Tìm Lại Tuổi Thơ Theo Tiếng Trống Lân Mừng Tết – Mường Giang

Tìm Lại Tuổi Thơ Theo Tiếng Trống Lân Mừng Tết – Mường Giang

Múa Lân ngày Tết được xem như là một trong những mỹ tục mang tính nghệ thuật, du nhập vào Việt Nam lâu đời và ngày nay rất được thịnh hành tại vùng Ðông Nam Á Châu cũng như các nước có Hoa kiều và Người Việt Quốc Gia tị nạn Cộng Sản sinh sống.

Ðối với dân tộc ta, hàu như ai cũng đều tin rằng trong những ngày Tết Nguyên Ðán nếu được Lân tới nhà giúp vui thì bao nhiêu chuyện xui xẻo, buồn bực của năm cũ cũng sẽ tan biến trước cái uy vũ phi thường của Lân, đồng thời mùa xuân hạnh phúc may mắn dào dạt tới với mọi nhà theo nhịp trống múa Lân và nụ cười duyên dáng cầu tài của Thần Thổ Ðịa.

Về nguồn gốc cũng như sự xuất hiện của phong tục múa Lân trong dân gian, hiện có rất nhiều huyền thoại nhưng tựu trung đều ca tụng đức tính nhân ái của Lân (Nghê). Theo truyền thuyết, cách đây hơn 2500 năm vào đời vua Chu Linh Vương thời Chiến Quốc bên Tàu, Kỳ Lân xuất hiện rất hung dữ giết hại dân lành, nhưng cũng may nhờ có Ðức Phật Di Lặc đã thuần hóa nó bằng cỏ Linh Chi nên đã biến đổi tâm tính và trở thành một linh vật, phù trợ người đời, được coi như một biểu tượng của Ðức Từ Bi và Lòng Nhân Ái. Cũng từ đó mới có huyền thoại “Kỳ Lân xuất thế, thiên hạ thái bình“ vì có sự xuất hiện đồng thời của các đấng minh quân, thánh chúa và những bậc hiền tài. Theo Kinh Thi, bà Nhan Thị khi sinh Khổng Tử thì có Kỳ Lân xuất hiện tại nước Lỗ. Hai năm trước khi qua đời, lúc đó Phu Tử đang viết pho Xuân Thu thì nhận được tin có một người tiều phu đã bắt được một con Kỳ Lân bị thương một chân. Do đó ông đã gác bút, vì vậy Kinh Xuân Thu sau này còn được gọi là Lân Kinh hay Lân Sử. Ðối với dân chúng, mỗi lần nghe tin Kỳ Lân xuất hiện ai nấy đều tin tưởng rằng thiên hạ sẽ được thái bình, hạnh phúc. Ðó cũng chính là lý do phát sinh ra phong tục múa Lân trong những ngày Tết Nguyên Ðán, đồng hành với các lễ hội quan trong khác trong dân gian:

‘Tết này mình rủ về Phan Thiết,
sống lại mùa xuân tuổi học đường
tháng chạp hăm ba cùng với mẹ
nửa đêm tiễn Táo rất thân thương

hăm nhăm lểnh khểnh mang quà tết
kính biếu thầy cô khắp phố phường
lấp ló sau lưng me, nhìn trộm
cành mai đang hé cánh xuân hương

chiều hăm chín tết theo chân chị
mệt lả chen nhau chen nhau giữa bước người
phiên chợ cuối năm vui đáo để
tiếng cưới làm gió cũng chơi vơi

quẩn quanh đã bắt đầu đì đẹt
pháo nổ hòa trong điệu trống Lân
khắp bếp bề bề: Măng, cốm, mứt
nhà trên cha vịnh bức tranh Xuân‘

1-HUYỀN THOẠI VỀ KỲ LÂN:

Kỳ Lân còn có tên là Ly hay Nghê. Ðây là một con vật huyền thoại giống như Rồng, một sản phẩm tưởng tưởng của nền Minh triết Ðông phương thời cổ. Trong Quốc Âm Tự Vị Việt Nam của tác giả Huỳnh Tịnh Của đã viết rằng ‘Lân là con cái, còn Kỳ là đực. Phong tục múa Lân ngày Tết nhằm mục đích tôn vinh nữ giới, chúc mừng sự sinh sôi nẩy nở truyền giống trong xã hội dân gian‘. Lối định nghĩa trên cũng rất phù hợp với sự thể hiện Vũ Khúc Từ Linh (Lân Mẹ sinh Lân Con) mà các vua chúa và hoàng gia Mông Cổ thời Nhà Nguyên-Mông tại Trung Hoa ưa thích nên lúc nào cũng được biểu diễn tại chốn cung đình vào những ngày Tết Nguyên Ðán. Ðây là một trong bốn linh vật (Long, Lân, Quy, Phụng), được đúc tượng để thờ cúng và trang trí trong mọi đình làng, chùa chiền và các dinh vạn của tín đồ theo Phật-Lão-Khổng Giáo cũng như các tín ngưỡng dân gian khác nhưng đã xuất phát từ Tam Giáo trên.

