Thư Số 69b – Phạm Bá Hoa

Thư Số 69b – Phạm Bá Hoa

Thư số 69b gởi

Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam

******

Xin gọi chung Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam là Các Anh để tiện xưng hô. Chữ “Các Anh” viết hoa, bao gồm từ người lính đến các cấp chỉ huy, ngoại trừ lãnh đạo cấp Sư Đoàn, Quân Đoàn, Quân Chủng, Bộ Tổng Tham Mưu, và Bộ Quốc Phòng. Là Người Lính trong quân đội “Nhân Dân”, Các Anh phải có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân, vì Tổ Quốc với Nhân Dân là trường tồn, trong khi đảng Cộng Sản hay bất cứ đảng nào cầm quyền cũng chỉ một giai đoạn của lịch sử. Và nội dung tôi gởi đến Các Anh được đặt trên căn bản đó.

Với loạt Thư mà tôi tổng hợp một số tội ác của các nhóm lãnh đạo Việt Cộng từ năm 1945 đến năm 2017. Vì quá dài, nên tôi chia ra làm 6 Thư. Mời Các Anh lần lượt đọc để có nét nhìn rộng hơn và sâu hơn về lãnh đạo của Các Anh đã gây tội ác đến mức nào, trong khi tuyên truyền của họ phũ lấp những hành động của họ. Đề rồi, ngày nay người dân bị chìm trong một xã hội chỉ có dối trá là sự thật, và dối trá đã đẩy mọi người gần như mất hẳn nếp sống tình cảm vốn dĩ là nền tảng trong văn hóa Việt Nam từ ngàn xưa!

Thư số 68a = 1945 – 1954.
Thư số 68b = 1954 – 1975.
Thư số 68c = 1975 – 1990.
Thư số 69a = 1990 – 2010.

Nội dung Thư số 69b này – cũng là Thư 5/6- tôi tổng hợp một số tội ác của lãnh đạo Việt Cộng từ năm 2010 đến năm 2017. Mời Các Anh …

Số 26. Tội ác cho Trung Cộng trúng thầu đến 90% dự án

Đài BBC online ngày 26/8/2010 có bản tin: “Bộ Công Thương đưa ra con số vào tháng 7/2009, theo đó đã có 30 doanh nghiệp Trung Cộng trúng thầu EPC hoặc trực tiếp đầu tư trong 41 dự án ở Việt Nam. Tất cả 41 dự án này là kinh tế trọng điểm, liên quan mật thiết tới tài nguyên quốc gia và an ninh quốc phòng”.

Trang Bauxite online ngày 26/9/2010, ông Dương Danh Hy, cựu Tổng Lãnh Sự Việt Cộng tại Trung Cộng, nhắc đến bài báo trích đăng của Giáo Sư Bùi Huy Hùng, Viện Khoa Học Năng Lượng, nhận định rằng: “Hiện nay có đến 90% dự án nhiệt điện do Trung Cộng trúng thầu, sẽ dẫn tới sự phụ thuộc có nguy cơ mất an ninh năng lượng khi có tai nạn xảy ra, vì khi đó chúng ta không có nguồn năng lượng dự bị nào khác”.

Trên Đàn Chim Việt onine ngày 12/10/2010, “Trung Cộng đang giúp các nước làm cầu, làm đường nối vào hệ thống đường bộ đường sắt của họ. Trong 6 con đường đang làm tại Việt Nam, thì 5 con đường là tại Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Vũng Tàu, Sài Gòn, toàn bộ là vị trí trọng yếu trải rộng cả Việt Nam… Ta mới có hai con đường Lạng Sơn và Móng Cái nới vào đường của Trung Cộng đã thấy điêu đứng, nay có thêm 5 đường đi khắp nơi, sức đâu để bảo vệ kinh tế quốc phòng. Thế có phải là một thể chế cho phép các hành lang này như khu nhượng địa trên khắp Việt Nam?

Số 27. Tội ác về thành lập Viện Khổng Tử.

Đến cuối năm 2011, các trường Đại Học Dân Tộc, Đại Học Sư Phạm, và Đại Học Quảng Tây của tỉnh Quảng Tây (Trung Cộng), đã thành lập 6 Học Viện Khổng Tử tại Thái Lan, Lào, và Nam Dương, trong mục tiêu của lãnh đạo Trung Cộng là từ nay đến năm 2020, phải thiết lập Viện Khổng Tử tại 500 thành phố lớn trên thế giới.

Các quốc gia hủy bỏ Viện Khổng Tử (trích trong Google.vn).

Thụy Điển. Viện Khổng Tử thành lập tại trường đại học Stockholm, Thụy Điển, hồi năm 2005. Ông Lý Trường Xuân (Li Changchun), cựu Bộ Trưởng Bộ Tuyên Truyền của Trung Cộng, ca ngợi là một phần quan trọng của hệ thống tuyên truyền ở hải ngoại của Trung Cộng, đã bị phát hiện có liên quan đến hoạt động gián điệp kinh tế tràn lan của người Trung Cộng ở hải ngoại. Có một tin tức được công khai nói rằng: “Những cơ quan chống tình báo Tây phương đã xác định, Viện Khổng Tử là những cơ quan gián điệp thuộc chánh phủ Trung Cộng điều hành. Cuối cùng, theo quyết định của trường Đại Học Stockholm ngày 20/12/2014, sẽ bỏ chương trình tiếng Trung Hoa từ tháng 6/2015”.

Hoa Kỳ. Sau khi giáo sư ngành nhân chủng học Marshall Sahlins thuộc Đại Học Chicago công bố một điều tra về tình trạng hoạt động của các Viện Khổng Tử tại giảng đường Mỹ vào tháng 10/2013, hơn 100 giảng viên của đại học này đã ký tên vào văn kiện chánh thức phản đối sự hiện diện của Viện Khổng Tử trong khuôn viên Đại Học Chicago. “Đầu tháng 11/2014, hai trường Đại Học Chicago và Đại Học Pennsylvania, tuyên bố ngưng hợp tác và đóng cửa Viện Khổng Tử, cơ quan giảng dạy ngôn ngữ và văn hóa Trung Quốc”. Trả lời phỏng vấn tờ The Wall Street Journal, ông Henry Reichman, phó chủ tịch Hiệp Hội Giáo Sư Đại Học Mỹ, cho biết: “Tôi tin rằng, Chicago và Pennsylvania không phải là hai đại học duy nhất nhận ra sự kiện hợp tác với một viện như kiểu Viện Khổng Tử là hoàn toàn không đáng”.

