cộng Sản chỉ trọng dụng cán bộ, sĩ quan, công chức cỏ “lý lịch tốt” (tam đại bần cố, gốc Tàu hoặc thân Tàu), khéo nịnh bợ cấp trên và tuyệt đối tuân lịnh Trung Ương đảng. Do đó, bộ máy thư lại quan liêu của Nhà nước cộng sản kém hiệu năng và lạc hậu.

9-Nguyên tắc “Dân chủ tập trung” của đảng Cộng Sản đã tạo ra một tân chế độ phong kiến thế tập của một vài lãnh tụ huyền thoại được tôn thờ và thần tượng (Hồ Chí Minh, Lê Duẫn). Chất xám cần thiết cho sự lãnh đạo quốc gia chỉ tập trung trong đầu óc thiển cận và nô lệ Nga Tàu của một số ít ủy viên bộ Chánh trị đảng Cộng Sản. Trong chế độ độc tài chuyên chính của “Giai cấp mới” nhà cầm quyền không bao giờ tôn trọng hiến pháp, luật pháp, hiệp ước và công ước quốc tế đã kỷ kết (15). Theo lời dạy của Vladimir Lenin, luật pháp quốc nội và quốc tế chỉ được xem là một phương tiện của nhà cầm quyền cộng sản.

10-Cầu viện Trung Quốc từ năm 1950 để chiếm đoạt chánh quyền trong cả nước, đảng Cộng Sản Việt Nam đã phải trả giá quá đắt: chuyển nhượng cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mất đất và biển, đảo. Lãnh thổ bị thu hẹp và mất chủ quyền, Việt Nam đã quay trở lại đầu phục Trung Quốc sau 76 năm thoát khỏi ảnh hưởng của Hán tộc kể từ ngày ký kết hòa ước 1874 với nước Pháp. Hồ Chí Minh không quan tâm đến những thiệt hại nghiêm trọng của Việt Nam vì ông ta là một người Cộng Sản Tàu có nhiệm vụ đến nước ta để áp đặt chủ nghĩa cộng sản, tái lập ảnh hưởng của Hán tộc và biến cải nước Văn Lang của dân tộc Lạc Việt thành một tỉnh hay một quận của Trung Quốc ngày nay giống như Giao Châu dưới thời Nhà Hán.

II – Hậu quả của các chánh sách và chủ trương của đảng Cộng Sản trong thời bình (từ 1975 đến nay)

1-Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội theo lịnh truyền của Tổng Bí Thư Lê Duẫn, đảng Cộng Sản đã đem lại đói kém cho nhân dân cả hai miền Nam Bắc, gây ra lạm phát 1,000% và khiến cho GDP của Việt Nam chỉ còn một tỷ USD.

2-Thống trị độc đoán nước Việt Nam thống nhứt, đảng Cộng Sản chánh thức định nghĩa: “Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội” để bắt buộc nhân dân phải nô lệ Nga Tàu và mất hẵn tinh thần quốc gia dân tộc và độc lập tự chủ.

3- Thành lập nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Lê Duẫn áp đặt chủ nghĩa Cộng Sản lên đầu nhân dân cả nước để đi lên chủ nghĩa đại đồng vô biên giới dưới quyền lãnh đạo tối cao của Nga Tàu. Chủ nghĩa đại đồng đã trở thành không tưởng khi Nga Tàu đánh giết nhau tại sông Amor (Hắc Long Giang) năm 1969 để tranh đoạt lãnh thổ.

4-Ban hành hai hiến pháp năm 1980 và 1992 để giành đặc quyền muôn năm trường trị, đảng Cộng sản thật sự là vua của nước Việt Nam thống nhứt, mặc kệ quần chúng lầm than đói khổ và đất nước chậm phát triển so với các nước không cộng sản trong khu vực. Với đặc quyền chuyên chính, các vua quan cộng sản tha hồ tham nhũng, bóc lột và đối xử với người dân đen như nô lệ. Một chế độ quân chủ chuyên chế thế tập đã được đảng Cộng sản tái lập sau khi cướp ngôi vua của nhà Nguyễn năm 1945. Với tham vọng truyền tử lưu tôn trong ngôi vua, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã công khai bộc lộ ước mơ của đảng Cộng sản: Ngự trị Việt Nam đến cuối thế kỷ 21 và “trường tồn cùng dân tộc”.

5-Căm thù chủ nghĩa tư bản, đảng Cộng sản đã nhanh chóng đập tan nền kinh tế thị trường của miền Nam bằng nhiều biện pháp thất nhân tâm:

-Đổi tiền ba lần với tỷ giá $500 đồng bạc Sài Gòn đổi lấy $1 đồng bạc Hà Nội. Mỗi hộ chỉ được đổi tối đa $200 đồng bạc Hà Nội.

-Đánh tư sản mại bản: Bắt giam và cướp đoạt tài sản của các doanh nhân tỷ phú, triệu phú.

-Cải tạo công thương nghiệp: cướp đoạt tài sản của các tiểu thương và cơ sở của các nhà sản xuất nhỏ.

-Hợp tác hóa nông nghiệp: Cướp đoạt ruộng đất, trâu bò, cày bừa và phương tiện canh tác của nhà nông, ép bức nông dân vào hợp tác xã để làm nông nô cho nhà nước Cộng Sản, một đại địa chủ.

6-Cướp đoạt tài sản của chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa, sĩ quan, viên chức và “ngụy dân” miền Nam, người Việt gốc Hoa bị tống xuất ra khỏi Việt Nam và tất cả nạn nhân bị tập trung cải tạo dài hạn. Người bị cướp của, giam cầm không khỏi thán oán kẻ cướp của giết người và không bao giờ quên các tội ác nầy.

