Tình Đất – Cái Bóng Hư Vô

Tình Đất – Cái Bóng Hư Vô

TVVN.ORG (… Như một ẩn dụ, bờ sông bên này và bờ sông bên kia không bao giờ gặp nhau dù rằng cả hai bờ sông đó đều thuộc về con sông đó ….)

Tôi trở lại Khu Kỹ Nghệ An Hòa, quận Đức Dục, tỉnh Quảng Nam, lần thứ ba vào khoảng đầu năm 1969. Lần này căn cứ hành quân không đóng ở cuối phi trường dã chiến trước cổng quân Đức Dục như lần trước mà đóng ở khu xe lửa bỏ hoang (không còn xử dụng nữa) gần khu nhà xây rộng lớn cũng đã hoang phế của Khu Kỹ Nghệ An Hòa.

Đời lính chiến đã quen thuộc với chuyện hành quân nên chỉ cần mươi lăm phút cũng đủ cho người lính thu xếp xong chỗ ngủ của mình với cái “tent” cá nhân; riêng với sĩ quan thì ở trong một nhà “tent” trung đội. Mỗi nhà tent thường dùng cho mười tới mười lăm người với hành trang cá nhân gọn nhẹ. Căn cứ hành quân của Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Nhảy Dù gồm nhiều nhà tent bao quanh trạm xe lửa hoang phế. Có dăm bảy toa xe lửa “bất khiển dụng” đã tróc sơn, hư hỏng khá nhiều, nằm rải rác trên những con đường rày dọc theo đường lộ chạy quanh khu xe lửa. Có lẽ đây là một trạm xe lửa cũ Khu Kỹ Nghệ An Hòa.

Sau khi ổn định chỗ ngủ, rồi nghỉ ngơi khoảng tiếng đồng hồ, những người lính chúng tôi có thói quen thả bộ qua các vùng quanh căn cứ hành quân, mà chúng tôi gọi là “thám sát địa thế”. Các căn cứ hành quân thường đóng ở các quận lỵ và khá xa khu đông đúc dân chúng.

Qua khỏi khu xe lửa khoảng gần một cây số, tôi rẽ phải đi về khu chợ chính quận Đức Dục. Vừa đi ngang tới phi trường dã chiến trước quận, tôi gặp anh thông dịch viên cũng vừa từ trong quận đi ra. Thấy tôi, Hỷ, tên anh thông dịch, đưa tay chào và nói:

– Chào anh Hải, không ngờ được gặp lại anh ở đây. Mời anh đi uống cà phê và xem cảnh nơi này có gì thay đổi không?

Hỷ đưa tay chỉ phía trước mặt nói tiếp:

– Chắc chẳng có gì thay đổi, vẫn “đường xưa lối cũ” phải không anh?

Tôi nhìn quanh những khu nhà rải rác hai bên đường chính phía trước đồn lính quận vẫn chỉ thấy giống như bao vùng thôn quê khác. Phi trường dã chiến với những bụi cây thấp, nhỏ, mọc rải rác, chen cả vào hàng rào kẽm gai bao quanh phi trường hầu như phủ đều một lớp bụi đỏ. Tất cả như đang ngủ yên. Tất cả vẫn phảng phất điệu buồn khô khốc – điệu buồn của những viên sỏi đá nhảy quay cuồng theo cơn gió lốc, rồi lạnh lung gõ lên những vỉ sắt lót làm phi đạo những âm vang thảng thốt kích động pha lẫn dằn vặt, hụt hẫng, lạc lõng. Phi trường dã chiến này có một phi đạo làm bằng những vỉ sắt dầy (PSB). Hai phía đầu và cuối cũng như vòng đai phi đạo được lót bằng những vỉ sắt mỏng có lỗ tròn và móc dính vào nhau.

Khoảng hai năm trước, Trung Tâm Huấn Luyện Hành Quân Delta và Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Nhảy Dù nhận lệnh hành quân tại Vùng I và căn cứ hành quân cũng đóng tại cuối phi trường này. Ngay khi mới đến, các sĩ quan của Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Nhảy Dù và Trung Tâm Huấn Luyện Hành Quân Delta vào quận Đức Dục nghe thuyết trình về tình hình và an ninh của quận. Trong lần hành quân trước đây, tôi đã gặp Hỷ, người thông dịch của quận An Hòa. Hỷ ở gần nhà và nhỏ tuổi hơn tôi nên chúng tôi chỉ biết nhau chứ không thân thiết. Lần này tôi cũng mới gặp lại Hỷ. Chúng tôi vừa đi về hướng chợ quận Đức Dục, vừa trao đổi những câu thăm hỏi xã giao thường lệ.