Căn cứ theo tài liệu ghi trong Lân Sử hay Kinh Xuân Thu thì Lân là con vật có một sừng ở trước trán, rất hiền lành, không bao giờ sát sinh ăn các loại thịt sống, đồng thời cũng chẳng bao giờ chà đạp làm hủy hoại đời sống thầm lặng của các loại cây cỏ thực vật. Tại Trung Hoa, sử liệu có ghi là Kỳ Lân xuất hiện rất sớm trước Tây Lịch và được gọi là Kilin (Kỳ Lân). Cũng trong quan niệm xưa, Kỳ Lân thuộc loài lưỡng tính, là linh vật được Trời sai xuống cõi nhân gian, tạo cho nó một chiếc sừng nhọn với phép thần thông để diệt trừ những phường gian ác, bọn bạo chúa tham quan, chuyên làm những chuyện hại dân bán nước, hủy hoại đạo đức xã hội. Do đó Lân có một hình dáng rất dị kỳ với thân hình của con hươu, đầu ngựa, đuôi trâu và đặc biệt là chiếc sừng nhọn, như là một biểu tượng uy quyền tuyệt đối của Phật, Trời, đấng Thượng Ðế vạn năng tuyệt diệu. Thường những năm loạn lạc vì giặc giã, chiến tranh hay thiên tai hạn hán khiến cho dân chúng lầm than chết đói vì mất mùa thường có Kỳ Lân xuất hiện, dùng cái sừng nhọn chọc thẳng mây xanh để đem nuớc mưa từ trời tuôn xuống thế gian, làm hồi sinh đất đai, thảo mộc và sự sống của con người. Từ niềm tin trên nên mãi tới thế kỷ XIX, phong tục tặng ảnh hay tượng Kỳ Lân cho các cô gái khi bước lên kiệu cưới về nhà chồng vẫn thịnh hành. Ðây là một ý niệm nhằm chúc mừng các đôi vợ chồng mới được trăm năm đầu bạc, con cháu đầy nhà và hạnh phúc ‘thiên trường địa cửu‘.

Tại một vài quốc gia, Kỳ Lân được tôn xưng địa vị ngang hàng với Rồng, biểu tượg của quyền uy thiên tử. Kỳ Lân cũng là bùa hộ mạng của các trẻ sơ sinh. Ở Ấn Ðộ, Lân cũng được thờ phụng vào khoảng năm 1300 trước Tây Lịch. Ðiều này có ghi rõ trong các kinh sách Veda viết bằng Phạn Ngữ rằng “Lân là hóa thân của nhiều vị thần linh, trong đó có hai vị thần Civa và Vishnou“. Tuy nhiên vì phong tục tập quán dị biệt của các dân tộc trên thế giới nên hình dáng lân cũng thay đổi tùy theo tư tưởng của bản địa, bởi vậy hình dáng Lân có lúc râu bạc, bờm đỏ hoặc giống như con ngựa có sừng hay trở thành con cá vảy vàng, còn sừng thì lúc dài lúc ngắn.

Huyền thoại Kỳ Lân từ Trung Hoa, Ấn Ðộ, được đoàn quân viễn chinh của Thành Cát Tư Hãn và các đại hãn sau này mang truyền bá khắp các vùng đất phía tây bị quân Mông chinh phục. Nhưng tại Hy Lạp, căn cứ theo kinh điển sử liệu, thì người xưa đã biết tới Kỳ Lân từ lâu đời. Chính triết gia Hy Lạp là Ctecias, cũng là thầy thuốc, sống vào thế kỷ thứ V trước Tây Lịch đã ghi trong tập du ký khi ông tới thăm Ấn Ðộ, nói về lần chạm trán với Kỳ Lân tại đây. Sau đó hai thế kỷ, triết gia Aristote, đệ tử của Planton, cha đẻ nền triết học Tây Phương, cũng viết về Kỳ Lân xuất hiện. Chính Ðại đế Cesar của La Mã trong chiến cuộc tại thành Gaule cũng có nhắc tới con vật đặc biệt là Kỳ Lân. Trong Kinh Cựu Ước, phần viết bằng tiếng Do Thái có nói tới Kỳ Lân là một con thú linh thiêng, can đảm với tấm lòng bao dung bác ái, được gọi bằng nhiều cái tên như Réem, Monnocéros hay Unicorne (Ðộc Sừng). Tóm lại dù Ðông hay Tây phương, ở đâu mọi người cũng đều tin phục Kỳ Lân qua vẽ huyền bí huyễn hoặc của nó. Ngoài ra Lân còn dính dáng tới chuyện Ông Adam và bà Eva nơi vườn Ðịa Ðàng mà Kinh Thánh đã ghi rõ. Ðó là chuyện Kỳ Lân đã sống chung với cặp vợ chồng trên trước khi họ bị đuổi khỏi chốn này, nên Lân cũng theo họ rời khỏi thiên đàng. Trong cơn Ðại Hồng Thủy, Kỳ Lân là con vật duy nhất không leo lên chiếc thuyền của Neo, bởi nó không sợ cơn thịnh nộ của Thượng Ðế.

Trong lĩnh vực tôn giáo, Tây Phương quan niệm sừng Lân là Kiếm Trời, hiểu như là sự hòa hợp của Thượng Ðế, Vũ Trụ và Nhân Sinh. Thuyết này cũng phù hợp với học thuyết Thiên-Ðịa-Nhân của Ðông Phương. Do đó thời phục hưng, nhiều họa sĩ đã lấy Lân làm đề tài sáng tạo vì họ quan niệm Lân là con vật tinh khiết cao cả, không bao giờ vụ lợi, lại có tấm lòng bác ái, tượng trưng cho sự tự do bình đẳng. Bức thảm thêu La Dame À La Licorne rất quý giá hiện vẫn còn tại Viện Bảo Tàng Cluny của Ý Ðại Lợi. Trong Y học, sừng Lân được coi như thánh dược, có thể tẩy sạch mọi ô nhiễm trong nước, giải trừ được tất cả các chất độc hại, bất kỳ tới từ động vật hay thực vật. Tất cả các huyền thoại trên được đồn đãi truyền tụng, từ thế này sang thế hệ khác, khắp mọi nơi trên trái đất, đã khiến cho ai cũng tin Kỳ Lân là con vật có thật, nên bao đời hoài công tìm kiếm. Rốt cục tất cả chỉ là ảo vọng như họ đã từng kiếm cõi thiên đàng đã đánh mất. vì tham vọng cá nhân.

