Thúy Kiều Thi Tập – Sưu Tầm

Thúy Kiều Thi Tập – Sưu Tầm

Tổng kết thân thế Thúy Kiều

Giọt nước Tiền-đường chẳng rửa oan,

Phong hoa chưa trắng nợ hồng nhan!

Lòng tơ còn vướng chàng Kim Trọng,

Gót ngọc không thành chốn thủy-quan;

Nửa giấc đoạn-trường tan gối-điệp,

Một dây bạc-mịnh dứt cầm loan.

Cho hay những kẻ tài tinh lắm,

Giời bắt làm gương để thế gian!

  1. – Thanh-minh

Vừa tiết xuân sang liễu dủ mành,

Rập rìu ai cũng hội thanh-minh;

Gio tiền lẫn cẫn đường xe ngựa,

Gò đống xa gần nức yến anh.

Nấm đất thương đau người chín suối!

Trên cầu gặp gỡ khách ba-sinh.

Tình kia cảnh nọ càng lai láng,

Khi giở gót hài bóng đã chênh.

  1. – gặp Kim Trọng

Trong tiết thanh-minh hội rập rìu,

Tình riêng ai tỏ Trọng cùng Kiều.

Vó câu lối cũ cương dừng lại,

Mắt phượng đưa nhìn tưởng muốn theo.

Không bút mượn đưa nhời tâm sự,

Sẵn trâm mướn vẽ chữ đồng treo.

Mảnh tơ ắt hẳn xe từ đấy,

Gặp gỡ mà nên lọ thước-kiều.

  1. – Tương tư

Bóng giăng xế xế giãi bên lầu,

Ngồi mấy giăng mà nghĩ những đâu.

Trăm mối vò tơ lần gỡ khắc,

Một mình nương gối suốt canh thâu.

Ba sinh âu hẵn còn vương nợ,

Tấc dạ nay khôn rập mối sầu!

Mới biết tương-tư là thế ấy.

Cho hay chớ trách kẻ ôm cầu.

4. – Mộng thấy Đạm-Tiên

Trướng loan nương gối giấc vừa êm,

Chợt thấy người đâu độ thiếu-niên;

Tha thướt phô mầu in vóc-tố,

Thanh tân dạng dấu chốn Đào-nguyên.

Giấc tan gối điệp bâng khuâng những….!

Sầu vẫn canh gà chất chứa nên…!

Còn nghĩ chưa xong duyên phận ấy,

Bóng giăng đâu đã xế ngoài hiên.

5. – Kiều gặp Kim-Trọng ở vườn hoa

Thơ thẩn vườn xuân dạo gót chơi,

Thước tha bóng liễu buổi êm giời.

Trên đào đương múa hoa cười gió,

Góc núi xa nghe khách ướm nhời;

Ngơ ngẩn hương e cùng phấn lệ,

Mơ màng lá rụng mấy hoa rơi!

Một rằng là duyên hai rằng nợ!

Mây nước lòng người dễ chắc thôi.

6. – Kim-Trọng và Thúy-Kiều tự-tình

Những là rày gió mấy mai mưa,

Lần lữa nên mang tiếng hững hờ.

Cam tệ bấy lâu tin nhạn vắng,

Nên giờ gọi chút tạ tình xưa.

Nhời thề vững một niềm son sắt!

Vừng nguyệt soi chung dạ tóc tơ.

Sông cạn non mòn duyên vẫn thắm,

Tuyết sương kẻo chẳng vẹn công chờ.

7. – Kim-Trọng về chịu tang

Đau lòng ai lắm hỡi ai ơi!

Thệ hải minh sơn đã có rồi.

Mối thảm ngậm ngùi khi sẻ nửa,

Bước đương ngần ngại lúc chia đôi.

Tháng ngày đành phận ba thu diễn,

Mưa gió thương người mấy dặm khơi.