Trên đường đi, nhiều người dân làng vẫy tay chào hỏi chúng tôi. Khi qua chợ, Hỷ không ghé vào quán cà phê mà kéo tôi đi về hướng con sông phía trước mặt, ngăn chia khu xóm làng với rừng núi thăm thẳm. Hỷ chỉ tay về phía con sông và hạ giọng nói:

– Con sông nhỏ này không có tên, nó như rất nhiều con sông khác. Nhưng nó có một khoảng cách – một ngăn cách vô hình – anh Hải ạ …

Tôi đưa tay ra điều thắc mắc và hỏi:

– Khoảng ngăn cách gì thế?

Hỷ gật đầu nói:

– Vâng, anh ạ, có một câu chuyện mới xẩy ra đây. Để tôi kể lại anh nghe nhe.

Rồi Hỷ kể tiếp:

. . . . . . . . . . . . . .
Năm ngoái, sau khi đơn vị anh hành quân ở đây chấm dứt được mươi ngày thì có một câu chuyện xẩy đến bất ngờ ngay tại dòng sông này. Hôm đó, vào khoảng chín, mười giờ sáng, một số dân cư ở khu ven sông bên này nhìn thấy một người cầm cây gậy có quấn vải trắng ở đầu cây gậy, đưa cao lên vẫy vẫy rồi nhẩy xuống sông bơi sang bờ bên này. Mấy người dân thấy vậy vội chậy đi báo ngay cho lính trong quận biết. Dăm phút sau, một toán quân được quận đưa ra để theo dõi và sẵn sang đối phó nếu cần. Người bơi dưới sông cũng quấn quanh cổ một mảnh vải trắng và trên tay cũng cầm một miếng vải trắng. Lâu lâu anh ta lại vừa bơi, vừa đưa tay cầm miếng vải trắng lên vẫy vẫy ra hiệu đầu hàng. Khi bơi tới bên này bờ sông, anh dơ tay lên và sẵn sàng cho toán lính quận bắt về quận.
Về tới quận, anh khai báo tên tuổi và chuyện xẩy ra. Anh, người Thượng (dân tộc thiểu số), là một thám kích thuộc Trung Tâm Huấn Luyện Hành Quân Delta mới hành quân ở khu vực này. Toán nhảy xuống hành quân được hai ngày thì đụng Việt Cộng. Vì địch quá đông, toán phải tẩu tán, mỗi người chậy một hướng. Sau đó, toán thất lạc, anh không có máy truyền tin nên không liên lạc được với bộ chỉ huy hành quân và phải chậy trốn hoài vì địch luẩn quẩn khu đó quá nhiều. Sau hơn mười ngày chậy trốn, anh mò về đuợc ngọn núi kia (Hỷ đưa tay chỉ ngọn núi khá cao phía bên kia sông). Là người Thương nên anh có kinh nghiệm sống trong rừng và mưu sinh thoát hiểm. Sau đó, anh bơi sang bên này bờ sông và được bắt về quận để xác nhận sự thực.
Thiếu tá quận trưởng (Đức Dục) liên lạc ngay với Tiểu khu xin xác nhận sự thật. Tiểu khu báo lời khai của anh là đúng và yêu cầu quận bảo vệ anh ta trong thời gian chờ đưa anh ta về Quân đoàn.
Trong thời gian đó, người cố vấn Mỹ của quận có hỏi anh thám kích kia về chuyện chậy trốn của anh và tôi (tức Hỷ) là người thông dịch.
Hỷ ngừng giây lát rồi tiếp:
Để tôi kể lại vài lời nói của anh thám kích kia cho anh nghe nhe. Khó nghe lắm vì anh ta người Thượng mà:
“. . . . toi biêt bon VC khong dam đuoi theo tôi ban đem nen ban ngay tôi chui vô lum cây ngu cho đên toi moi dam lân mo đi theo huong da dinh truoc. Toi đoi lam, toi tim hoa qua, cay la ma chim an đuoc thi toi an cho đo đoi. Du đoi, tôi cung phai chay trôn ban đem …”
Anh ta nói không ra hơi phần vì đói mệt, phần vì quá vui mừng. Anh ta nói tiếp:
“. . . . cho tơi chieu toi hom qua, toi thay khu xóm nay thi mung lam vi đung tren nui cao thay co Vang … Đem hom qua, đoi qua, mêt qua, cai bung bao cai mat nhăm (cái bụng bảo cái mắt nhăm) … mà hê nhăm lai thi mo thây co Vang nên lại giat minh tinh day (hễ nhăm mắt lại thì mơ thấy cờ Vàng Ba Sọc Đỏ nên lại giật mình tỉnh dậy). Ca đem qua, toi chi mơ thay the thoi … Sang nay toi bo ra bo song moi nhin ro co Vang nen mung ro và te xiu… vì khong so VC bat nua. Mot lát sau toi tinh day va boi sang ben nay song. Đem hom qua dai nhat, va sang hom nay toi khoe nhat vi co ai do cho toi muon suc khoe de boi sang bên nay song” (cả đêm tôi chỉ mơ thấy thế thôi. Sáng nay tôi bò ra bờ sông mới nhìn rõ cờ Vàng nên mừng rỡ và té xỉu vì không sợ VC bắt nữa. Một lát sau tôi tỉnh dậy và bơi sang bên này sông. Đêm hôm qua dài nhất, và sáng nay tôi khỏe nhất vì có ai cho mượn sức khỏe để bơi sang bên này sông).