Cũng từ lòng sân si cuồng tín đó, thời Trung Cổ người Âu Châu thì bắt dê, các bộ lạc tại Népal, Éthiopie, Tây Tạng thì tin rằng loài Sơn Dương một sừng chính là Kỳ Lân tái thế. Cũng do tình trạng ai cũng đổ xô đi tìm thành dược của sừng Lân nên nhiều vụ án lứa bịp đã xảy ra. Năm 1573, một bác sĩ giải phẫu Pháp tên Ambroise Pare tuyên bố đã khám phá ra được thuốc bột từ sừng Kỳ Lân, có thể trị được bá bệnh và đem rao bán trên thị trường. Nhưng bao lâu nội vụ được phanh phui và đó là bột được tán ra từ răng của loài Cá Voi Bắc Cực. Sau này để an ủi về một niềm tin không bao giờ có thật, thiên hạ lại đổ xô săn giết Tê Giác, lấy sừng bào chế thuốc kích dục để mua vui trong chốn phòng the.

Khoảng 500 năm trước đây, hiện tượng Hươu Cao Cổ tại Châu Phi đã làm sống lại các huyền thoại về Kỳ Lân của Trung Hoa, vì họ tin rằng hai giống vật này có nhiều điểm tương đồng, nhất là bản tính hiền lành. Theo truyền thuyết, trước khi Khổng Tử ra đời đã có một con Kỳ Lân xuất hiện, mang tới cho ông một quyển Thánh Thư như là điềm báo trước sự xuất hiện của một kỳ nhân, sau này và mãi mãi được nhân loại tôn xưng là ‘Vạn Thế Sư Biểu‘. Trước khi mất, Khổng Tử đã chiêm bao thấy một con Kỳ Lân đang dãy chết. Lúc thức giấc, ông đã than ‘mạng ta sắp hết‘. Quả nhiên ông tạ thế vào hai năm sau. Tóm lại, Kỳ Lân chỉ là một sản phẩm của con người phát sinh từ những huyền thoại, từ đó mới có cớ để vẽ vời tôn xưng sự thông minh, trí tuệ của các bậc vĩ nhân bao đời trong thiên hạ.

2-NỤ CƯỜI DUYÊN DÁNG CỦA ÔNG ÐỊA, BIỂU TƯỢNG CỦA HẠNH PHÚC, VỊ THA:

Trong những ngày Tết Nguyên Ðán, nếu Lân mang tới sự may mắn thịnh vượng cho mọi người thì ông Ðịa, qua nụ cười toe toét nhưng không kém phần duyên dáng, cũng là những đóng góp quan trọng trong cuộc vui có tác dụng làm tiêu tán hay vơi đi phần nào nỗi sầu muộn của thế nhân trong cuộc sống bon chen cơm áo hằng ngày. Chính điều này đã khiến cho hầu hết những tín đồ theo đạo Phật hay Tam Giáo thờ cúng ông Ðịa, để mong được hạnh phúc, may mắn và cầu tài, phúc lợi.

Về huyền thoại nhân vật này, hiện cũng có nhiều truyền thuyết được kể lại, mục đích cũng chỉ muốn nói lên cái nhân dạng ông Ðiạ mà chúng ta đã thấy với miệng cười toe toét, bụng to quá cỡ. mập mạp phương phi, biểu tượng của hạng người phú quý. Chuyện kể rằng thuở xưa có một gian thương tham lam xảo quyệt, lúc nào cũng chỉ muốn được giàu có nên thường van vái cúng lạy ông Ðịa phù trợ cho mình buôn may gặp vận để làm giàu. Trong khi khấn hứa nếu được như ý, sẽ trả lễ hậu hỷ, tuy nhiên lần nào cũng chỉ là lời hứa cuội vì bản chất giàu có nhưng keo kiệt của bọn trọc phú xưa nay. Có một lần hắn hứa là sẽ trả lễ bằng một con vật có tám chân, nên ông Ðịa mừng lắm vì tin chắc đó con heo nằm, nên hết lòng mách bảo cho hắn trúng lớn. Giữ đúng lời hứa, tên trọc phú gian thương đã cúng cho ông Ðịa ‘một con cua đồng‘. Trước nổi này, Ðịa chỉ còn biết lắc đầu với nụ cười toe toét cho ‘Thế Thái Nhân Tình‘ bạc trắng hơn vôi. Ðó cũng là ý nghĩa của người xưa qua câu chuyện ngụ ngôn trên, để giải thích nụ cười của ông Ðịa qua nhân dạng hiện tại. Riêng việc ông Ðịa có cái bụng to lớn, cũng căn cứ vào truyện cổ tích dân gian Trung Hoa. Ngày xưa có một mụ nhà quê bị ông Ðịa ghét vì hay dùng những lời lẽ thô tục để nhiếc mắng con gái mình. Bởi vậy ông Ðịa mới thọt với thần Hà Bá là bà nhà quê đó muốn gả con gái mình cho ông ta. Thần Hà Bá mừng quýnh mới cùng Ðịa tới nhà bà lão coi mắt vợ, gặp lúc mụ ta đang chửi con gái ‘Hà Bá lấy mày‘. Vị thần này giận vì biết Ðịa chơi xỏ mình nên đạp ông ta nhào xuống sông. Vì Ðịa mãi miết mở miệng cười toe toét, nên bị uống nước sình bụng. Từ đó ông ta mới có nhân dạng kỳ lạ với cái bụng bự quá cỡ mà ta thường thấy trong các đoàn múa lân hay nơi tượng, ảnh thờ cúng.