Ấn Độ. Chính phủ Ấn Độ đã từ chối, không cho lập những Viện Khổng Tử, cho đó là âm mưu của Trung Cộng để phát triển quyền lực mềm, dùng văn hóa để lan tràn ảnh hưởng.

Gia Nã Đại. Năm 2007, một báo cáo giải mật của cơ quan Tình Báo cảnh cáo: “Viện Khổng Tử như một nỗ lực gián điệp của Trung Cộng”. Đại Học McMaster và Đại Học Sherbrooke đã chấm dứt hợp tác với Viện Khổng Tử. Trước đó, tháng 12/2013, Hiệp Hội Giảng Viên Đại Học Gia Nã Đại, đã phổ biến bản kêu gọi các trường đại học Gia Nã Đại hủy bỏ các hợp đồng hợp tác với Viện Khổng Tử. (hết trích)

Vậy mà, lãnh đạo Việt Cộng cho phép Trung Cộng thành lập Viện Khổng Tử như một thí điểm, dù gặp phải phản ứng mạnh mẽ của giới trí thức và dư luận xã hội trước những hành động của Trung Cộng xâm lấn Biển Đông, nhưng lãnh đạo Việt Cộng cứ như không nghe không biết, và vẫn thực hiện.

Ngày 5/12/2014, qua đài BBC Luân Đôn, Giáo Sư Trần Ngọc Thêm, từ đại học quốc gia tại Sài Gòn, nhận định: “Để đạt được những mục tiêu chiến lược của mình, Trung Cộng không ngần ngại kết hợp hai loại sức mạnh -sức mạnh cứng và sức mạnh mềm – với mưu đồ cho thấy khá rõ qua mạng lưới các Viện Khổng Tử mở ra tại hàng trăm quốc gia… Kinh nghiệm Hoa Kỳ cho rằng, cái đó không bảo đảm tự do học thuật từ các Viện Khổng Tử trong các trường đại học, rõ ràng đó là một hệ thống rất thống nhất với nhau và có mục tiêu rất rõ ràng… Họ sẽ không ngần ngại mà kết hợp cả sức mạnh cứng là quân sự, và sức mạnh mềm là áp đặt kinh tế hoặc mua chuộc về kinh tế, cộng với sức mạnh mềm qua ngỏ ngoại giao là văn hóa ngang qua những Học Viện Khổng Tử”.

Ngày 27/12/2014 tại Hà Nội, ông Nguyễn Thiện Nhân, chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, cùng với ông Du Chí Thanh, chủ tịch Ủy Ban Toàn Quốc Hội Nghị Hiệp Thương Chính Trị (gọi tắt là Chính Hiệp) của Trung Cộng, dự lễ gắn bảng “Học Viện Khổng Tử” tại trường Đại Học Hà Nội (trích Google.vn).

Vì lãnh đạo Việt Cộng ôm chặt 16 chữ vàng và 4 tốt do Trung Cộng trao cho, vì vậy mà trong khi các quốc gia khác hủy bỏ các Viện Khổng Tử thì Việt Cộng lại vui vẽ tiếp nhận một thứ vũ khí chính trị của Trung Cộng.

nhiệt điện thanSố 28. Tội ác về hệ thống nhiệt điện than 2011-2030.

Năm 2011, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng chánh thức thành lập hệ thống nhiệt điện than trên toàn quốc dưới tên gọi “Quy Hoạch Điện VII”. Khi thành lập thì có 19 nhà máy hoạt động, dự trù đến năm 2020 có 48 nhà máy, và năm 2030 có 80 nhà máy.

Ngày 24/10/2016, Ông Nguyễn Anh Tuấn, phó viện trưởng Viện Năng Lượng thuộc Bộ Công Thương, trả lời báo Tiền Phong, rằng: “Hiện nay, nguồn thủy điện hầu như khai thác hết, trữ lượng khí đốt cũng cạn dần, nên cách lựa chọn phát triển nhiệt điện là đúng nhất để bảo đảm năng lượng cung ứng đủ cho nhu cầu… Trong Quy Hoạch Điện VII điều chỉnh, đến năm 2020, tổng công suất các nhà máy nhiệt điện than giảm 5,3% so với Quy Hoạch Điện VII, còn chiếm khoảng 42,7% tổng công suất tức giảm 5.3% so với trước, sau khi loại bỏ 18 dự án nhiệt điện than. Nhưng nhìn chung, nhiệt điện than trong Quy Hoạch VII Điều Chỉnh, vẫn là nguồn cung cấp chính….”. Như vậy, đến năm 2030 tổng số nhà máy nhiệt điện than sẽ là 62 (thay vì 80 như dự trù lúc đầu) tại các tỉnh: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Khánh Hòa, Bình Thuận, Long An, Trà Vinh, Hậu Giang, An Giang, Sóc Trăng, Kiên Giang, Cà Mau. Với ngần ấy nhà máy nhiệt điện than -mà là than dơ từ Trung Cộng- đã đủ ô nhiễm cả bầu không khí trên toàn cõi Việt Nam, và nạn nhân chính là dân tộc Việt Nam.

Về nguyên liệu. Hệ thống nhà máy nhiệt điện than phụ thuộc vào nguồn than nhập cảng. Theo ước tính từ năm 2020, mỗi năm Việt Nam phải nhập cảng 46 triệu 700 ngàn tấn than, và từ năm 2030 thì mỗi năm phải nhập cảng 157 triệu tấn than để sản xuất điện. Nhưng, trở ngại là khả năng tài chánh chỉ có thể nhập cảng 50 triệu tấn mỗi năm mà thôi, chưa biết sẽ phải xoay sở ra sao. Với lại quốc gia cung cấp chỉ có Trung Cộng nên giá cả khó ổn định. Bên cạnh đó có thể mua từ Nhật Bản, nhưng có thể có rắc rối từ Trung Cộng.