– Anh Hải, anh có tin không, vào lúc thập tử nhất sinh, có một mãnh lực vô hình nào đó đã thổi vào một người đang kiệt lực làm người đó hồi sinh, tỉnh lại và khỏe hẳn lên … Còn con sông nhỏ bé không tên kia là nhân chứng kỳ diệu!

Câu nói thay lời kết của Hỷ đã làm tôi suy nghĩ mông lung. Chúng tôi quay lại khu chợ của quận Đức Dục vào một quán nhỏ uống cà phê. Vừa ngồi xuống, tôi nói:

– Chuyện người lính VNCH bị Việt cộng bắt rồi vượt ngục đào tẩu và mưu sinh thoát hiểm là chuyện có thể xẩy ra cho bất cứ đơn vị nào trong quân đội chúng ta. Riêng với binh chủng nón xanh rêu chúng tôi, thì không ai mà không biết đến một thiên phóng sự “Đinh Đó, Người về Từ Cõi Chết” kể về chuyện thật đã xầy ra của Binh Nhất Thám Kích Đinh Đó bị VC bắt, trói lại nhưng anh ta đã đánh ngã hai tên VC rồi chãy trốn bẩy ngày đêm giữa rừng sâu núi độc, trong đói khát, và tử thần bao quanh để cuối cùng, mò về lại được với đơn vị.

Tôi hạ giọng nói tiếp:

– Câu chuyện Hỷ vừa kể làm sống lại hình ảnh Người Về Từ Cõi Chết. những trường như thế, vì đụng độ với địch quá đông nên phải tẩu tán để thoát hiểm do đó dễ bị thất lạc vì cả toán chỉ có một máy truyền tin thôi.

Chuyện này làm tôi chấn động vô cùng. Không phải vì cốt truyện mà vì hồn tôi lắng đọng trong lòng sông nhân chứng đó … Một con sông mà người bên này bờ sông có thể thấy được người bên kia bờ sông, vì khoảng cách lòng sông không rộng lắm. Nhưng ở thời điểm ấy, đơn vị đo lường không tính bằng mét hay ki-lô mét nữa mà được tính bằng “hệ số ý thức” – một ý thức giữa Tự Do và Cộng Sản. Như một ẩn dụ “… bờ sông bên này và bờ sông bên kia không bao giờ gặp nhau dù rằng cả hai bờ sông đó đều thuộc về con sông đó …”

Còn tôi, khi đứng trước con sông, tâm và cảnh hòa vào nhau như hai bờ sông nhập vào lòng sông …

Tôi chia tay Hỷ đi về lại căn cứ hành quân. Câu nói của Hỷ vẫn còn ám ảnh bên tôi: “vào lúc thập tử nhất sinh, có một mãnh lực vô hình nào đó đã thổi vào một người đang kiệt lực làm người đó hồi sinh, tỉnh lại và khỏe hẳn lên … Còn con sông nhỏ bé không tên kia là nhân chứng kỳ diệu!”. Tôi về tới CCHQ hồi nào mà không hay. Bước vào nhà tent trung đội, tôi ngả mình xuống cái giường vải thả hồn theo cái ám ảnh còn đọng lại trong tôi.