Thật sự việc thờ cúng ông Ðịa bắt nguồn từ nguyên lý ‘Sanh Sanh, Hòa Hòa‘, trong tín ngưỡng dân gian, pha trộn ảnh hưởng của Phật Giáo với chân dung ông Ðiạ đầu trọc được chít khăn đỏ, ngồi trên ngai, có khuôn mặt của một vị thiền sư đắc đạo trong các thế ngồi Mahari-Jalilasana vô cùng thoải mái, thanh nhàn. Chính điều này đã làm nhiều người nhầm lẫn giữa Phật Di Lặc và Thần Thổ Ðịa (Thần Tài). Trong khi đó đã có sự phân biệt thật rõ ràng, tượng Phật Di Lặc đầu trọc, một tay cầm xâu chuỗi còn tay kia thì nắm miệng một chiếc túi vãi. Riêng tượng ông Ðịa cũng đầu trọc nhưng bịt khăn đỏ đầu rìu, mối được giắt gọn hai bên. Một tay cầm quạt lông phe phẩy, tay kia để không, luôn luôn ngồi tựa vào mình cọp hay không có cọp. Kiểu tượng này hiện rất thịnh hành.

Về quan niệm ông Ðịa cưỡi cọp, do người Trung Hoa đã chịu ảnh hưởng ‘Ða Thần Giáo‘ qua truyền thuyết tín ngưỡng dân gian của Triệu Công Minh, Trương Thiền Sư cởi cọp… có ghi trong truyện Phong Thần. Ngoài ra còn thấy tranh Tử Vi Thượng Ðế cởi hổ, thường được mọi người treo trước cửa, mục đích để trừ tà ma trong ba ngày Tết Nguyên Ðán. Ðối với VN, nhất là đồng bào ở các tỉnh Trung-Nam Phần, trên miền đất cũ của Chiêm Thành-Thủy Chân Lạp, từ xa xưa đã có tục thờ Hổ, con vật đã làm điêu đứng tổ tiên ta trong những ngày đầu tiên tới khai hoang vùng đất ma thiêng nước độc ‘cọp Khánh Hoà – Ma Bình Thuận‘ bị quên lãng muôn đời. Bởi vậy cọp được mọi người tôn xưng là ‘ Sơn Quân Chi Thần ‘nhưng để có ý nghĩa hơn, người Việt lại sáng tạo thêm vị thần Thổ Ðịa cỡi trên mình cọp, với ngụ ý là dù có hung dữ thế nào chăng nửa, rốt cục cọp cũng bị con người chế ngự. Tóm lại hình ảnh của ông Ðịa luôn có mặt với Lân qua các cuộc trình diễn là một sáng tạo đầy ý nghĩa của con người, trong hình thức lẫn nội dung, làm nổi bật sự khao khát hạnh phúc và tình hòa ái của nhân sinh giữa một xã hội luôn tranh chấp vì lợi lộc thấp hèn.

3- MÚA LÂN NGÀY TẾT:

Ngày nay múa Lân đã trở thành môn chơi, gần như được phổ thông khắp thế giới, nhất là tại các vùng đất có sự hiện diện của Hoa Kiều và tập thể người Việt tị nạn Cộng Sản, vào những ngày Tết Nguyên Ðán cũng như các dịp lễ hội quan trọng. Thuở xa xưa, các đội Lân trước khi bắt đầu trình diễn đều phải tới chào kính tại các công môn hay dinh thự quan đầu tỉnh, lệ này nay đã bị bãi bỏ. Nhưng dù có thay đổi gì chăng nữa, riêng ba nhân vật Lân, Ðịa và Trống vẫn luôn luôn đồng hành trong các buổi trình diễn. Trống dùng để múa Lân cũng thuộc loại đặc biệt, được gọi là Cổ Bề, làm bằng một thứ gỗ tốt khép kín, hai đầu bịt kín bởi da trâu hay bò, chính giữa mặt trống có vẽ biểu tượng Âm-Dương, tượng trưng cho trời đất. Khi đánh vào mặt trống, tiếng dội thùng thùng sẻ hòa nhịp cùng với điệu chan chát của bộ Chập chõa làm bằng đồng và những tràng pháo lớn nhỏợ nổ đì đùng, tạo nên một thanh sắc sung mãn rất hùng tráng, không thua gì những điệu kèn trống thúc quân lúc xung trận, như muốn chuyên chở ý nghĩa thâm sâu muôn đời của con người là mong mỏi đón nhận được sự thái bình, thịnh trị của non nước và niềm hạnh phúc ấm no của muôn dân.