Về ô nhiễm. Phát triển nhiệt điện than đồng nghĩa với việc chấp nhận gia tăng ô nhiễm môi trường, và điều này gây áp lực rất lớn đối với xã hội, ít nhất là hai điểm: “Điểm 1. Giải quyết tro xỉ từ các nhà máy thải ra. Và điểm 2. Việc làm cho nông dân địa phương sau khi đất canh tác của họ bị thu hồi”. Với 19 nhà máy nhiệt điện than đang vận hành (năm 2015), mỗi năm thải ra môi trường khoảng 10 triệu tấn tro xỉ. Từ lâu nay, nguồn tro xỉ này là một vấn đề nan giải của các nhà máy và các cơ quan liên quan. Chỉ riêng nhà máy nhiệt điện Cẩm Phả, mỗi năm phải tốn khoản 70 tỉ đồng để thuê bãi chứa tro xỉ than.

Ô nhiễm bầu không khí và ô nhiễm nước, là hai nguyên nhân trong các nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng người dân bị ung thư tại Việt Nam ngày càng gia tăng mạnh. Theo Bộ Y Tế Việt Nam, tính đến cuối năm 2007 Việt Nam có 51 làng ung thư tại 22 tỉnh. Ngày 2/9/2009, Tiến sĩ Nguyễn Đại Bình cho biết: “Căn cứ theo tài liệu nghiên cứu về ung thư tại Việt Nam, thì trung bình mỗi ngày có 250 người chết vì bệnh ung thư. (trích trong Phylamin.vn).

Tóm tắt.

Hệ thống nhiệt điện than theo Quy Hoạch Điện VII năm 2011, thì năm 2010 có 19 nhà máy hoạt động, đến năm 2020 sẽ là 43 nhà máy, và đến năm 2030 tổng số sẽ là 80 nhà máy nhiệt điện than. Sau đó, Quy Hoạch Điện VII được điều chỉnh từ tháng 3/2016, thì số lượng nhà máy nhiệt điện than giảm 18 nhà máy, nhưng tổng công suất nhiệt điện than vẫn chiếm 42.7% trong tổng công suất. Nói chung, nhiệt điện than vẫn giữ vai trò chánh trong ngành điện, ít nhất là từ nay đến năm 2030. Lý do: Chi phí thấp, đầu tư không cao, thời gian xây dựng không lâu, nguồn nguyên liệu dồi dào, và giá thành sản xuất thấp, chỉ khoảng 7 xu của đồng mỹ kim cho mỗi kwh.

Nhưng về ô nhiễm môi trường, thì hiện nay các nhà máy thải ra khoảng 3.000.000 tấn tro xỉ mỗi năm, và từ năm 2030 cả hệ thống nhiệt điện than sẽ thải ra khoảng 25.000.000 tấn tro xỉ mỗi năm. Đó là nỗi ám ảnh kinh hoàng đối với người dân sống chung quanh khu vực rộng lớn có nhà máy nhiệt điện than, vì đây là một trong các nguyên nhân chánh dẫn đến tình trạng bệnh nhân ung thư ngày càng gia tăng đáng sợ tại Việt Nam!

Số 29. Tội ác để Trung Cộng quân sự hóa Biển Đông 2014-2017.

Điều 60 của Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982, không có quy chế cho các đảo nhân tạo (Artificial islands), như sau: “Các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình không được hưởng quy chế của đảo. Chúng không có lãnh hải riêng, và sự có mặt của chúng không có tác dụng gì đối với việc hoạch định ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, hoặc thềm lục địa”. Với điều Luật trên, hành động của Trung Cộng bồi đấp các đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa thành đảo nổi là không giá trị.

Ngày 8/10/2014, đài Á Châu Tự Do trích bản tin của Tân Hoa Xã, theo đó thì Trung Cộng đã hoàn thành một sân bay trên đảo Phú Lâm trong Nhóm Đảo An Vĩnh thuộc quần đảo Hoàng Sa, với đường băng dài 2.000 thước. Bài báo Tân Hoa Xã viết rằng: “Đường băng mới hoàn thành tại đảo Phú Lâm là đảo lớn nhất của Hoàng Sa, sẽ nâng cao khả năng quốc phòng của Trung Cộng ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.

Ngày 13/7/2015, hình do vệ tinh của công ty DigitalGlobe chụp và công bố: “Trung Cộng đang mở rộng hai đảo Phú Lâm và Quang Hòa thuộc quần đảo Hoàng Sa. Đường băng cũ trên đảo Phú Lâm, nay là đường băng mới dài khoảng 3.000 thước, đủ sức tiếp nhận các loại máy bay quân sự của Trung Cộng. Các bức ảnh chụp từ vệ tinh cho thấy Trung Cộng đang xây nhiều cơ sở để chứa máy bay chiến đấu tại đây…. Trong khi đó, trên đảo Quang Hòa có một doanh trại quân đội mới xây xong. Cùng lúc, đảo Duy Mộng mà Trung Quốc chiếm đóng gần đó, các tòa nhà mới cũng xây cất xong (trích trong Wikipwdia).

Ngày 16/3/2015, Đá Vành Khăn (Anh ngữ là Mischief Reef) là rạn san hô “nửa vòng cung” thuộc Cụm Bình Nguyên, sâu từ 18,3 đến 29,2 thước về phía đông của cụm Gạc Ma. Đá Vành Khăn là nơi tranh chấp giữa Việt Nam, Đài Loan, Phi Luật Tân, và Trung Cộng, nhưng Trung Cộng đã kiểm soát đảo Đá này từ tháng 2/1995. Tên Mischief là do nhà làm bản đồ Henry Spratly đặt vào năm 1791 khi ông đi qua vùng quần đảo Trường Sa (trích trong Wikipedia).

Ngày 26/5/2015, hình Đá Gạc Ma do IHS Janes chụp và Sáng Kiến Minh Bạch Hàng Hải Châu Á (AMTI) giải đoán cơ sở nơi đây như sau: “Một hải cảng nhỏ có khu vực neo đậu, 2 trạm chất hàng, 2 bãi đáp trực thăng, 3 hệ thống có thể là ăng ten liên lạc vệ tinh, 1 cơ sở đa nhiệm lớn, 2 tháp radar đang xây dựng, có thể là 6 tháp giám sát dành cho vũ khí, 4 tháp vũ khí, 1 hải đăng, 1 trạm năng lượng mặt trời với 44 tấm pin và 3 tuabin gió” (trích trong Tiềp Phong online 27/5/2015).

