Thôi Rồi… Đà Lạt Ơi! – Nguyễn Ngọc Chính

Dù không phải là một người chuyên về… “Đà Lạt Học” nhưng tôi đã viết khá nhiều về vùng cao nguyên Lâm Viên (hay còn gọi là Langbiang), nơi có độ cao trung bình 1.500 mét so với mực nước biển.

Vào cuối thế kỷ 19, khi tìm kiếm một địa điểm để xây dựng trạm nghỉ dưỡng dành cho người Pháp ở Đông Dương, Toàn Quyền Paul Doumer đã quyết định chọn cao nguyên Lâm Viên theo đề nghị của Bác Sĩ Alexandre Yersin, người từng thám hiểm nơi đây vào năm 1893.

Các bạn sẽ tham khảo những bài viết về Đà Lạt ở phần cuối, tôi chỉ xin kể ra đây những bài viết điển hình, chẳng hạn như “Đà Lạt Sương Mù: Quê Hương Thứ Hai” là chuyện một chú bé rời Hà Nội vào Đà Lạt từ năm 1953 (trước cuộc di cư năm 1954) trên bước đường theo bố phục vụ trong lực lượng Ngự Lâm Quân của vua Bảo Đại.

Trong “Đà Lạt Sương Mù: Đất Lành Chim Đậu” người đọc có dịp tìm hiểu cuộc sống của người Đà Lạt xưa theo những gì mắt thấy tai nghe và trong “Đà Lạt Sương Mù: Năm Tháng Ngao Du” kể lại sự trở về Đà Lạt năm cuối cùng thời trung học sau một thời gian lưu lạc đến xứ Ban Mê.

Cũng có bài viết “Hồi Ức Về Một Người Thân” kể lại kỷ niệm những ngày học hành ở Đà Lạt dưới sự dạy kèm tại nhà của ông anh lớn tuổi. Tôi đã học “nhảy”, có nghĩa là từ lớp Ba sang lớp Năm mà không ngồi ở lớp Tư để thi tiểu học.

Những bài viết trong quá khứ là tâm sự của một người Đà Lạt, hồi tưởng đến những kỷ niệm khó quên, từ thuở thiếu thời, một quãng đời kéo dài từ những ngày còn đi học cho đến khi vào lính. Giờ thì tóc đã điểm sương nhưng trong đầu vẫn còn những hình ảnh của một Đà Lạt xa xưa.

Tôi nghĩ bài viết này với tiếng gọi thống thiết “Thôi rồi… Đà Lạt ơi!” sẽ là bài cuối cùng về vùng cao nguyên Lambiang của ngày nào. Tại sao ư? Mai này Đà Lạt sẽ không còn là địa điểm nghỉ mát của những người đi tìm một nơi bình yên cho cả tâm hồn lẫn cuộc sống. Vì có đi đâu cũng chỉ thế thôi, làm sao tìm lại một Đà Lạt của ngày nào.

Rồi bạn sẽ thấy một Đà Lạt “văn minh, hiện đại” với những tòa building bê-tông cốt thép đứng ngạo nghễ giữa thành phố mà hồi xưa được mệnh danh là “Paris Nhỏ”. Cũng giống như những thành phố “tân tiến” khác của Việt Nam ngày nay như Hà Nội, Sài Gòn, Đà Nẵng… bạn sẽ gặp một Đà Lạt “đổi mới” từ vật chất đến tinh thần!

Ngày 16/3/2019, Sở Xây Dựng Lâm Đồng đã bất ngờ công bố quyết định của tỉnh, cái gọi là, “quy hoạch chi tiết và thiết kế đô thị” của khu trung tâm Hòa Bình đã được thủ tướng phê duyệt.

Theo bản đồ tỷ lệ 1/500, trung tâm Hòa Bình, có diện tích 39 ha, thuộc Phường 1. Cụ thể, khu này bao gồm chợ Đà Lạt và đường Nguyễn Thi Minh Khai (6,95 ha); khu trung tâm Hòa Bình (3,37 ha); khu đồi Dinh (4,43 ha); khu chỉnh trang đô thị (9,19 ha) và khu vực ven Hồ Xuân Hương (6,06 ha).

Quan trọng hơn cả là rạp hát Hòa Bình và Dinh Tỉnh trưởng sẽ bị dỡ bỏ, di dời nguyên khối để thực hiện các công trình nằm trong đồ án với ý tưởng chủ đạo trong quy hoạch chung của Đà Lạt: “Thành phố trong rừng – Rừng trong thành phố”!

Chợ Đà Lạt cũng có một lịch sử gian truân như thân phận nàng Kiều. Khởi đầu là “Chợ Cây” năm 1929 tại khu vực ngày nay là khu Hòa Bình. Năm 1937, một vụ hỏa hoạn đã xảy ra và người ta xây dựng một chợ bằng gạch để thay thế “Chợ Cây”.