Tại Việt Nam thời Pháp thuộc, hầu như ở các tỉnh thị, thành phố lớn nào cũng đều có một hay nhiều đội Lân, tuy nhiên được tổ chức quy mô và trình diễn có nghệ thuật cũng như bài bản võ học vẫn là các đôi Lân của thủ đô Sài Gòn, Chợ Lớn hoa lệ. Theo các tài liệu được đăng tải trên báo chí, ta biết vào năm 1927 tại khu vực Lò Da Phú Thọ có võ sư Huỳnh Thịnh đã cùng với các môn sinh trong võ đường Thiếu Lâm – Hồng Quyền thành lập một đội Lân. Năm 1937 có võ sư Lưu Hào Lương thuộc môn phái Thiếu Lâm Châu Gia, vì trốn lánh sự khủng bố của quân phiệt Nhật, nên bỏ trốn khỏi đất Tàu, lưu lạc tới Sài Gòn lập Võ Quán Nhơn Nghĩa Ðường tại Chợ Lớn. Thời Việt Nam Cộng Hòa, năm 1967, võ sư Triệu Di Văn thành lập đội Lân Tinh Anh, quy tụ nhiều môn sin xuất thân từ các võ đường Thiếu Lâm, Bạch Mi, Thái Lý Phiệt… nên trong lúc biểu diễn đã phô trương rất nhiều tài nghệ điêu luyện của võ thuật, nhiều lúc làm kinh hồn bạt vía khán giả tại chỗ qua các tiết mục đặc biệt như Lân leo cột cờ cao tới 14,5 mét với sự tham dự của bốn con Lân cùng tranh giành một giải thưởng. Ðội Lân này tới nay vẫn còn tồn tại nhưng có tới Ngũ Lân mang màu sắc khác nhau trong lúc cùng tranh tài. Năm 1971, võ sư Trần Minh thuộc môn phái Thái Cực Ðường Lang thành lập đội Lân, chuyên biểu diễn các môn võ thuật về miều quyền, hổ quyền… Ngoài ra còn có màn giao đấu đặc biệt giữa Lân và Sư Tử. Nhưng hiện nay, nổi tiếng nhất vẫn là Ðội Lân Nhơn Nghĩa Ðường do cố võ sư kiêm Đông Y Sĩ Lưu Hào Lương thành lập từ năm 1937. Ðội Lân này được Việt Cộng cho tham dự cuộc thi múa Sư Tử Quốc Tế (International Lions Dance Championships) tổ chức tại Tân Gia Ba từ ngày 12 tới 15/12/1996, do võ sư Lưu Kiếm Xương làm trưởng đoàn. Ðặc biệt lần này, đoàn Lân Việt Nam đã biểu diễn hai tiết mục rất đặc sắc là Lân Leo Cột và Lân Vượt Tường, được Ðài Truyền Hình Fuji của Nhật thu hình và gọi đó là những chuyện lạ trên thế giới.

Ngày xưa, múa Lân chỉ chú ý tới cái đầu, còn mình và đuôi chỉ là phần phụ thuộc không quan trọng, nên chỉ làm bằng một vải dài căng thăng là xong chuyện. Trước tháng 5-1975, vào những ngày sắp Tết Nguyên Ðán, khoảng tháng 11 đã thấy bầy bán đầu Lân khắp Chợ Lớn Mới, nhiều nhất là tại các đường Ðồng Tháp, Lương Nhữ Học, Triệu Quang Phục.. Ðồng lúc có nhiều xe ba gác chở đầu lân, chiêng trống, chạy quảng cáo đầy khắp đường phố đô thành. Thông thường các đầu Lân tài tử có đường kính từ 0,4 – 0,6m nhưng với các đội Lân chuyên nghiệp luôn luôn phải nhập cảng các đầu Lân được sản xuất từ Hồng Kông. Ngày nay các đoàn múa Lân tại Sài Gòn-Chợ Lớn cũng như ở các tỉnh thị hầu hết đều mua từ trung tâm sản xuất đầu Lân thuộc lò Nhơn Nghĩa Ðường tại quận 5, bến Hàm Tử, Chợ Lớn.

Thực hiện một đầu Lân, theo các nhà chuyên môn, là cả một công phu, nghệ thuật. Ðầu Lân được làm bằng tre nan, có niền bằng nhôm hay mây để bảo đảm sự chắc chắn bền vững và sự nhẹ nhàng giúp người múa cử động dễ dàng khi phô diễn nghệ thuật công phu theo ý muốn qua các màn trình diễn càng lúc càng phức tạp theo đòi hỏi của nhu cầu thời đại. Cho nên khi nhìn thấy chiếc đầu Lân thật đồ sộ ghê gớm, ai cũng tưởng rất nặng nề nhưng thật sự có trọng lượng chừng 6 kg mà thôi. Về giấy làm đầu Lân cũng là loại đặc biệt có tên là giấy Sa, thứ vật liệu được dùng làm tim pháo. Với Lân chợ thì các cơ sở sản xuất không dùng loại vải Sa mà lại phất bằng giấy bồi ở mặt ngoài, sau đó dùng màu sơn kín theo ý muốn. Ngoài ra dùng lông dê hay thỏ để làm râu, mày mi, bờm, mắt (bằng bóng điện), xúc tu (với lò xo có lục lạc).. Tóm lại nghệ thuật làm đầu Lân phải luôn tôn trọng các nguyên tắc của ‘Tượng Hình Tứ Linh‘. Ðó là sừng, hai tai và đuôi Lân, phải được kết thành hình của con Quy. Với lông vũ và một số hình vẽ trên đầu Lân thì tượng trưng cho loài chim Phụng Hoàng. Xúc tu và khóa miệng là của Rồng. Bí thuật duy nhất trong nghề làm đầu Lân là không bao giờ được vẽ con ngươi của Lân tại nơi sản xuất, mà phải tới Chùa để làm lễ điểm tinh khai quang. Tại Sài Gòn-Chợ Lớn, các đội Lân chuyên nghiệp thường đem Lân tới Chùa Bà Thiên Hậu để xin vẽ mắt. Tại Hồng Kông, trước khi nhượng địa này được Anh trả lại cho Trung Cộng vào ngày 30-7-1997, chính ông toàn quyền tại đây tự tay vẽ mắt cho đội Lân nào giỏi nhất thành phố.

Sau ngày 30-4-1975, Việt Cộng gần như bế quan tỏa cảng, chỉ giao dịch liên hệ với các nước xã nghĩa mà thôi. Bởi vậy các đội Lân tại Sài Gòn-Chợ Lớn và các tỉnh không còn được mua đầu Lân của Hồng Kông nên ai cũng phải tự túc và Lò Lân Nhơn Nghĩa Ðường là nơi đã đi tiên phong trong việc sản xuất đầu Lân nội hóa, khởi đầu từ năm 1980. Hiện Lân Việt Nam rất được các nước Ðông Nam Á ưa thích vì rất bền đẹp và giá rẻ mạt, chỉ bán có 100 đô Mỹ, trong lúc Lân sản xuất tại Hồng Kông, Thái Lan, Tân Gia Ba, Ðài Loan.. bán tới 700 US/1 chiếc.