Hai chữ đồng-tâm cùng tạc để…

Mặc ai giăng gió dám sai nhời.

8. – Thúy-Kiều gia biến

Thương ôi cá thớt biết sao đây,

Bay buộc ai làm đến nỗi này?

Cơ biến khó đem tình hậu bạc,

U minh khôn bạch nỗi gian ngay.

Vẩn vơ chín khúc tơ tầm rối,

Lã chã năm canh nước mắt đầy!

Bát ngát đêm thu chung bóng thỏ,

Nỡi niềm tâm sự có ai hay!

9. – Thúy-Kiều bán mình

Thương hại cùng nhau chốc bấy lâu,

Xa xôi biết có thấu cho nhau.

Phải đem vàng đá ghi nhời trước

Gửi mấy non sông giả nghĩa sau.

Đành phận lưu li chi sá quản,

Nhưng người xa cách nghĩ mà đau!

Cũng liều nhắm mắt đưa chân vậy,

Xem thử xoay vần mãi đến đâu.

10. – Kiều dặn Vân lấy Kim-Trọng

Miệng ngập ngừng thay dạ xót xa!

Ai ngờ bình địa nổi phong ba.

Sớm nương gối phượng liền dây sắt,

Hôm để hương loan thẹn bóng nga.

Thương kẻ quan sơn khơi diễn bước,

Xót thân bèo bọt dãi dầu hoa.

Dấu xưa còn đoái tờ mây đó,

Như có cho đành kẻ bước ra.

11. – Thúy-Kiều theo Mã-Giám Sinh

Giấc mộng còn mơ nghĩa cố tri,

Tiếng gà đâu đã giục ra đi.

Trông mây như vẽ tình lưu lạc,

Nghe nói như đàn khúc biệt li!

Ví biết thân này ra phận thế,

Thời đừng ngày trước nặng nguyền chi.

Còn non còn nước còn giăng gió,

Thời nợ Châu-Trần cũng có khi.

12. – Bán mình cho Tú Bà

Từ ngày xa cách chốn tha hương,

Xót phận lưu li dãi tuyết sương.

Vẽ mặt những là giơ giạng phấn,

Trau mày thêm luống thẹn thùng hương.

Giời ghen chi mấy người tư-sắc

Tên bắt đem vào số đoạn-trường.

Nông nỗi nhường này ai kẻ biết,

Một mình mình nghĩ lại mình thương!

13. – Thơ than khi ở Thanh-Lâu

Quê người vò võ biết bao lâu,

Buồn tựa song đào đoái trước sau.

Ngọn nước lênh đênh quanh trước án.

Đóa hoa xiêu dạt biết về đâu.

Ngõ tử làng phần ngoài muôn dặm,

Mặt nước chân mây lẫn một mầu.

Phong cảnh kìa ai phong cảnh ấy.

Cảm tình lưu lạc một đôi câu.

14. – Thúy-Kiều gặp Sở-Khanh

Nghĩ người tế độ kẻ trầm-luân,

Nên chắc đinh ninh hết nợ trần.

Nương gió không ngờ bay mắc lưới,

Xe dây đâu lại buộc vào chân.

Hồng liền phải nép cung tần-tử,

Hoa mấy lần kinh trống chúa-xuân.

Trong cuộc đoạn-trường chưa bước khỏi,

Giời làm nào có trách chi thân.

15. – Thúy-Kiều lấy Thúc Sinh

Giăng gió mà nên cuộc đá vàng,

Lâng lâng giũ sạch nợ hồng-nhan.

Hạ qua nắng dãi sen màu nhị,

Xuân đến mưa dày liễu vẻ vang.

Ngày vắng êm đềm chăn thúy-vũ,

Đêm khuya khoan nhặt khúc cầm loan.

Tuy trong chưa biết duyên hay nợ,

Mừng trộm cho thân thoát đoạn-trường.