Khi tôi đến Đà Lạt vào năm 1953, “Chợ Gạch” đã dời vào địa điểm “Chợ Tạm” cách đó chỉ vài trăm mét. Tôi còn nhớ rất rõ, chợ tạm lợp tôn ở dưới chân đồi. Đây cũng là nơi mỗi buổi trưa từ trường Nam tiểu học Đà Lạt tôi thường ra sạp bán mũ dạ của mẹ vì nhà ở gần Trại Hầm, cách khoảng 3 cây số.

Cũng tại ngôi chợ tạm này tôi thường được ăn các món quà chợ như bún cà ri của một ông già râu tóc bạc phơ, nhìn tướng thật dữ dằn nhưng ông lại có tính hay pha trò dí dỏm. Còn có món mì Quảng của một bà mặc áo dài quảy đôi quang gánh đi khắp chợ. Người Đà Lạt xưa đa số là người miền Trung nên còn giữ phong cách áo dài của mấy o, mấy mệ khi ra chợ.

Mãi đến năm 1958, một ngôi chợ ba tầng lầu mới được xây dựng, đây cũng là “Chợ Lầu” đầu tiên tại Việt Nam. Chợ được xây dựng trên một vùng đất sình lầy trồng xà-lách-son (cresson) mà người Đà Lạt gọi là “ruộng xà-lách-son”. Chợ do Kiến Trúc Sư Nguyễn Duy Đức thiết kế, nhà thầu Nguyễn Linh Chiểu thi công và được hoàn thành năm 1960.

Về sau, Kiến Trúc Sư Ngô Viết Thụ tham gia chỉnh trang chợ Đà Lạt, đặc biệt là việc thay đổi mặt tiền, thiết kế bổ sung cầu nổi bằng béton dẫn vào hông chợ, khu công viên trước chợ và các dãy phố lầu xung quanh chợ.

Rõ ràng Khu Hòa Bình là trung tâm của Đà Lạt với một ngọn tháp đủ cao để khi người ta vượt qua dốc chợ giữa hai hàng cây anh đào có thể thấy ngay trước mắt. Đó cũng là trái tim của Đà Lạt với mặt tiền là rạp hát Hòa Bình.

Rạp hát Hòa Bình là nơi tôi còn nhớ mãi với kỷ niệm đứng trên sân khấu cùng ban nhạc trường Trần Hưng Đạo trong một buổi văn nghệ liên trường. Chúng tôi biểu diễn những bản nhạc theo phong cách “The Shadows” qua những bài như Apache, Man of Mystery.

Hội trường Hòa Bình cũng là nơi một anh học trò “vô danh tiểu tốt” Từ Công Phụng đứng hát những bài như “Bây Giờ Tháng Mấy”, “Mùa Thu Mây Ngàn” do chính anh sáng tác. Họ Từ là một học sinh người Chàm ở Ninh Thuận, lên Đà Lạt học năm Đệ Nhất tại Trần Hưng Đạo. Anh là người ít nói, hiền lành nên các bạn đều quý mến.

Hội trường Hòa Bình là nơi Phụng đứng hát lần đầu trong đời và Đài phát thanh Đà Lạt mang tiếng hát của anh về đến Sài Gòn. Chỉ một năm sau, Từ Công Phụng trở thành một nhạc sĩ được giới trẻ ưa thích trong suốt thập niên 60-70.

Cũng từ Đà Lạt, “nữ hoàng chân đất” Khánh Ly cất tiếng hát và cặp song ca Lê Uyên Phương chinh phục giới trẻ với phong cách tương tự như “Sonny & Cher” bên trời Tây. Phải nói, Đà Lạt là một cái nôi ươm mầm văn hóa, văn nghệ và Café Tùng là một địa điểm gặp gỡ của giới văn nghệ sĩ.

Trong hai địa điểm phải bị dỡ bỏ, Dinh Tỉnh Trưởng ít nổi tiếng hơn Khu Hòa Bình. Đối với tôi, một người đã có một thời gắn bó với Đà Lạt, điều này cũng dễ hiểu. Tòa nhà hai tầng được người Pháp xây dựng từ năm 1910 và sau đó được sử dụng vừa làm nơi ở cũng như làm việc của tỉnh trưởng Tuyên Đức trước đây.

Ít người để ý vì đây là cơ quan công quyền, chỉ những người có việc phải đến mới nhận ra vẻ uy nghi của tòa nhà. Sau năm 1975, có thời gian Dinh được sử dụng làm Bảo Tàng Lâm Đồng, nhưng không hiểu vì lý do gì mà sau đó bị bỏ hoang.