. . . . . Tôi muốn đi tìm một cái tên cho một con sông – con sông nhân chứng kỳ diệu … Sao lúc này dòng suy tưởng của tôi không tuôn chẩy như dòng sông nhỏ bé hiền hòa kia nhỉ ? Tôi thừ người ra, nằm bất động thật lâu. Bỗng tôi nghĩ đến khu kỹ nghệ An Hòa và mỉm cười nói thầm: “Dòng Sông An Hòa, cứ gọi như thế đi !” Tôi thiếp đi trong giấc ngủ an hòa …

Những ngày tháng sau đó, tôi nhập vào cái quen thuộc thường tình của người lính hành quân: ứng chiến một, hai, ba. Ứng chiến một thì cả đại đội cho giá súng đạn, ba-lô, nón sắt ngay tại sân CCHQ. Mọi người trong đại đội nếu ở phiên ứng chiến một thì không được phép ra khỏi CCHQ vì khi có lệnh khẩn cấp, đại đội sẽ lên trực thăng nhảy vào rừng trong vòng mười lăm hoặc hai mươi phút. Trong trường hợp ứng chiến một nhảy vào rừng thì ứng chiến hai tự động đôn lên phiên ứng chiến một và cứ thế đôn tiếp lên thay vào chỗ ứng chiền hai và ba.

Trong những phiên ứng chiến một như thế, cả ngày ở trong CCHQ, chính là khoảng thời gian cho người lính sống riêng tư cho chính mình. Tôi cũng vậy. Có nhiều người lính chúng tôi trong khoảng thời gian “cấm cố” đó, thường ngồi một mình, im lặng, dáng tư lự, như một nhà thơ, văn, đang đi tìm nguồn thơ, ý văn … nhưng thực ra, họ chẳng có một chút khiếu gì về thơ văn cả. Họ ngồi như thế, với tờ giấy, cây bút, để viết thư về cho người thân, song, tìm mãi chẳng ra ý “thơ”, ý thơ ở đây là ý để viết thư. Thế nên, có khi ngồi vài ba tiếng đồng hồ, hí hoáy viết, tưởng nhiều lắm, mà cuối cùng cũng chỉ chưa đầy một trang giấy học trò. Còn những tờ giấy kia toàn viết ba láp, vớ vẩn hoặc vẽ nguệch ngoạc chẳng đâu vào đâu …

Có những buổi chiều ngồi trên một toa xe lửa tôi ngơ ngẩn nhìn về hướng bên phải phía trước mặt, hình ảnh quận Đức Dục và khu xóm làng đang chìm vào yên lặng, làm tôi nhớ đến cảnh đồng quê của tuổi niên thiếu tôi đã sống qua. Đâu đó, tiếng gà gáy tan loãng theo con gió vật vờ như những tiếng ngáp của người đang ngái ngủ. Mắt mở mà hồn chìm vào cái trầm lắng của dòng sông mà tôi gọi là dòng sông an hòa. Chữ an hòa dù có viết hoa hay không cũng đều có nghĩa.

Phía bên trái đường rầy xe lửa, một thung lũng chạy dọc một bên khu Kỹ nghệ An Hòa. Những núi cao rừng thẳm bên kia thung lũng, vài đám mây xám lợt trôn lẫn với sương chiều trắng đục. Xa xa phía sau khu xe lửa, con đường lộ đi về hướng mỏ than Nông Sơn như một con sông nhỏ ngoằn nghoèo, mờ dần, mờ dần, rồi mất hút trong mầu xanh biếc của rừng núi ngút ngàn mang cả nét hùng vĩ lẫn trầm buồn.