16. – Thơ tiễn Thúc-Sinh về nhà

Đã nặng nguyền xưa mấy nước non,

Nhưng cơ Tạo-hóa chửa vuông tròn.

Quản bao lừng lẫy hơi sương tuyết,

Chớ để nàng dương tủi phấn son.

Một chén riêng đưa muôn dặm thẳng.

Đôi tình như gửi mối sầu tuôn.

Bao giờ người ngược tờ xin nhủ,

Giận nỗi đông phong chớ phũ phàng.

17. – Thơ về Vô-Tích làm Hoa-nô

Gớm mặt hoa xanh những khéo là,

Ghen tuông chi mãi chẳng tha ra.

Má hồng phải lấp mầu son-phấn,

Vóc liễu đem vùi chốn uyển-hoa.

Bóng xế tây hiên quỳnh chén cúc,

Xuân tàn đông các điểm hương trà.

Đào đà sa vướng trong lòng ấy,

Gỡ được thời xuân cũng phải già.

18. – Kiều hầu tiệc Thúc-Sinh và Hoạn-Thư

Trần ai kia biết bởi vì đâu,

Dẫu tuổi xuân xanh củng bạc đầu.

Dong dọt hoàng hoa tan giọt lệ,

Lấp cung bạc mịnh nổi cung sầu.

Khôn thay lặn mọc đo hàm cá,

Mà biết vuông tròn uốn lưỡi câu.

Ai dẫu có thương rằng phận bạc,

Liệu mà xin mở cửa cho nhau.

19. Thúy-Kiều ra ở Quan-Âm các

Trải mấy thu chầy chốn lửa than,

Nâu sồng nay đổi dạng hồng nhan.

Viết kinh kệ để khuây trần niệm,

Chịu muối dưa qua mấy thế gian.

Trải tháng ngày vui miền phật-lão,

Tình gang tấc mấy độ quan san.

Thôi thôi nương cõi Quan-âm vậy,

Thời nợ phong trần họa có tan.

20. – Trú ngụ nhà Giác-Duyên

Mộ phật tình không phụ cố-tri,

Cũng vì cay đắng phải sinh li.

Câu thơ cù-mộc chưa ngâm hết,

Mà giải đồng-tâm đã xé đi.

Cảnh quạnh đưa chân dù có nhớ,

Am thanh nương bóng họa là khi.

Sa cơ nghĩ bước phong trần trước,

Lại giật mình thay nỗi bất kỳ.

21. – Gặp Bạc-Hạnh

Nghĩ kiếp phù hoa cũng lạ nhường,

Lánh ma lại phải quỉ đem đường.

Dò Giời thoát khỏi, vương tơ Nguyệt,

Câu Lã qua rồi, mắc lưới Thang.

Như giống gà lồng trong sẵn gạo,

Để con hạc nội chịu không lương.

Cùng nhau mặt phấn môi son vậy,

Riêng một thân ai sự xiết thương.

22. – Bạc-Hạnh bán Kiều cho Lầu-Xanh

Hoa có ghen chi mấy chủ-trương,

Ràng buộc ra nhường dãi tuyết sương.

Má hồng lắm lúc trơ mầu phấn,

Mặt ngọc nhiều phen thẹn bóng hương.

Mỏi mắt trông mong miền cố-quốc,

Êm chân lưu lạc chốn tha-hương.

Ê chề trong bấy nhiêu năm ấy,

Trường-đoạn chưa thôi lại đoạn-trường.

23. – Lấy Từ Hải

Nợ nần còn vướng xót xa thay,

Mưa gió đâu mà kéo đến ngay.

Cá chậu đem buông dòng nước chảy,

Chim lồng ra khỏi cửa liền bay.

Vẫy vùng bốn bể bù khi trước,

Ngang dọc trăm chiều bõ bấy nay.

Hoa dãi xuân về chưa gió lạnh,

Lại tan đầu tuyết cõi chân mây.