Ngày 28/6/2015, bản tin trên báo Washington Post, cho thấy Trung Cộng gần như hoàn tất việc xây dựng một đường băng dài khoảng 3.000 thước trên đảo Đá Chữ Thập. Hình mới nhất do Digital Globe chụp ngày 2 và 13/7/2015, cung cấp cho Sáng Kiến Minh Bạch Hàng Hải Châu Á (AMTI) tại Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Tế & Chiến Lược (CSIS) có trụ sở tại Washington DC. Theo AMTI, việc xây dựng căn cứ Không Quân vẫn còn tiếp tục với việc “lát mặt bằng, đánh dấu đường băng, xây thềm đế máy bay, hệ thống cảm biến, và bổ sung các cơ sở yểm trợ”. Hình ảnh chụp Đá Chữ Thập còn cho thấy một chiến hạm neo đậu tại đó (trích trong VNEXPRESS 28/7/2015).

Đá Subi. Hình chụp ngày 6/2/2015, và hình chụp ngày 17/4/2015. Hai hình với độ phân giải cao, cho thấy chỉ trong 10 tuần lễ mà Trung Cộng đã biến đảo nổi Subi có dạng một phi trường trên diện tích khoảng 2,65 cây số vuông. The Diplomat đưa tin: “Kích thước và hình dạng dải đất phù hợp một đường băng dài 3.300 thước, tương đương với độ dài đường băng trên đá Chữ Thập”.

Vị trí 7 bãi đá Trung Quốc đang tiến hành cải tạo đất. Đồ họa: The Diplomat.Ngày 18/7/2015, với hình Đá Subi mà Trung Cộng bồi đấp do Victor Robert Lee chụp, giúp giải đoán như sau: “Chiều rộng của Đá Subi sau khi bồi đấp, đủ để thực hiện đường băng cùng một đường song song cho máy bay ra đường băng. Tấm hình do vệ tinh chụp, cho phép giải đoán là Trung Cộng đang xây một đường băng lớn cho phi cơ sử dụng, vì tổng số xe chở bê tông là 34 chiếc, tức là thêm 14 chiếc so với ảnh vệ tinh chụp ngày 5/6/2015. Riêng tàu nạo vét bồi đấp quanh Subi chỉ còn 3 chiếc vẫn tiếp tục, tức là giảm 11 chiếc so với 6 tuần lễ trước đó. Được hiểu là công tác bồi đấp sắp hoàn tất, trong khi công tác xây cất dồn dập hơn trước” (trích trong VNEXPRESS 28/7/2015).

Năm 2015, hoàn tất 3 phi trường với phi đạo dài 3.000 thước trên Đá Chữ Thập, Đá Vành Khăn, và Đá Su Bi. Năm 2016, khi phán quyết của tòa án trọng tài quốc tế bác bỏ chủ quyền Trung Cộng trên Biển Đông, thì Trung Cộng nhanh chóng hoàn tất các cơ sở chứa hỏa tiễn, và các cơ sở phục vụ quân sự trên các Đá Ga Ven, Đá Tư Nghĩa, Đá Gạc Ma, và Đá Châu Viên.

Tóm tắt. Như vậy, các căn cứ của Trung Cộng trên các đảo thiên nhiên và đảo nhân tạo từ các Đá Ngầm thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cộng với căn cứ Hải Quân và Không Quân trên đảo Hải Nam, đã tạo nên một chuỗi căn cứ quân sự theo chiều Bắc Nam trên Biển Đông, đủ mạnh cho Trung Cộng khống chế nhóm lãnh đạo Việt Cộng dưới dạng nào đó. Cũng với sức mạnh đó, vào lúc nào mà Trung Cộng cho là thuận lợi, rất có thể họ sẽ tuyên bố “vùng nhận dạng phòng không” để kiểm soát cả không phận lẫn hải phận trên phần lớn Biển Đông, trừ khi Hoa Kỳ mạnh mẽ can dự vào để bảo vệ, ít nhất cũng là bảo vệ đường hàng hải và hàng không.

Số 30. Tội ác cấp chứng minh nhân dân theo mẫu của Trung Cộng.

Từ ngày 7/12/2015, Phòng Cảnh Sát Quản Lý Hành Chánh Về Trật Tự Xã Hội Công An thành phố HCM, và công an các quận/huyện bắt đầu cấp phát hoặc đổi mới Chứng Minh Nhân Dân 12 số. Những thẻ CMND còn trong hạn sử dụng không cần đổi, cho đến khi hết hạn.

Tại sao thẻ CMND của Việt Nam phải 12 số? Ngày 15/6/2017, dân số Việt Nam là 95.367.378 người (VietNam Population), trong khi thẻ CMND với 9 số đã sử dụng tại Việt Nam từ lâu nay rất hợp lý. Với 9 con số, vẫn sử dụng đến khi dân số lên đến 999 triệu 999 ngàn 999 người mới cần thêm 1 con số nữa, tức là đến con số tỷ. Nhưng liệu bao nhiêu thế kỷ nữa thì dân số Việt Nam mới lên đến con số tỷ mà lãnh đạo Việt Cộng lại sử dụng 12 con số ngay từ năm 2015?

Với hàng số đỏ trên thẻ chứng minh nhân dân mẫu bên cạnh, đọc là 1 tỷ 0 trăm 98 triệu lẻ 6.114 người. Vậy, bao giờ dân số Việt Nam lên đến con số ấy?