Những CCHQ, trên các vùng chiến thuật, với người lính, được thi vị hóa như “góc phố cô liêu” – điểm hẹn hò của chinh nhân và chinh chiến – Thế nhưng lần này, tôi thấy “góc phố cô liêu” đó như khơi động lên một cái gì khó trông thấy mà dễ cảm thấy … Nó kia kìa, cũng vẫn căn nhà gạch xây rất lớn, chứa đầy những “xe lam ba bánh” đã hư hỏng, bị tháo gỡ nhiều thứ … Thế sao năm ngoái, tôi thấy dửng dưng, không có ấn tượng gì cả, còn lúc này đây, tôi thấy nó buồn cô quạnh như ý thơ:

“Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
“Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”
.

Những toa xe lửa kia, nhà để “xe lam” này, con đường kia, bức tường này, và cảnh chung quanh, trước đây, chắc ẳn ồn ào lắm, cả một khu kỹ nghệ mà ! Bây giờ cảnh hoang người vắng. Có còn chăng, ánh nắng chiều chiếu xuống vàng vọt tịnh liêu như mầu cỏ cây héo úa … Tôi không biết khu Kỹ nghệ An Hòa này ngưng hoạt động khi nào. Bây giờ, chỉ còn một số công nhân viên cũ hoạt động ở cách đây một vài cây số. Vài lần, tôi ghé ghé qua khu Kỹ nghệ còn sót lại đó nhưng thấy cảnh buồn hoang vắng làm sao ấy.

Sau ba tháng, hành quân chấp dứt. Cuộc hành quân kế tiếp cũng ở vùng này nên đại đội 6 do Trung Úy P. Tuấn, đại đội trưởng, tôi phó, phải ở lại coi CCHQ cho các đại đội khác về hậu cứ Nha Trang nghỉ dưỡng quân một tháng. Sau đó, cho cuộc hành quân tới, tất cả đơn vị (tiểu đoàn) chúng tôi trở lại căn cứ hành quân này thì đại đội chúng tôi được về Nha Trang nghỉ dưỡng quân.

Trong những ngày cuối ở lại giữ CCHQ, tôi rủ trung úy Tuấn đến khu công nhân viên của khu Kỹ nghệ An Hòa chơi nhân tiện gửi lời chào từ giã công nhân viên chức ở đây vì chúng tôi đã hai lần hành quân ở khu Kỹ Nghệ An Hòa này. Hơn nữa, cuộc hành quân sau, chúng tôi sẽ không có mặt ở đây nữa. Trung úy Tuấn bận nên bảo tôi lái xe đến thăm họ và gửi lời chào từ giã. Tôi lái xe đến nơi làm việc của công nhân viên khu Kỹ nghệ An Hòa và bất ngờ gặp lại Hoàn, một bạn học thời trung học đệ nhị cấp, hiện là kỹ sư công chánh đang làm việc ở đây.

Chúng tôi mừng rỡ bắt tay nhau. Tôi chở Hoàn về khu nhà Hoàn đang ở. Vừa đi vừa nói chuyện, chúng tôi thăm hỏi về hoàn cảnh của nhau. Tôi nói với Hoàn:

– Cậu đưa tớ đi dạo chơi quanh khu này một lần, có thể lần chót, vì kỳ hành quân tới, tớ chắc không có mặt ở đây, nhất định tớ sẽ mang về một hình ảnh nào đó để cất vào trong “kho lưu niệm” của ký ức … Thôi đi he, nói thế chứ tùy cậu, đi dâu cũng được.

Hoàn cười, chúng tôi lên xe đi. Qua khỏi ba dẫy nhà để ở của công nhân viên khoảng trăm mét, tôi thấy có mấy cái ao (hồ nho nhỏ) rải rác bên đường, tôi cho xe quẹo vào một cái ao nhỏ và hỏi:

– Ao của ai vậy, có cá không, có bắt cá được không ?

Hoàn trả lời:

– Ao này không của ai cả, cá thì chưa biết có hay không nhưng bắt thì chả sao cả vì tớ chưa thấy ai bắt cá ở đây cả.

Hoàn nói tiếp:

– Ao này nguyên trước là những hố rộng lớn, khá sâu do Liên Đoàn Công Binh đào lấy đất làm nền nhà. Sau đó trời mưa ngập nước. Chả ai để ý đến nó, lâu ngày, cỏ cây mọc tùm lum. Có điều không ai bắt cá chắc vì ao nhiều đỉa lắm.