24. – Ở Châu Thai đợi Từ-Công

Vò võ quê người chốc bấy nay,

Niềm riêng riêng nặng có ai hay.

Năm canh luống những chiêm bao vẫn,

Nghìn dặm khôn ngăn cất cánh bay.

Mấy độ sen tàn màu nắng nhạt

Đòi phen cúc nhuộm vẻ sương say.

Ba sinh đã biết duyên hay nợ,

Một gánh tương tư nặng một ngày.

25. – Thúy-Kiều báo ân báo oán

Nghĩ cơ tạo-hóa lạ lùng thay,

Vô-tích sao mà lại có nay.

Dưới trướng phân minh người hậu bạc,

Trên giường biện bạch kẻ gian ngay,

Nợ tuy giả được lòng còn tức,

Ân dẫu đền xong dạ chẳng khuây.

Nặng nhọc chẳng hiềm trong một phút,

Bận lòng nay hết hẳn từ đây.

26. – Từ- Hải ra hàng

Hướng dương khi quản phận hoa-quỳ,

Thời lại riêng đau nỗi biệt-li.

Kể có thần tri trong sớm liệu,

Châu về hợp-phố họa là khi.

Uốn ba tấc lưỡi Bày hơn thiệt.

Chống một thanh gươm sạch thị-phi.

Dẫu có uy linh lừng góc bể,

Bên giời chiếc nhạn có ra gì.

27. – Thúy-Kiều khóc Từ-Hải

Giời cao chăng nhẽ thấu hay không?

Bỗng chốc xui nên phụ tấm lòng.

Trăm trận công danh đèn dưới gió,

Năm năm tông tích bọt ngoài sông.

Trần ai thương hại người xương trắng.

Non nước bơ vơ phận má hồng.

Sự thể ai ngờ dâu hóa bể,

Thôi thì quyết một thác cho xong.

28. – Lấy Thổ-Quan

Đã ra nương tựa mấy cây cao,

Có nhẽ đưa chân lại bước vào.

Mặt ấy hẳn không tơ ấy vướng,

Thân này đâu có nợ này trao.

Đã thừa nếm trải mùi cay đắng,

Còn thiếu chi mà phải ước ao.

Ân ấy âu đành theo hải-thượng,

Sống thừa chi để tiếng đời phao.

29. – Trẫm mình sông Tiền-Đường

Thần mộng từ xưa kể xiết bao,

Sông Tiền-đường đó há đâu nào.

Nói thôi thoắt đã lòa hương ngọc,

Thơ chép vừa xong bạc má đào.

Tài sắc uổng mang hình tạo-hóa,

Tình tơ khó vẽ trạng thanh tao.

Giời xanh nỡ phụ xuân xanh ấy,

Có lẽ không đền nghĩa tất giao.

30. – Thuyền chài vớt Kiều

Mười lăm năm những bước long đong,

Muốn phụ tình chung phụ há xong.

Còn vướng tình trong vòng tạo-hóa,

Khó đem thân giả nợ non sông.

Bởi đưa chân lánh miền phi-thị,

Lại gửi duyên vào cửa sắc không.

Nên bỏ tấm thân dòng nước chảy,

Khôn thay thoát khỏi lưới ngư-ông.

31. – Theo Giác Duyên về nhà

Thân quan đôi lứa mấy gia thân,

Chìm nổi duyên nên nghĩa Tấn Tần.

Tuy có y như nhời cựu ước,

Bao giờ giả được nghĩa giai nhân.

Bể kia phỏng độ sâu bao nả,

Giời nọ dường như ngất mấy lần.

Ví bẵng thân này như yến-tử,

Quyết bay cho đến tận sông-ngân.

32. – Kim-Trọng lập đàn

Nhờ nước từ-bi để rửa oan,

Goị là cho thấu nghĩa minh-san.

Giọt tuôn hòa lẫn mưa ngâu chảy,

Tình gửi đưa theo khói lửa tan.