Nghề múa Lân cũng đã cải tiến từ đầu thập niên 90, chẳng những về cách biểu diễn điệu bộ, võ thuật mà còn thay đổi cả các điệu trống múa Lân, nhất là Việt Nam biết khôn khéo kết hợp nghệ thuật theo truyền thống Trung Hoa và điệu trống Jazz của Âu Mỹ lẫn ngón trống chầu cổ của ta khiến cho âm thanh thêm sôi động, dồn dập, có tác dụng khích động lòng người và gây náo nhiệt cả một góc trời.

Còn một điều quan trọng khác trong nghề múa Lân tại Việt Nam là đầu Lân xưa nay đều do người Tàu hay Việt gốc Hoa sản xuất nhưng tuyệt đối trống dùng để múa Lân hoàn toàn mua từ cơ sở của Thầy Mười ở thị xã Tân An, tỉnh Long An. Nhưng dù trống có còn tốt như mới thì các đội Lân vẫn theo tập tục lâu đời là chỉ dùng trống trong một năm mà thôi. Tóm lại bể hay lành, Tết mới thì trống phải thay mới.

4- MÚA LÂN TẠI PHAN THIẾT:

Tại một vài địa phương như Phan Thiết, trước năm 1975 có đội Rồng của Hội Sở Muối rất nổi tiếng và chuyên nghiệp. Trong các cuộc lễ lạc, những ngày Tết Nguyên Ðán và nhất Ðại Lễ Tuần Du của Quan Thánh Đế Quân thường ba năm tổ chức một lần vào ngày Rằm tháng Bảy Âm Lịch. Dịp này Rồng và các Lân biểu diễn các màn Long-Lân đoạt châu trước dinh đường tỉnh trưởng Bình Thuận, vườn hoa nhỏ bên tả ngạn và ngã bảy đầu dường Gia Long-Ðồng Khánh-Nguyễn Du-Khải Ðịnh..

Nghệ thuật múa Rồng ngày xưa rất được vua chúa nhà Nguyên ưa chuộng và hiện nay rất thịnh hành khắp Nam Hàn. Người Việt Nam còn có nghề múa Hẩu (Sư Tử) ở miền Bắc và đặc biệt tại thị xã Thủ Dầu Một (Bình Dương). Noí chung Hẩu hay Kim Sư (Sư Tử Vàng) là vua của muôn loài, một biểu tượng rất được phổ biến trong các hình tượng của Phật giáo. Ðây cũng là con vật cởi của Từ Hàng Ðạo Nhân trong Lão giáo, hóa thân của Ðức Phật Bà Quan Âm, được thờ kính tại khắp các đình làng Trung Hoa và Việt Nam.

Khác với Rồng và Lân, trước đây tại Miền Nam VN, múa Hẩu chỉ được thực hiện trong các lệ cúng giỗ vị thần bảo hộ của người Viêt gốc Hoa, thuộc Bang Phúc Kiến mà thôi. Ở Bình Dương cứ bốn năm một lần, các chúa của người Hoa Phúc Kiến thờ ông Bổn, bà Thiên Hậu vùng Búng, Lái Thiêu, Bà Lục, Tân Phước Khánh.. Riêng đầu Sư Tử Vàng thật sự chỉ là một chiếc mặt nạ rất dữ dằn, đắp nổi bằng giấy bột trên một cái nia. Còn đuôi Hẩu là một miếng vải dài 4m. Mỗi đội Sư Tử thường có 2 con, hoặc múa một mình hay biểu diễn cả cặp. Ðiều tối kỵ nhất trong nghệ thuật múa Hẩu là không bao giờ được ngửa mặt lên trời và leo trèo như Lân lúc biểu diễn.

Hiện nay tại thành phố Phan Thiết có 10 đội Lân và một đội Rồng. Trong khi các đội Lân-Rồng và Hẩu tại Sài Gòn-Chợ Lớn hoạt động chuyên nghiệp, gắn liền với các võ đường và bang hội giang hồ thì đội Lân-Rồng của Bình Thuận-Phan Thiết được lập ra chủ yếu không phải để kiếm ăn mà là phục vụ cho các chùa đình và hội quán của người Việt gốc Hoa trong tỉnh. Trước kia chùa Ông không có đội Lân nhưng hiện nay đã thành lập đoàn Thanh Long, vừa có Lân lẫn Rồng, để thay thế con Rồng cũ của Hội Rồng Sở Muối , đã có từ thời Pháp thuộc và đã hư nát sau khi Việt Cộng vào cưỡng chiếm Bình Thuận từ ngày 19-4-1975, người người đói rách thảm thê, tù đầy chết hận, thì có ai còn hồn để mà nghĩ tới Rồng với Lân? Nhưng cho dù con Rồng mới của Phan Thiết dù được mang mỹ danh là Thanh Long, dài 49m với 100 người điều khiển nhưng nhìn thật ốm nhách, không làm sao so sánh nổi với con Rồng cũ năm nao của Phan Thành.

Tuy nhiên dù có tới 10 đội Lân nhưng theo đánh giá của địa phương thì vượt trội hơn hết kể cả các hội Lân của Nhà Thuốc Nhơn Ái và Thương Gia Năm Tàu là đội Lân của Bang Quảng Ðông, có chùa Hội Quán tại đường Gia Long, thành phố Phan Thiết. Ðội này hiện do Châu Phú Cường chừng 45 tuổi phụ trách. Hội này quy tụ hầu hết con cháu của những thế hệ cha anh, bao đời liên tiếp và phát triển đội Lân nhà, qua sự tranh hùng với các đội Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và nhất là hội Lân Thiền Cang Tương Tế do người Việt sáng lập, có trụ sở tại đường Ðội Cung, Phan Thiết.