Năm 2011, tỉnh Lâm Đồng có chủ trương giao cho một nhà đầu tư tôn tạo công trình để khai thác kinh doanh, tuy nhiên cũng không đem lại hiệu quả, toà dinh thự tiếp tục bị bỏ hoang, trở thành nhà kho chứa đồ đạc.

Thật ra dinh thự này đã chìm dần vào quên lãng và chỉ khi có quy hoạch tháo dỡ người ta mới bắt đầu chú ý đến. Âu đó cũng là tâm lý người đời: Chỉ khi nào biết sẽ bị mất người ta mới thấy quý!

Có hai luồng ý kiến trái ngược nhau giữa việc bảo tồn hay dỡ bỏ những di sản. Những người chủ trương dỡ bỏ có cái lý của họ khi nghĩ đến hình ảnh một Đà Lạt trở thành một thành phố năng động với các tiện nghi của thời kỳ hiện đại.

Hình như người ta quên rằng Đà Lạt là một thành phố du lịch với khí hậu mát mẻ và địa điểm lịch sử hấp dẫn đối với cả những khách trong và ngoài nước. Du khách sẽ không tìm đến nơi đây vì những trung tâm thương mại mới xây dựng vì đó là những hình ảnh họ có thể tìm thấy ở những thành phố nổi tiếng khác.

Chi bằng, một mặt ta cứ hài lòng với những gì mình có, mặt khác nâng cao trình độ quản lý và điều hành du lịch để thu hút khách phương xa. Cũng cần nói thêm, sự hợp tác của cư dân địa phương là một trong những yếu tố quyết định sự thành công trong việc thực hiện những chính sách du lịch thuận lợi cho toàn tỉnh. Vì đó là “nồi cơm chung” cho toàn thành phố.

Tin mới nhất cho biết, phó chủ tịch hội Kiến Trúc Sư Lâm Đồng đã tuyên bố đồ án quy hoạch cho thành phố Đà Lạt mới chỉ là “gợi ý” và “vẫn có thể chỉnh sửa được”. Kiến Trúc Sư Lê Tứ cho biết:

“Khi quy hoạch Đà Lạt mở rộng, trong đồ án chung có xác định vùng lõi cho Đà Lạt cũ, trong đó có khu trung tâm Hòa Bình. Theo quy định pháp luật phải làm từ quy hoạch chung đến quy hoạch chi tiết, phạm vi trung tâm này đã được xác định, cần rà soát, xem xét lại, chỉnh trang để đáp ứng nhu cầu mới dưới sự kiểm soát của cơ quan chuyên ngành”.

Cái mà người dân lo ngại là “kiến trúc kiểu nhà kính” của một trung tâm đa chức năng với các loại hình dịch vụ và giải trí hãy còn quá xa lạ và không phù hợp với hiện trạng của Đà Lạt. Có nên đặt kiến trúc này vào vị trí của rạp hát Hòa Bình hiện tại hay không?

Người dân cũng đồng quan điểm khi cho rằng Dinh Tỉnh Trưởng là một công trình có giá trị về mặt kiến trúc cũng như lịch sử. Việc thay thế tòa nhà này bằng một khối khách sạn sẽ trở nên quá xa lạ với kiểu… “mái úp tròn”. Có nên thực hiện việc hoán đổi này hay chăng?

Dân gian ta có câu cảm thán “Thôi rồi Lượm ơi!” để chỉ lời than khi mọi chuyện xảy ra không như ý mong muốn. Xin đừng biến câu nói này thành “Thôi rồi… Đà Lạt ơi!”.

***

Tham khảo:

· Bài viết “Đà Lạt sương mù: Năm tháng ngao du”: chinhhoiuc.blogspot.com/2012/09/a-lat-suong-mu-nam-thang-ngao-du.html

· Bài viết “Hồi ức về một người thân”: chinhhoiuc.blogspot.com/2012/09/hoi-uc-ve-mot-nguoi-than.html

· Bài viết “Tiếng còi tầu thời thơ ấu”: chinhhoiuc.blogspot.com/2018/12/tieng-coi-tau-thoi-tho-au.html

· Bài viết “Đà Lạt sương mù: Quê hương thứ hai”: chinhhoiuc.blogspot.com/2012/09/a-lat-suong-mu-que-huong-thu-hai.html

· Bài viết “Đà Lạt sương mù: Đất lành chim đậu”: chinhhoiuc.blogspot.com/2012/09/a-lat-suong-mu-at-lanh-chim-au.html

· Bài viết “Ai lên xứ hoa đào…”:
chinhhoiuc.blogspot.com/2012/09/ai-len-xu-hoa-ao.html

· Bài viết: “Đôi điều về Đà Lạt sương mù”:
chinhhoiuc.blogspot.com/2012/09/oi-ieu-ve-lat-suong-mu.html

Share this post