Tri quỷ ra chiêu miền thủy-quốc,

Vọng thân nào thấy cõi nhân-gian.

Gọi là một chút bên sông vậy,

Cho kẻ oan hồn họa khỏi oan.

33. – Thúy Kiều gặp cha mẹ anh em

May sao may khéo thực là may,

Mười mấy năm giời lại có nay.

Mừng tủi biết bao ân ái cũ,

Công phu kia bõ nước non này.

Nghĩ rằng bạc phận thôi thì hẳn,

Ai biết duyên còn vướng lại đây.

Bởi bấy lâu nay nương cảnh tĩnh.

Nên nhờ tế độ lại ra tay.

34. -Tái hợp mấy Kim-Trọng

Luống những đào-đông mấy liễu-tây,

Mênh mông giời bể bấy lâu nay.

Nghĩ đâu cơ-hội đền bồi đó,

Lại có nhân-duyên gặp gỡ đây.

Ước cũ vẫn chờ giăng gió ấy,

Thề xưa chẳng thẹn nước non này.

Tỉnh dần giấc mộng hoàn lương dậy,

Cái nợ phong-trần vỗ trắng tay.

35. – Giác Duyên dẫn Kim-Trọng đến mấy nàng Kiều

Sớm buông rèm-gió tối giăng-then,

Nương cõi từ-bi trải mấy phen.

Giồi vẽ nâu-sồng pha má-đỏ,

Đem mầu son phấn giả con đen.

Suối rung phách lạc tan niềm tục,

Vàng đóng hồn quê tỉnh giấc tiên.

Lánh gót bụi-hồng nương cõi-phật,

Họa là giũ sạch nợ trần-duyên.

KIM -VÂN – KIỀU ÁN

Nhẽ gió bụi thường khi  giời đất,

Vẻ phong trần vốn chất hồng nhan.

Thương thay lương nguyệt xuân hàn,

Nghìn thu bạc mệnh hồng nhan mấy người.

Nhớ thủa trước là đời Gia-tĩnh,

Có họ Vương phú thịnh khoan nhân;

Phước nhà gió thụy mưa xuân,

Ngọc-liên một đóa, mẫu-đơn hai cành.

Giai Vương-Quan tài lành lương-đống,

Gái Kiều-nhi sắc động nghê-thường.

Thơ hay cú đoản thiên trường,

Ban-Cơ, Tạ-Uẩn có đường kém xa.

Nhưng Thúy-Kiều yên-hoa số dự,

Khúc cầm-loan sớm lựa cùng ai.

Lại thêm tướng-sỹ đoán ngoài,

Anh hoa phát tiết nghìn đời vô duyên.

Thân kim-ốc càng nhìn càng tủi,

Tưởng nhân duyên như mối tơ vương.

Lại thêm viếng mả Đạm-nương,

Đêm về phút bỗng bất tường chiêm bao;

Suy mộng triệu thấp cao đã rõ,

Than thân rằng biết có nên chăng.

Duyên kỳ ngộ gặp Kim-lang.

Minh-sơn thệ-hải cùng chàng một hai.

Hay đau bỗng lòng giời gây dủi,

Dây tơ hồng lấp lối từ đây.

Đàn cầm nghĩ đã bén dây,

Tin nhà phút bỗng chia tay đôi đường.

Chén đụng chén, lòng nhường giao cứa,

Tay phân tay, mắt tựa kim sâu.

Đương than chưa ngớt cơn sầu,

Tai bay vạ gió phút đâu tới nhà.

Duyên tơ tóc vì cha làm lỡ,

Phải bán mình cho Mã-Giám-Sinh.

Nghĩ rằng yên phận tiểu tinh,

Nào hay con tạo trá trinh khác thường.

Bạn lầu xanh phòng hương vò võ,

Hết tháng ngày đợi gió trông giăng.

Ong qua bướm lại đãi đằng,

Thanh-y giầy lại sích-thằng buộc chao.