Theo báo chí ghi nhân, đội Lân Quảng Ðông hiện có 36 hội viên, tuổi từ 10-25, bao gồm người Việt lẫn Việt gốc Hoa. Theo nguyên tắc và các điều lệ quy định, muốn trở thành một thành viên của đoàn Lân này mọi người phải tập luyện thường xuyên, ngoại trừ lúc phải đi làm hay tới trường học. Tóm lại để trở thành một chuyên viên múa Lân nhà nghề, điều kiện thiết yếu nhất là phải có thân thể cường tráng khoẻ mạnh. Những người múa đầu Lân hầu hết rất tinh thông võ nghệ. Nói chung điều hành một đoàn Lân là sự ăn ý nhịp nhàng giữa mọi người, từ đánh trống, ông Ðịa, thậm chí cho tới giữ đuôi Lân. Ðặc biệt đội này có 13 con Lân và một cặp Sư Tử Vàng. Trước năm 1975, mua đầu Lân phải qua tới Hồng Kông hay Ðài Loan. Hiện nay trước sự phát triển nhanh chóng của nghề múa Lân nên thành phố cũng có nhiều cơ sở sản xuất đầu Lân như hãng Nhơn Nghĩa Ðường ở Chợ Lớn. Múa Lân dưới thiên đàng xã nghĩa, các đội Lân kể cả đội Quảng Ðông, ngoài bổn phận phục vụ cho tín ngưỡng, nay còn phải hành nghề kiếm tiền lo cơm áo. Bởi vậy họ đã ký nhiều hợp đồng biểu diễn tài nghệ cũng như võ thuật, với các khách sạn và những dịch vụ du lịch tại khu phố Thụy Sĩ và Victoria ở Rạng, thuộc quận Hải Long, trên đường đi Mũi Né-Hòn Rơm.

Ngoài ra để cạnh tranh nghề nghiệp, các đội Lân của Phan Thiết ngày nay có rất nhiều tiết mục ly kỳ hấp dẫn như Lân múa trên Mai Hoa Thung. Ðây là một hế thống hai chục cột gỗ, cao từ 1,2m ố 2,4m. Hai võ sĩ múa đầu lân và cầm đuôi, trong lúc biểu diễn đã đi lại hay nhảy nhót trên đầu các cột gỗ trong thung như đi lại trên đất bằng phẳng. Chương trình biểu diễn của các đội Lân tại Phan Thiết khi làm ăn với những công ty du lịch, càng lúc càng đa dạng phong phú, mang tính võ thuật và nét văn hóa Ðông phương, rất được mọi người, nhất là du khách ngoại quốc ưa chuộng thích thú như song sư hí cầu, Lân hái lộc, tứ quý Lân, ngũ sắc phước an, bát trống khai hội.. Tất cả rất phù hợp với tinh thần thượng võ của người Bình Thuận, vốn là hậu duệ của những di dân từ Ngủ Quãng vào khẩn hoang khai phá vùng đất của Chiêm Thành đã bị người Chiêm bỏ hoang hơn ba trăm năm qua.

Ngày xưa thời Bình Thuận còn la đất bạc biển vàng, ai cũng no cơm ấm áo làm chơi ăn thiệt, nên sau khi biểu diễn giúp vui trong ba ngày Tết Nguyên Ðán và Rằm Nguyên Tiêu thì các đội Lân và Rồng lui về ngủ yên trong các bang hội, chờ đợi Tết năm sau mới xuất thế. Nhưng ngày nay nhờ sống được trong thiên đường xã nghĩa, cái gì cũng có nên càc đội Lân Phan Thiết được liên tục chở đi đây đó để kiếm cơm, qua các màn trình diễn võ thuật bán mạng đổi tiền như màn ‘Thất Tinh Bản Nguyệt‘, qua đó Lân phải nhảy múa trên bảy cái ấm đất nhưng tuyệt đối không được làm cho nó vở. Ngoài ra còn có các màn trình diễn nội công như dùng giáo mác nhọn đâm vào bụng hay nằm trên bàn chông, để cho các võ sĩ khác dùng búa sắt đánh mạnh vào thân thể mình.

5-HUYẾT SỬ QUA NGHIỆP MÚA LÂN:

Lúc đầu múa Lân chỉ đơn sơ qua biểu diễn của từng con một. Về sau nghệ thuật múa Lân cũng theo thời gian biến đổi không ngừng với các cuộc tranh tài cùng lúc của nhiều con Lân, có lúc thêm Kim Sư và Rồng tham dự. Nghệ thuật cao nhất trong nghề múa Lân là xung pháo, trèo cao để giựt giải thưởng, nhiều lúc được trèo tòn ten giữa không trung trên 5-7 thước là thường. Cũng may ít khi xảy ra các tai nạn nghề nghiệp đáng tiếc, vì hầu hết những đoàn viên đều là môn đồ của các lò võ thuật.

Theo luật giang hồ trong Lân Sử, tuy không được ghi chép bằng một thứ chữ nghĩa nào nhưng đấy là tử lệnh, ngoại trừ nhóm múa Lân tài tử, còn các đôi Lân dù chuyên nghiệp hay không tất cả đều phải tuân hành với quy tắc tuyệt đối ‘gà ghét nhau tiếng gáy, Lân phân biệt màu râu để định ngôi thứ‘. Như vậy không phải ai muốn làm gì thì làm, nghĩa là cứ tự ý vẽ màu râu theo ý mình để chuốc lấy tai họa và những điều phiền phức nghề nghiệp.