Tôi xuống xe, tới bờ ao, bẻ một nhánh cây, quậy quậy xuống nước. Chỉ một lát sau, mấy chú đỉa nhoi nhoi lên. Tôi bỗng nghĩ ra một kế hay hay nên mỉm cười nói:

– Tớ có cách, mình về nhà kiếm một cây tầm vông dài khoảng ba mét rồi lấy cái rổ cũ đã lủng đáy, và lấy vải quấn quanh vành rổ làm cái vợt vớt cá. Sau đó chúng ta trở lại ao, tớ lấy một cây tầm vông cũng dài khoảng 3 mét, quấy động thật mạnh ở một góc ao để cho cá chậy về góc có nhiều cỏ ẩn nấp như thế cậu lấy cái vợt cá chọc sâu xuống chỗ nhiều cỏ, nơi cá mới bị lùa tới rồi vớt lên … Cứ như thế thọc vợt vớt cá xuống dăm bảy lần chắc cũng vớt được vài chú cá.

Hoàn cười:

– Cũng hay đấy, thôi, cứ thử đi, không được thì thôi, đâu mất mát gì.

Sau hơn nửa tiếng, một người thọc gậy quậy lia lịa một góc ao, một người đưa vợt vớt lia lịa cũng vớt được mười mấy chú cá … Hình ảnh hai đứa bắt cá đã đưa chúng tôi về vùng kỷ niệm tuổi học trò ngày nào. Trên đường về nhà, hai đứa nói đủ mọi chuyện trong niềm vui khó tả.

Trở về nhà Hoàn, một căn phòng trang trí đơn sơ nhưng đủ tiện nghi cho một người độc thân. Chúng tôi bắt tay ngay vào việc đầu bếp. Tôi xung phong làm cá vì có biết gì về củi lửa đâu. Tưởng mình khôn, đẩy cái “khâu nấu nướng” cho bạn, đâu ngờ bạn ta phán rằng:

– Tao chỉ biết hai món trứng luộc và trứng chiên thôi. Bây giờ đổi món thành … cá luộc, cá chiên. Cá luộc thì tao chưa ăn bao giờ nên chỉ còn một món cá chiên thôi. Chỉ việc bắc chảo lên, đổ mỡ vào, cho cá vào, vặn lửa riu riu … Bắc ghế bên cạnh ngồi phì phèo điếu thuốc, lâu lâu ghé mắt nhìn để lật qua lật lại chú cá vài ba lần cho tới khi cá có mầu vàng thì gắp một miếng niếm thử chin chưa … là xong! Ngồi bên ánh lửa phì phèo điếu thuốc, khỏi phải làm cá, mùi cá tanh không chỉ dính vào tay mà còn ám lên mặt nữa …. hên quá. Bây giờ, tới lượt mày dọn bát đũa đi là vừa.

Một bữa ăn thật thanh đạm, rau muống luộc, cá chiên, nước mắm ớt, chanh tỏi, thế thôi mà sao ngon vô cùng. Vừa ăn vừa nói chuyện, nói hoài không hết, chuyện ngày xửa ngày xưa đến chuyên hôm qua, hôm nay. Nói đến chuyện hôm qua, hôm nay, ngoài miệng Hoàn nói cười tự nhiên nhưng trong ánh mắt, điệu bộ, tôi thấy dường như trầm lắng ưu tư. Bỗng Hoàn trầm hẳn giọng xuống:

– Cho tao hỏi một câu nhe.

Tôi gật đầu. Hoàn nói tiếp:

– Có khi nào mày mang tâm trạng ngong ngóng, nao nao, nửa muốn “nó” (?) đến ngay, nửa lại sợ, muốn trì hoãn “nó”, muốn kéo dài thời gian ?

Tôi suy nghĩ giây lâu rồi trả lời:

– Có, tao nhớ mãi cái lần thi rớt vấn đáp tú tài, phải chờ hơn hai tháng sau mới được thi lại. Lúc đó, tao có lúc chỉ muốn thi lại ngay, muốn ra sao thì ra, đậu rớt gì cũng chỉ muốn ngả ngũ ngay đi. Tao sợ phải kéo dài cái ngong ngóng đếm ngày giờ chờ “lên đoạn đầu đài oral” kia lắm! Rồi ngay sau đó lại nơm nớp lo sợ … sợ rớt “oral” lần nữa thì quê không thể nào tưởng tượng được. Thành ra, bị rớt vào cái tâm trạng khó chịu, hoang mang, nao nao kéo dài cả mấy tháng trời. Cho đến khi tin vui đến, tao mới thoát ra khỏi cái nao nao dằn vặt kia. Còn mày thì sao? Cái ngong ngóng của mày chắc ly kỳ lắm phải không?