Tướng Công An Việt Cộng Trần Vệ, phó tổng cục trưởng Tổng Cục Cảnh Sát quản lý hành chánh về trật tự an toàn xã hội, giải thích: “Mục tiêu đặt ra là xây dựng được một hệ thống thu nhận và quản lý dữ liệu đăng ký CMND trên mạng máy tính được nối mạng giữa trung ương và địa phương. Sản xuất và cấp phát CMND mới trên hệ thống dây chuyền công nghệ hiện đại, đạt tiêu chuẩn thẻ quốc tế phục vụ nhu cầu giao dịch của công dân và phục vụ công tác bảo vệ an ninh, an toàn xã hội. Sử dụng công nghệ nhận dạng sinh trắc học hiện đại để quản lý và nhận dạng trong thời gian thu thập dữ liệu, cấp phát và quản lý CMND, tránh làm giả, nâng cao độ bền. Mỗi công dân Việt Nam từ 14 tuổi trở lên đều được cấp CMND, với một số CMND duy nhất cho người đó, không cho phép một người có nhiều CMND, hoặc nhiều người có số CMND giống nhau. Giai đoạn 1 trong khoảng 5 năm, sẽ cấp thẻ Chứng Minh Nhân Dân cho 24.000.000 người”.

Ông Tướng Công An này giải thích rằng: “Máy tính cùng với máy móc hiện đại, công nghệ hiện đại, đạt tiêu chuẩn quốc tế”, vậy là Công An Việt Cộng sử dụng máy computer mà trong nước gọi là “vi tính” để ghi nhận dữ kiện, và từ đó cấp phát thẻ CMND thì làm sao một người có nhiều CMND được? Làm sao nhiều thẻ CMND lại trùng những con số được? Vì khi tên người, địa chỉ, hay số CMND vào máy, mà khi trùng với họ tên, địa chỉ hoặc số CMND của người đã được cấp trước đó, thì lập tức những dữ kiện trùng hợp này sẽ hiện lên màn ảnh nhỏ, lúc ấy người sử dụng máy phải nhận biết có trùng dụng thì đâu có cấp phát. Phải chăng, lời giải thích của Tướng Trần Vệ chỉ là sự quanh co tránh né sự thật?

Vậy, với ba số 000 tận cùng bên trái trên thẻ CMND đã và đang cấp phát cho người dân Việt Nam, có phải là cách chuẩn bị để năm 2020 Việt Nam sáp nhập vào nước Tàu theo Biên Bản Hội Nghị Thành Đô ngày 4/9/1990 chăng? Vì dân số của họ lúc 2 giờ 21 phút chiều (giờ UTC) ngày 12/7/2017 là 1.379.027.710 người (trích trong US and World Population Clock), mới cần 12 số.

Số 31. Tội ác thỏa thuận tiếp tay Trung Cộng.

Thàng 12/2016, Tổng Bí Thư Việt Cộng Nguyễn Phú Trọng sang thăm Chủ Tịch Trung Cộng Tập Cận Bình, từ ngày 12 đến 15/1/2017. Ngay chiều 12/1/2017, đã ký 15 căn kiện soạn sẳn. Rất có thể khi thấy ứng viên Tổng Thống Donald Trump nhắm vào Trung Cộng nếu ông đắc cử, thì ông Tập Cận Bình gọi ông Nguyễn Phú Trọng sang ký các văn kiện này, để cán bộ Trung Cộng sang làm việc chung với cán bộ Việt Cộng, như thể cùng một quốc gia?

(a) “Thỏa thuận hợp tác đào tạo cán bộ cấp cao giữa lãnh đạo Việt Cộng với lãnh đạo Trung Cộng”. Sẽ không bao giờ có chuyện “hợp tác song phương”, mà phải hiểu là “chỉ có hợp tác một chiều”. Liệu có phải Trung Cộng chuẩn bị nhân sự cho cuộc sáp nhập êm thắm không?

(b) “Bản ghi nhớ hợp tác giữa Ban Kinh Tế trung ương Việt Cộng với TrungTâm Nghiên Cứu Phát Triển Quốc Vụ Viện Trung Cộng”. Có nghĩa là Việt Nam phải ghi nhớ mọi hoạch định kinh tế của lãnh đạo Việt Cộng, sẽ là một phần trong toàn bộ kế hoạch phát triển kinh tế của Trung Cộng. Liệu có phải những kế hoạch kinh tế của Việt Cộng từng bước đi vào kế hoạch của Trung Cộng chăng?

(c) ”Công thư trao đổi về việc hỗ trợ kỹ thuật lập quy hoạch đường sắt tiêu chuẩn Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng”. Khi một dự án nằm trong lãnh thổ Việt Nam được đưa vào “văn kiện hợp tác”, liệu có phải Trung Cộng đang biến lãnh thổ Việt Nam từng bước trở thành lãnh thổ Trung Cộng?

(d) “Tuyên bố tầm nhìn chung về hợp tác quốc phòng giữa Bộ Quốc Phòng Việt Cộng với Bộ Quốc Phòng Trung Cộng đến năm 2025”. Phải chăng, hai Bộ Quốc Phòng chỉ là một, trên một lãnh thổ mở rộng?

(e) “Hiệp định khung hợp tác cửa biên giới đất liền giữa Bộ Quốc Phòng Việt Cộng và Tổng Cục Hải Quan Trung Cộng”. Quan thuế cũng theo kế hoạch chung do Trung Cộng lãnh đạo?

(f) “Kế hoạch hợp tác du lịch Việt Nam-Trung Hoa giai đoạn 2017-2019”. Liệu đây có phải là “tập dượt” cho những bước để người Việt Nam và người Tàu quen dần với văn hóa Tàu ngang ngược, thô lổ sơ khai, dần theo thời gian sáp nhập vào nước Tàu?

(g) “Thỏa thuận hợp tác giữa nhà xuất bản Sự Thật của Việt Cộng với nhà xuất bản Nhân Dân của Trung Cộng giai đoạn 2017-2021”. Đây là bước phối hợp giữa nhà xuất bản Sự Thật tại Hà Nội với nhà xuất bản Sự Thật của Trung Cộng trở thành một hệ thống?

(h) “Bản ghi nhớ về việc hợp tác làm phim truyền hình chuyên đề “Sức lôi cuốn của Việt Nam – sức lôi cuốn của Trung Hoa” giữa đài truyền hình Việt Cộng và đài truyền hình Trung Cộng. Sự hợp tác này giống như hợp tác về xuất bản chăng?

(i) “Thỏa thuận hợp tác giữa đài phát thanh trung ương của Việt Cộng và đài phát thanh trung ương của Trung Cộng”. Sự hợp tác về phát thanh, cũng trong trường hợp hợp tác về truyền hình?