Theo các định luật bất thành văn trên thì Lân Râu Bạc hay Trắng được xem như là Chúa của các loài Lân trên đời, bao gồm những đội Lân của các đại ca đang lãnh tụ trong nghề. Lân có màu râu Hoe Hoe, đai diện cho các đội hạng nhì của các tay giang hồ bạt mạng lúc nào cũng đang ngấp ngáo chờ cơ hội xưng bá. Lân có màu râu xanh hay đen là lớp đàn em. Bởi vậy trong nghiệp múa Lân không bao giờ dám đẫm chân lên địa bàn của nhau để tránh sự xung đột. Tuy vậy vào những ngày Tết Nguyên Ðán có rất nhiều đội Lân hoạt động để kiếm ăn, nếu biết nhường nhịn tuân thủ theo luật lệ giang hồ thì mọi sự tốt đẹp, còn không huyết đấu sẽ xảy ra ngay trong lúc trổ tài nhưng mặt thật là tất cả đang tìm hết thủ đoạn để dành thắng lợi và chiếm cứ lãnh địa của đối phương.

Võ với võ, đao kiếm chạm trán với mã tấu, nên làm sao tránh được thảm cảng người gục máu đổ? Tại Việt Nam, thảm kịch giữa hai đội Lân ghét nhau về màu râu đã biến huyết chiến ở Sài Gòn vào những ngày Tết Nguyên Ðán năm Quý Mùi (1943), nguyên do cũng vì háo thắng mà phá bỏ luật lệ của giới giang hồ. Theo báo chí xuất bản trước năm 1975 đã ghi lại, ta biết Tết năm đó tại khu vực Lò Heo Chánh Hưng và Lò Dừa, có đội Lân Râu Hoe (vàng) của võ sư Tám Mạnh, một nhân vật giang hồ rất có thế lực trong vùng nhờ tiền bạc rủng rỉnh. Ðối diện bên kia sông Sài Gòn có đội Lân Chúa Râu Bạc do tay anh chị trong làng đấm đá tên Hai Lài cầm đầu.

Tết Quý Mùi 1943, có Năm Hồi là con của Tám Mạnh, vì muốn chơi cho thiên hạ nổ mắt nên tự ý đổi màu râu của đội Lân nhà từ màu vàng hoe thành màu bạc (Lân Chúa) nên đã bị đội Lân của Hai Lài thẳng tay trừng trị theo luật giang hồ. Kết quả của trận song Lân huyết đấu làm hai phía có khoảng 30 người vong mạng và mang thương tích trầm trọng, trong số này đội Lân của Năm Hội có 6 thành viên bị tử thương sau cuộc huyết đấu. Nội vụ ra tòa, Tám Mạnh vì lắm bạc nhiều tiền nên được các quan Tây phán thắng kiện. Riêng Hài Lài và những kẻ sống sót của đội Lân Râu Bạc bị kết án khổ sai chung thân, lưu đày ra tận Côn Ðảo và kết quả bị đàn em của Tám Mạnh ở đây thủ tiêu để nhổ cỏ cho tận gốc. Cũng may, đây là trường hợp duy nhất đã xảy ra tại Việt Nam trong thời Pháp thuộc và tình trạng bê bối trên không hề tái diễn lần nào suốt thời gian Việt Nam Cộng Hòa.

Ngày nay, ngoại trừ một số đội Lân chuyên nghiệp ký hợp đồng với các công ty du lịch giúp vui hầu như quanh năm suốt tháng, còn lại các đội Lân khác tại Sài Gòn-Chợ Lớn chỉ hoạt động tới rằm tháng Giêng (Nguyên Tiêu) thì kết thúc. Theo truyền thống đã có từ lâu đời, tất cả các đội Lân đều phải tập trung về chùa Bà Thiên Hậu tại Thị xã Thủ Dầu Một (Bình Dương) để làm lễ cúng tạ, đồng thời tham dự với bốn đội Kim Sư của Bang Phúc Kiến trong lễ hội Rước Kiệu Bà cùng với các vị thần bổn mạng mà người Việt gốc Hoa đã thờ kính như Huyền Thiên Thượng Ðế (Chơn Võ), Quan Thánh Ðế Quân (Quan Công), Nam Triều Ðại Ðế và Cửu Thiên Huyền Nữ. Sau đó các đội Lân mới được phép trở về Chùa hay Bổn Hội Quán riêng của mình và lại hoạt động vào những ngày Xuân năm tới.

Tết về nói chuyện múa Lân, bỗng dưng chợt nhớ tới huyền thoại Kỳ Lân qua truyền thuyết ‘khi con vật này xuất thế, thiên hạ sẽ được thái bình‘. Và cũng vì tin tưởng như vậy nên sau ngày 30-4-1975 khi Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam, đồng bào cả nước bị bóc lột đầy đọa giết hại tù đầy đến tận xương tủy mới nảy sinh ra cái mộng mị huyễn hoặc là Nguyễn Cao Kỳ và Bùi Thế Lân, cả hai đã bỏ vinh hoa phú quý tại nước ngoài, trở về lãnh đạo toàn dân tiêu diệt Việt Cộng quang phục đất nước. Sở dĩ có chuyện này vì ngẫu hứng tên của hai ông tướng trên, nếu đem ghép lại, sẽ ứng với tâm nguyện thầm kín của đồng bào đang khổ đau lúc đó. Nhưng rồi sau khi ra tù Việt Cộng, tới Mỹ mới biết tất cả chỉ là chuyện ba làng.

‘Nay lại thêm một lần xuân tới nữa
Tết không nhà, hiu quạnh vắng người thương
Vẫn tỉnh say nơi quán lẽ bên đường
Chờ bạn đến cụng ly mừng xuân thắm

Nhưng họ đã chết queo ngoài muôn dặm
Kể từ mùa chính chiến, bỏ trường xưa.
Chỉ còn ta thất thiểu cuộc sống thừa
Bao chục năm héo cùng xuân viễn xứ ‘

Từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Giêng 2011
Mường Giang

Share this post