7-Tập trung cải tạo không bản án cả triệu sĩ quan, viên chức chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa, cán bộ các chánh đảng quốc gia, nhà báo, văn nghệ sĩ và nhân viên các Sở Mỹ, trong số nầy trên ba trăm ngàn (300,000) người bị lưu đày biệt xứ nơi rừng sâu núi thẳm Bắc Việt. Nếu không có sự can thiệp của Hoa Kỳ, chắc chắn đa số tù binh và tù nhân chánh trị của chế độ cộng sản không có ngày về sum họp gia đình. Theo các thống kê bán chánh thức, không dưới 20% tù nhân cải tạo đã bỏ xác trong ngục tù cộng sản.

8-Sau khi “ông vua” Lê Duẫn “băng hà” năm 1986, đảng Cộng Sản bắt chước Trung Quốc đổi mới kinh tế nửa vời nhưng không cải tổ chánh trị. Giữ nguyên chế độ độc tài toàn trị, đảng Cộng Sản áp dụng ma thuật “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” để cứu đảng và làm giàu cho các lãnh tụ và cán bộ, đảng viên Cộng Sản. Một giai câp mới, giai cấp tư bản đỏ, đã thống trị nhân dân với các công cụ bạo lực (Công An, quân đội, tòa án, dân phòng và xã hội đen).

Mô thức “Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” đã biến thể chế độ Cộng Sản Việt Nam thành một chế độ tư bản hoang dại của thế kỷ 19 tại Tây Âu mà Karl Marx đã lên án trong bản Tuyên Ngôn đảng Cộng Sản năm 1848. Mô thức nầy cũng đã biến chất chủ nghĩa cộng sản với màu sắc Trung Hoa thành một chủ nghĩa quốc gia cực đoan (Ultra Nationalism) đang gây bất an cho cả thế giới trước “Giấc Mơ Trung Hoa” (China Dream).

9-Tiếp nối “công lao” bán nước của Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng, Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu đã chỉ thị ký kết hai hiệp ước ngày 31-12-1999 và 25-12-2000 chuyển nhượng cho Trung Quốc gần 1,000 kí lô mét vuông đất liền dọc theo 6 tỉnh biên giới Việt-Hoa và 12,000 kí lô mét vuông biển trong Vịnh Bắc Việt để được Thủ Tướng Tàu Chu Dung Cơ tưởng thưởng 2.5 tỷ USD.

KÉT LUẬN

Từ 1945 đến nay, đảng Cộng Sản đã lòng vòng dẫn dắt nước Việt Nam đi từ kinh tế thị trường dưới chế độ thực dân Pháp và chánh quyền Quốc Gia đến kinh tế xã hội chủ nghĩa sau khi kết thúc 30 năm chiến tranh rồi quay trở lại kinh tế thị trường của chủ nghĩa tư bản hoang dại trong thời kỳ công nhân Tây Âu bị chủ nhân bóc lột thậm tệ. Đảng đã dạy bảo nhân dân đả thực (Thực Dân), bài phong (Phong Kiến) để sau cùng phải chấp nhận một chế độ quân chủ chuyên chế Cộng Sản. Vì mục đích cướp đoạt chánh quyền tại Việt Nam để hành trướng đế quốc Hán tộc, đảng Cộng sản cũng đã dẫn dát dân tộc Việt Nam trải qua bốn cuộc chiến tranh để đi từ độc lập với Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 11-3-1945 của Hoàng Đế Bảo Đại đến lệ thuộc Trung Quốc ngày càng rõ rệt kể từ năm 1950 và dần dần mất đất, biển, quần đảo, rừng đầu nguồn và Cao nguyên Trung phần. Giống như Nhà Thanh sau khi thất trận trước Bát quốc Liên quân, Việt Nam cộng sản ngày nay đã phải nhượng cho Tàu một số “tô giới” từ Bắc chí Nam: Đông Đô Đại Phổ tại tỉnh Bình Dương, Khu kinh tế tự trị Formosa tại Vũng Áng, Hà Tỉnh, Khu khai thác Bauxite tại Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Dak Nong).

Ngày nay, dân tộc Việt ở trong và ngoài nước đang lo ngại sau 30 năm ký kết Kỹ Yếu Thành Đô (Tứ Xuyên) năm 1990 giữa hai đảng Cộng Sản Trung Quốc và Việt Nam, nước Việt sẽ trở thành một vong quốc như nước Đại Yên của Mộ Dung Phục và dân tộc Lạc Việt sẽ bị Hán hóa một ngày không xa. Người đã gây ra thảm họa nầy là đảng Cộng sản Việt Nam. Đau hơn nữa, người lãnh đạo tối cao của đảng Cộng sản đang được tôn thờ như một vị Phật tại Ba Đình (Hà Nội) và các chùa chiền trong nước lại không phải là người Việt. Mỉa mai thay, nhân vật huyền thoại được đảng Cộng sản Phật hóa là một lãng tử giang hồ thích chiến tranh và bất cần tôn trọng ngũ giới cấm: uống rượu thuốc bổ dương đắt tiền, nghiện nặng thuốc lá Mỹ, quan hệ tình dục với đàn bà ngay trong thời kỳ ẩn trốn quân Pháp trong rừng núi Việt Bắc.Như vậy, đảng Cộng sản Việt Nam có bản lãnh dùng “Gậy Ông Đập Lưng Ông” hay dùng “Giáo Tàu đâm Chệt” hay không?

Mùa Xuân California, 2015

Tài liệu tham khảo: (15) Milovan Djilas, The New Class: An Analysis of the Communist Syatem, Atlantic Press book, 1957

Share this post