Thúc-kỳ-Tâm anh hào phú hộ,

Theo thông-đường khai phố Lâm-Tri.

Qua chơi nức tiếng Kiều-Nhi,

Nghìn vàng nào có tiếc chi trận cười.

Trách Nguyệt-lão lả lơi quá nỗi.

Xe hững hờ chỉ giối tơ vương;

Mấy thu lửa đã bén  hương,

Hoạn-thư lòng những toan đường bẻ hoa.

Nàng Kiều đã thoát ra khỏi cửa

Khúc đoạn-trường nghĩ gỡ đã xong.

Quy-y hai chữ sắc không.

Thân kia tưởng đã thoát vòng trần-ai.

Chàng Bạc-Hạnh cũng loài họ Tú,

Giỗ giành nàng ra ở Châu-Thai.

May sao lại gặp một người

Họ Từ tên Hải anh tài ai đương:

Giang hồ, dạo bốn phương tri sĩ,

Nghe tiếng đồn thuyền ghé lại chơi:

Đắn đo đủ cả mọi nhời,

Cầm kỳ thi họa nào ai kém gì.

Nửa thu bỗng tới kỳ khởi động,

Từ một mình chiêng trống lên yên.

Ngọc-đường Kim-mã một phen,

Bá-Vương mịnh-phụ khi nên lẫy lừng.

Cơn vinh hiển vẻ vang phu phụ,

Nhớ buổi đầu tích cũ hàn vi.

Ơn chàng Thúc lúc Lâm-Tri.

Oán nơi Vô-tích thị phi lọc lừa;

Bươc lưu-li nước mưa rửa sạch,

Nợ tang-bồng đôi gánh nhẹ không.

Ước ao đã thỏa tấm lòng,

Cảm công cha mẹ đau lòng nhớ thương.

Mối tình cũ Kim-lang nghĩa nặng,

Giấu đỉnh-chung lòng chẳng có quên;

Hiển vinh chưa được bao phen,

Cơ giời dâu bể phút nên biến rời.

Nhân chàng Từ vận thời vừa giảm,

Nghe nàng Kiều quá ngán không suy.

Tiếc thay cho kẻ dị kỳ,

Lược thao há dễ kém gì Tử-phong.

Chê mưu chước Hồ-Công trí thiểu,

Thiếu gì đường thế liệu mưu toan.

Phải làm giả cách thuyết hàng,

Hình như bắt ếch trong hang hay gì.

Số nàng Kiều đến kỳ sạch nợ.

Sông Tiền-đường gắn bó Đạm-Tiên;

Tái-sinh may gặp Giác-Duyên,

Tưởng rằng xuống chốn hoàng-tuyền từ đây.

Tiếng nhục vinh gió bay đã khắp,

Mười lăm năm thấm thoát biết bao.

Chàng Kim tiết nghĩa làm sao

Tơ thừa lại thắm chỉ đào như không.

Sân chung-đỉnh mặn nồng sen quế,

Cơn ba đào càng nghĩ càng đau;

Mấy hay Tạo-Hóa cơ mầu,

Khi nên chẳng lọ hãnh cầu mới nên.

KIM-VÂN-KIỀU PHÚ

__________

Nhớ Minh-triều đời vua Gia-Tĩnh, có hai người con gái họ Vương, Thúy-Vân vốn nở nang đầy đặn,Thúy-Kiều thêm sắc sảo khôn ngoan, nước tóc rà rà mây cũng kém, mầu da phơn phớt tuyết nên nhường, gồm hay cả cầm, kỳ, thi, họa, lại sảo thông kinh-sử văn-chương, tiết thanh-minh đi viếng mả Đạm-Tiên, đấng thục-nữ vả cùng loài hào-kiệt, khi bán-dạ hầu mấy cung cầm-nguyệt, kết châu-trần giao ước với Kim-lang, ba-sinh gắn bó lửa hương, duyên kỳ ngộ chỉ vầng giăng bạc, muôn kiếp hẹn hò ân-ái, nhời non sông ghi tạc kim-hoàn. Ngọc-thỏ tây-thành còn bóng vẩn, kim-ô đông-bích chửa treo gương. Ông nguyệt xe ra duyên ngọc-dạ, 