******

Các Anh và quý độc giả có nghĩ rằng: “Liệu chuỗi tội ác mà tôi tổng hợp từ 1945 đến 1990 là lãnh đạo Việt Cộng thi hành lệnh của Quốc Tế Cộng Sản, và từ 1990 đến 2017 này có phải là trong kế hoạch từng bước đưa Việt Nam sáp nhập vào nước Tàu không? Chữ “từng bước” không phải do tôi nghĩ ra, mà là tôi trích nguyên văn đoạn cuối trong Biên Bản Thành Đô ngày 4/9/1990, là: “… Phía Trung Quốc đã đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, cho Việt Nam trong thời hạn 30 năm (1990-2020) để đảng Cộng Sản Việt Nam giải quyết từng bước êm thắm cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Hoa”.

Cho dù có phải hay không phải, rõ ràng là từ khi Cộng Sản Việt Nam có mặt trên quê hương Việt Nam năm 1945 đến nay đã hơn 70 năm, ông Hồ Chí Minh và tiếp nối bởi các nhóm lãnh đạo Việt Cộng, đã tìm mọi cách để xóa bỏ dòng lịch sử dân tộc và thay vào đó là lịch sử do họ dựng lên, song song với sự đẩy lùi nền văn hóa nhân bản dân tộc và thay vào đó là “con người mới văn hóa mới xã hội chủ nghĩa do họ xây dựng”. Và kết quả mà họ đạt được, là một xã hội vô cảm, một xã hội mà mọi người sống với nhau bằng dối trá, đến mức ngày nay chỉ có dối trá là sự thật trong xã hội!

******

Ngày 4/3/2017, bài viết “Trên Đường Hán Hóa” của Ký Thiệt, như sau:

“Theo tài liệu tối mật về Hội Nghị Thành Đô năm 1990, chỉ còn 3 năm nữa thì Việt Nam trở thành 1 tỉnh nhỏ của Trung Cộng. Từ khi những bí mật của Thành Đô bị phơi bày ra ánh sáng, thì mọi người Việt Nam đều kinh hãi và bàn tán rất nhiều trong dân gian, về việc lãnh đạo Việt Cộng lén lút ký tên giao nước Việt Nam cho Trung Cộng, mà miệng của họ vẫn chối lia lịa. Nhiều sử gia trong nước cũng như tại hải ngoại nhận định rằng: “Tội bán nước của Việt Cộng là sự thật ít nhất cũng đến 90%”. Quí vị hãy kiểm lại những sự kiện trong thực tế 30 năm qua, sẽ nhận ra điều này. Nếu 94 triệu dân trong nước không đứng lên giành lại quyền làm chủ đất nước, thì năm 2020, người dân sẽ ra sao?

Và ngày 6/3/2017 với bài viết “Khi Trở Thành Khu Tự Trị Của Trung Cộng” của Giáo Sư Trần Đình Sử, và là nhà giáo nhân dân, thì: “Trước hết, tên nước Việt Nam bị xóa mất. Tiếp theo là dân Tàu tràn sang nước ta. Chữ Hán sẽ là ngôn ngữ chánh, văn hóa Việt, tiếng Việt, sẽ biến mất theo thời gian. Người Việt sẽ bị di dời tản mác trên lãnh thổ mênh mông của Tàu, và dân số sẽ giảm dần, dù dãi đất hình cong chữ S vẫn còn đó!”.

*****

Với tôi, bản chất gian trá của lãnh đạo Việt Cộng giữa lời nói với hành động trong giai đoạn lịch sử từ năm 1954 đến nay là năm 2017, như sau:

Nói giải phóng, nhưng thật sự họ là xâm lăng, vì nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa xua quân tràn sang đánh chiếm nước Việt Nam Cộng Hòa, phải nói là xâm lăng chớ sao gọi là nội chiến?

Nói thống nhất, nhưng họ đã nhuộm đỏ toàn cõi Việt Nam theo lệnh của cộng sản quốc tế.

Nói nhân dân là chủ, cán bộ là đầy tớ”, nhưng thật ra nhân dân chỉ là một phương tiện lót đường cho họ nắm quyền lực mà thâu tóm tài sản.

Nói độc lập, nhưng họ quy lụy Trung Cộng.

Nói tự do, nhưng họ là độc tài chuyên chính.

Nói hạnh phúc, nhưng toàn dân như bị họ nhốt trong cái lồng.

Nói tự do ngôn luận, nhưng mọi người bị họ bịt mắt bịt tai bịt miệng.

Nói giáo dục khoa học, nhưng chỉ đào tạo những thế hệ thần dân để tuân lệnh đảng, và chết cho đảng. Mở miệng ra là khoa học kỹ thuật, nhưng sử dụng côn đồ và luật pháp rừng rú đàn áp người dân yêu nước chống Tàu lấn chiếm biển đảo Việt Nam.

Nói từ khi có đảng đến nay, không có người bóc lột người, câu này thì đúng. Rất đúng, vì không có người bóc lột người, mà hơn 40 năm qua chỉ có đảng bóc lột người dân một cách tàn tệ và toàn diện thôi. Không phải chỉ dân bị bóc lột, mà tổ quốc Việt Nam cũng bị họ bóc lột, đến nỗi da đầu của tổ quốc lỡ loét nhăn nhúm vì Việt Cộng tặng 789 cây số vuông dọc biên giới cho Tàu, bên trái mãng da đầu cũng bị Việt Cộng cắt đi 11.362 cây số vuông trên Vịnh Bắc Việt cho Tàu, và toàn thân Mẹ Việt Nam thì loang lỗ như tấm da beo, bởi lãnh đạo Việt Cộng cho dân Trung Cộng lập những làng mạc riêng biệt trên khắp lãnh thổ Việt Nam.”

Và khi lãnh đạo Việt Cộng nói đến quê hương dân tộc, thì họ nhân danh lãnh đạo để đứng trên đầu Tổ Quốc với Nhân Dân.

*****

Với hai chữ độc tài trong xã hội xã hội chủ nghĩa:

Độc tài chính trị, duy nhất chỉ có đảng Cộng Sản lãnh đạo, để chỉ phục vụ quyền lợi của cộng sản quốc tế, và quyền lợi của riêng họ, mà không hề phục vụ người dân.