Đạm-Tiên buộc lại sổ đoạn-tràng. Nguyện ước chén thề nhời chưa cạn, Liêu-tây thư nhạn đã đưa sang. Người lánh trong màn rõ ra tình thảm thiết, kẻ ra chờ cửa khôn kể nỗi thở than. Nghĩa cả tỏ nhời trong thư nhạn, tình sâu chen gót chốn phòng-hương. Tay cầm tay gan vàng ngao ngán, mặt trông mặt nước mắt ngổn ngang. Thiếp thảm chàng ba đông nắng rãi, chàng thương thiếp muôn nỗi khối mang. Ai ghẹo trêu duyên thiếp, ai mà quấy số chàng. Người về phòng vò tơ chín khúc, kẻ cố-an lở tở hai hàng. Nào ngờ gia-sự đa mang, hiếu-tình đôi nhẽ, đứa bán-tơ một tiếng nói càn, ông Viên-ngoại trăm đàng rầu rĩ, gan sắt đang khói lửa nấu nung, ruồi xanh lại bẻ bai mọi nhẽ, dạ ngây thơ còn nông nổi bồi hồi, phường cò trắng, tưởng chua tranh, thỏ thẻ dâng thư chuộc tội, một thủa xưa có ả Đề-Oanh bán mình chuộc cha, Tấn ngày nọ có nàng Lý-thị; đạo nhân sinh hiếu-đễ làm dầy, sẵn vàng bạc việc gì chẳng dễ, cung-phi thị-vệ, cơn sa cơ khôn giữ giá làm cao, công-chúa cấm-cung, khi ngộ-biến phải bẻ mình làm nhẹ. Hoàn toàn chín chữ, chuộc tội cha để thiếp bán mình, dặn lại một hai giả nghĩa Trọng, cậy em thay chị, một nhà mong mỏi việc thung dung, muôn dặm dẫu xa xôi chẳng ngại, chắc dù Kiều-tử tiếc lỗ vàng, chưa hiển Chung-công ra sức vì, tục-ngôn cò trắng rình miệng trai, ngán nỗi ruồi xanh kinh cái bẽ, Viên-ngoại từ thong thả về nhà, nàng Kiều đã thẳng dong vó ký, đường trường thiên lý, ra tay chung với sức anh-hùng, nguyệt gác năm canh, quyết trí đọ cùng gan tráng-sĩ, trong dinh ra sức tướng quân uy, ngoài trướng những mê thiên-tử khí, tới đến nơi lầu-xanh trướng thúy, vách trắng tranh treo, nửa tình nửa cảnh, như gợi như trêu, tầm thước đoan trang đầy đặn, tựa loài long-qui, dáng hình dong yểu điệu, tốt tươi như tơ trúc thông reo, lúc chén rượu, lúc cuộc cờ, Tống-Ngọc Tràng-Khanh khuya sớm, suốt đêm đua cười cợt, khi câu thơ, khi nét vẽ, vương-tôn, quí-khách thường thường ngày tháng trận tiêu hao, khoan thai khi nói khi cười, gió xuân sui ong lơi bướm lả, thong thả nhời ăn nhẽ ở, sóng khuynh thành quán đổ đình xiêu. Quốc-sĩ ngắm vào con mắt chói, hồng-nhan trông thấy mặt xanh leo, bốn phương nào thấy ai xem bói, Tam-bảo nào nghe tiếng khánh khua, Thày-tăng giã bụt về ăn mặn, Thày-bói mượn người giắt díu nhau, Quan-thị tạ triều về cắt thuốc, Hòa-thượng cao tăng đây chẳng xiêu, đường dọc đường ngang người lấp cỏ, táo-tầu khởi-tử giá càng cao, chê những kẻ lúc