Độc tài trong cầm quyền, sử dụng giáo dục và công an, tạo nên một xã hội theo mục tiêu của đảng, rồi đảng với nhà nước cùng nhau thao túng xã hội.

Độc tài trong Quốc Hội, vì gần 90% là những cấp lãnh đạo từ Bộ Chính Trị xuống đến tận cùng hệ thống tổ chức đảng và tổ chức nhà nước đều là đại biểu, nên những luật ban hành hoàn toàn theo lệnh đảng để phục vụ đảng với nhà nước.

Độc tài trong truyền thông, nên không có tiếng nói của sự thật từ người dân. Hơn thế nữa, bất cứ ai suy nghĩ khác hay hành động khác với đảng và nhà nước, sẽ bị ghép tội và bị bắt, vì vậy mà mọi người trên toàn cõi Việt Nam không hề biết sự thật nằm ở đâu, vì hệ thống truyền thông của đảng suốt ngày đêm phun ra toàn dối trá, sai lạc sự thật.

Độc tài trong luật pháp, vì tất cả viên chức từ cơ quan điều tra đến viên chức trong phiên tòa đều là đảng viên cộng sản, nên bản án được đảng quyết định trước đối với những “bị can” mà đảng thấy là bất lợi cho họ. Dù vậy, năm 2014 Bộ Chính Trị ban hành Chỉ Thị 25 loại tối mật. Theo đó thì Bộ Công An muốn điều tra bất cứ cán bộ cấp lãnh đạo nào, phải trình Bộ Chính Trị quyết định.

Độc tài sở hữu đất đai, vì chỉ có đảng cộng sản là chủ nhân toàn bộ đất đai, vì vậy mà lãnh đạo các cấp toàn quyền cướp đoạt tài sản của dân liên quan đến đất đai vườn ruộng.

Và độc tài kinh tế tài chánh, vì nền tảng trong lãnh vực này toàn là quốc doanh dưới tên gọi “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Do không có cạnh tranh nên không thể phát triển thích ứng với nền kinh tế thị trường thế giới tự do.

*****

Nhớ lại dòng lịch sử suốt chiều dài gần 5.000 năm, dân tộc ta trải qua những biến đổi đau thương do các triều đại phong kiến Trung Hoa cai trị tàn bạo nghiệt ngã!:

(1) Lần thứ nhất, từ năm 111 trước tây lịch đến năm 39 sau tây lịch = 150 năm.
(2) Lần thứ hai, từ năm 43 đến năm 544 = 501 năm.
(3) Lần thứ ba, từ năm 603 đến năm 939 = 336 năm.
(4) Lần thứ tư vào thế kỷ 15, từ năm 1.414 đến năm 1.427 = 13 năm.

Cộng chung cả 4 thời kỳ bị trị đến 1.000 năm, hay là 40 thế hệ Việt Nam bị dìm sâu dưới chính sách cai trị nghiệt ngã tàn bạo của vua quan phong kiến Trung Hoa! Nhưng từ trong nghiệt ngã đó, chúng ta phải cúi đầu khâm phục tổ tiên và dân tộc ta trong lịch sử, chẳng những đã không bị Trung Hoa đồng hóa, mà lại xây dựng và bảo vệ tròn vẹn một nền văn hoá trong sáng để lại cho chúng ta.

Từ đó tôi nghĩ, chúng ta là người Việt Nam, không bao giờ quên quê hương cội nguồn của mình, và cũng không bao giờ quên lời dạy của Vua Trần Nhân Tông từ cuối thế kỷ 13, rằng:

“Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo làm người. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo, vô luân. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải, các việc trên khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn là họa ngoại xâm. Họ không tôn trọng biên giới theo qui ước, cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai và hải đảo của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy, các ngươi phải nhớ lời ta dặn: “Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác”. Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu.”

Kẻ khác, mà vua Trần Nhân Tông nói đến, thuở ấy là Trung Hoa phong kiến, và bây giờ là Trung Hoa Cộng Sản. Ngắn gọn là Trung Cộng.

*****

Và đây là vài nhân vật trong nước nhận định về Cộng Sản:

Giáo Sư Trần Phương, đương nhiệm chủ tịch Hội Khoa Học & Kinh Tế Việt Nam, chủ tọa hội thảo góp ý dự thảo các văn kiện Đại Hội XI của đảng Cộng Sản Việt Nam. Sau khi diễn giải từng đoạn, ông nhấn mạnh: (1) Chúng ta tự lừa dối chúng ta, và chúng ta lừa dối người khác. (2) Chủ nghĩa Cộng Sản đã thất bại, vì nó chỉ là ảo tưởng.

Nhà văn Nguyên Ngọc nhận xét “căn bệnh giả dối là nặng nhất, chí tử nhất, toàn diện nhất”, đang hoành hành xã hội Việt Nam, khiến “người ta thật sự không còn tin vào bất cứ điều gì nữa. Thậm chí, lãnh đạo đảng với nhà nước toàn là người vô cảm”.

Bài viết “Hoang Tưởng” của tác giả Metamorph từ trong nước: “…. Mỗi khi gặp khó khăn, chúng ta thường mang cái quá khứ ra để tự ru ngủ, mong cái men chiến thắng của cha ông để trấn áp những cái nan giải trong hiện tại. Chúng ta cứ nhắc đến cái chiến thắng giặc Hán, giặc Pháp, giặc Mỹ mỗi ngày, nhưng tuyệt nhiên không hề nhắc đến cái nạn đói 1975-1990 do sai lầm của chúng ta, một nạn đói có thể tránh được nếu chúng ta đừng quá say men chiến thắng đến mức không quan tâm đến đời sống người dân ngày càng tụt hậu, đói khổ. Chúng ta cũng không hề lo nghĩ gì về nền giáo dục suy đồi, không lời than nào về một xã hội băng hoại gần như phá sản về đạo nghĩa! … Từ đó,chúng ta bị sa lầy ở Cam Bốt suốt 10 năm, và đói nghèo suốt 15 năm. Tệ hại hơn là xã hội Việt Nam lùi lại, trong khi các quốc gia láng giềng vượt lên với mức phát triển nhanh chóng về khoa học kỹ thuật, văn hoá giáo dục, kinh tế xã hội… Trong khi đó, chúng ta quay lui lại thời xe hơi chạy than, xe bò, xe ngựa, còn lương thực thì bo-bo thay gạo, quần áo thì vá víu lem nhem, dùng phân xanh như thời trung cổ…. Tại vì lãnh đạo chúng ta vẫn cứ hoang tưởng là cả thế giới đều ngưỡng mộ, và thế giới cần chúng ta hơn là chúng ta cần họ……”

Nhật Ký Rồng Rắn của Tướng Trần Độ viết từ năm 2000 mà đến nay là 2017 vẫn nguyên giá trị, rằng: …. “Cho đến nay đã gần 30 năm (năm 2000) rồi mà ngày đêm vẫn phất cờ đánh trống, ngày đêm hò hét biểu dương, và cũng ngày đêm võ vẽ các thành tựu nhân dân ta làm ra, rồi dồn vào cái túi sáng suốt, cái túi tài tình của đảng Cộng Sản. Lúc nào cũng bắt dân tung hô, chào mừng, ca ngợi. Chào đón mùa Xuân cũng phải chào mừng đảng. Kỷ niệm nông dân phụ nữ thanh niên, cũng biểu dương đảng, và tung hô đảng là nguyên nhân của thắng lợi. Ngày hội tưởng nhớ tổ tiên cũng phải biểu dương đảng, chào mừng đảng. Đám cưới đám ma cũng phải tưởng nhớ và chào mừng đảng. Có câu ca dao tuyệt vời đủ nói lên chân lý của thời đại: “Mất mùa thì tại thiên tai, được mùa là bởi thiên tài đảng ta!”. Thật ra, mỗi người Cộng Sản có lương tâm phải biết xấu hổ về cái chân lý đó”…

Với nhà văn nữ Dương Thu Hương: “….. Lần thứ nhất khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn năm 1975, trong khi tất cả mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười, thì tôi lại khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp lắm vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do. Tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè. Và đầy dẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giấc mơ.

Ở miền Bắc, tất cả mọi báo chí, đài phát thanh, sách vở đều do nhà nước quản lý. Dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi, và chỉ có những cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe đài Sơn Mao, tức là đài phát thanh Trung Quốc. Còn toàn bộ dân chúng chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể, có nghĩa là chỉ được nghe một tiếng nói. Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam, người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào, đài Pháp, đài Anh, đài Mỹ, nếu người ta muốn. Đó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua một chế độ man rợ (Cộng Sản). Đó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử. Đó là bài học đắt giá và nhầm lẫn lớn nhất mà dân tộc Việt Nam phạm phải”. (trích trong Dân Luận online 21/4/2012)

Tiến Sĩ Hà Sĩ Phu gọi văn hóa xã hội chủ nghĩa là thứ văn hóa lộn ngược. Ông giải thích: “Nghe nó “ngược” nhưng chắc gì đã “ngược”. Chẳng hạn như cả một bộ máy đảng bộ máy nhà nước “bị” làm đầy tớ của nhân dân thì sướng đến tột đỉnh, trong khi nhân dân “được” làm chủ trong các ngành sinh hoạt xã hội chủ nghĩa thì thất điên bát đảo, chạy gạo chạy cơm chạy tiền học cho con cho cháu đủ điên đầu. Khi người “được” làm chủ mà có việc phải đến với những người “bị” làm đầy tớ, thì từ đầu chí đuôi luôn bị hạch sách hoạnh hẹ đến mức phải vét tiền và kính cẩn “tự nguyện” đưa cho đầy tớ mới xong việc. Điều này rất thực, không ai phủ nhận được cả. Thế mới biết, trong một không gian đảo lộn thật giả giả thật, thì nói ngược chính là nói xuôi đó! Vậy, chính xã hội chủ nghĩa đã tạo nên nhu cầu nói ngược, rồi theo thời gian nhu cầu nói ngược đó trở thành một nếp khác trong đời sống văn hoá: “nếp sống nói ngược nhưng là xuôi”.

Kết luận.

Các Anh đừng quên rằng, Ông George W. Bush, tổng thống Hoa Kỳ. Ngày 12/6/2007, chủ tọa lễ khánh thành Đài Tưởng Niệm Nạn Nhân Cộng Sản (Victims of Communism Memorial) tại Washington DC, trong diễn văn có đoạn: “… Từ nay, oan hồn của khoảng 100 triệu nạn nhân Cộng Sản, được những thế hệ hôm qua, hôm nay, và những thế hệ mai sau tưởng nhớ, vì chế độ Cộng Sản đã lấy đi mạng sống của khoảng 100 triệu đàn ông đàn bà và trẻ con vô tội”.

Cũng đừng quên lời viết của tác giả Stéphane Courtois, trong quyển “Livre Noir du Communisme” (Sách Đen Về Chủ Nghĩa Cộng Sản), có đoạn: “… Vượt trên mức độ tội ác cá nhân, các chế độ Cộng Sản củng cố quyền hành bằng cách nâng việc tàn sát quần chúng lên hàng chính sách cai trị…. Sau đó, sự đàn áp thường ngày, sự kiểm duyệt mọi trao đổi tin tức, kiểm soát xuất nhập biên giới, trục xuất người ly khai… những ký ức về khủng bố tiếp tục đặt người dân trong tình trạng sợ hãi. Các quốc gia Cộng Sản đều trong quy luật này”.

Các Anh nên nhớ lời của Đức Đạt Lại Lạt Ma Tây Tạng, rằng: “Người Cộng Sản làm cách mạng không phải đem lại hạnh phúc cho người dân, mà người cộng sàn làm cách mạng để buộc người dân đem hạnh phúc đến cho họ”.

Và hãy nhớ, “Tự do không phải là điều đáng sợ, mà là nền tảng cho sự thịnh vượng của đất nước. Không có dân chủ, không thể có sự trỗi dậy và phát triển bền vững. Và chính chúng ta phải tranh đấu, vì Dân Chủ Tự Do không phải là quà tặng.

Houston, tháng 7 năm 2017

Share this post