nghèo chẳng có, cơn túng mà liều trinh bạch, chốn lầu-xanh có tiếng tài hoa, chỗ thử địa đã cao chẳng giữ giá, mà chờ Vương-Bá không cầm lòng, để đợi Thanh-triều e hoa nguyệt, cho lòng trinh bạch dã cành hoa, cho bướm ong yêu ấy dễ, kẻ đàn bà bắt chước làm gương, cho thục-nữ soi theo, song xem đến đầu hàng các tích, yên trước mọi điều, tình không nên thấy ai cũng khá yêu, một mình vì hiếu vì tình, hiếu tình đã vẹn hai nhẽ, giả ân giả oán, ân oán chửa tan, Lâm-truy, Vô-tích thảm thương, thế mới phải khuất thây phơi phới, chẳng lừa đảo cơn nghèo phải chịu, nghĩ mấy câu thần mộng hẹn hò, giọt sương tầm tã, dẫu còn chưa giả, liền cho cỏi má hồng mòn mỏi, mười lăm năm chìm nổi có là bao, lầu-xanh hai lượt mặt làng chơi, chẳng khác những muông cầm cùng loài thú, cửa Phật hai lần tay pháp giới, đâu chẳng là tháng Thuấn với ngày Nghiêu, tới khi gặp đức đại-vương, mười vị tướng-quân xe đón rước, gặp lúc trên xe Hoàng-hậu, cung-nga giá-nữ nhạc tiêu thiều, tướng-sĩ khấu đầu văn vũ bách quan vâng lệnh chỉ, nam đinh nổi trống, tinh binh mười vạn mở cờ đào, thực là văn vũ lược thao, trăm trận uy nghiêng giời một góc, chẳng thiếu bá-vương cô-quả, năm năm hùng cứ cõi đông, giao hãm trận bạt thành, những sức anh-hùng nào dám đọ, nắm cơm bầu nước, những loài tiều loại có lo sao, cậy sức uy linh, phận gái ra tay làm sấm sét, sẵn sàng tướng-sĩ, ba quân vâng lệnh chỉ cờ mao, Vô-tích áp vào nơi gác tía, Lâm-truy thẳng đến chốn lầu cao, trong quân mở bức hầm giáp mặt, mới giắt Sư lên ngồi giữa, thủ hạ tuốt gươm cắp quĩ, mở cửa ra cho tướng nộp tù vào, ơn xưa Sư-trưởng, Thúc-Sinh vàng nghìn lạng tạ lòng giả nghĩa, oán nọ làng chơi đã khiếp sợ, ba quân mòn nhụt lưỡi dao, nghĩa cả tình còn ghi bên dạ, bể oan sóng đã đặng như dào, còn mong giả nghĩa cù-lao, ra uy anh chúa, tin Hồ-công bầy chước về hàng, vì việc nước mà mang tiếng phụ, sông Tiền-đường sóng biếc mấy trùng sâu, người trinh-tiết danh lưu thiên vạn cổ, nàng Đạm-Tiên đằng vân giá vũ, đón rước bên sông, sông Tiền-đường cải-tử hoàn-sinh, chờ tay Ngư-phủ, Giác-Duyên nhớ nghìn vàng nghĩa cả, rước nàng về ở cảnh thanh nhàn, chàng Kim nghe thế giặc đã tan, ruổi xe đến Tiền-đường mới rõ, bên giang đắp mộ, nghe tin còn trăm nỗi hồ nghi, cửa Phật thấy nàng, trông một giây, có phần vui vẻ, miếng đỉnh-chung đều vinh hiển hơn xưa, duyên loan phượng lại hợp hòa như cũ.

Nguyễn Văn Sâm Sưu Tầm

Share this post