Hoàn lắc đầu:

– Không, à đúng, nhưng thảm lắm ..

Hoàn nghẹn lời không nói tiếp được. Câu chuyện tự nhiên rơi vào lạc lõng chơi vơi. Để đánh tan bầu không khí im lặng khó chịu đó, tôi kể lại câu chuyện của Hỷ mới kể. Tôi nhắc lại thật chậm về con sông bé nhỏ không tên mà tôi đặt tên là “dòng sông an hòa”. Khi nghe đến tên đó, Hoàn giật mình, hai tay nắm chặt nhau như đang bị chấn động. Tôi vội hỏi:

– Có chuyện gì không vậy ?

Hoàn giọng nghèn nghẹn:

– An Hòa đó, cái tên An Hòa đó. Câu chuyện ngong ngóng, nôn nao đó …

Tôi lờ mờ hiểu có cái gì “đau” lắm liên quan tới cái tên An Hòa. Tôi đánh liều hỏi:

– Có thể kể cho nghe được không ?

Hoàn gật đầu. Hoàn nói bằng một giọng, tôi lại tự bảo là “tiếng xưa”, bởi nó trầm lắng và buồn man mác nhưng dài đến vô cùng …:

. . . . . . . . . .
Khoảng hai năm trước, tôi đến đây, khu Kỹ Nghệ An Hòa này để tập sự (kỹ sư). Cuộc sống bình thản và an hòa ở đây giống như cái tên An Hòa của khu Kỹ nghệ này. Thời gian tập sự lẳng lặng trôi qua. Tôi thu xếp hành trang về lại Sài Gòn để chuẩn bị kỳ thi ra trường và lễ tốt nghiệp. Chuyến bay về lần đó bỗng bị hoãn lại vì lý do thời tiết. Tôi phải ở lại thêm hai tuần vì đây là quận nhỏ không có xe ra tỉnh thường xuyên, hơn nữa, chuyến bay từ Sài Gòn ra Xứ Quảng này cũng không có khách đi nhiều nên đợi hai, ba tuần là chuyện thường.
Trong những ngày ở lại đó, tôi đi quanh khu xóm ghé thăm dân làng. Rồi một hôm, tôi vô tình gặp một cô bé tuổi đôi tám với những nét thật ngây thơ hiền hòa. Nàng tên An Hòa, cái tên như tính tình nàng, như nét êm đềm của cuộc sống nơi đây. Nàng đi học trên tỉnh và mới về đây thăm gia đình.
Lần đầu gặp gỡ ấy, dù thật ngắn ngủi, chỉ dăm ba câu thăm hỏi, nhưng tôi thấy có một cảm giác kỳ là đang … đột nhập hồn tôi. Ngày hôm sau tôi tìm đến thăm gia đình nàng. Chúng tôi ngừng lại ở những mẩu chuyện vu vơ thường tình. Và hình như, ánh mắt nàng, con tim tôi không muốn chúng tôi ngừng lại ở đó. Nhưng chúng tôi vẫn chỉ nhìn nhau im lặng nhiều hơn nói. Trong dăm lần gặp gỡ đó, hình như (lại hình như) cái “im lặng” ấy là “ngôn ngữ của tình đầu”. Hai đứa tôi gặp nhau ở giao điểm đó.
Ngày cuối cùng ở đây, tôi đến chào từ giã gia đình An Hòa. Nàng tiễn chân tôi đi thêm một đoạn đường. trong dáng ngơ ngác buồn, nàng hỏi:
– Có khi nào kỹ sư …
Tôi đưa tay lên chặn lại:
– Đừng gọi tôi như thế. Đã nói nhiều lần rồi mà vẫn cứ gọi như thế hoài sao !
Nàng lí nhí nói:
– Vâng, nếu anh cho phép thì xin gọi bằng anh.
Rồi nàng tiếp:
– Có khi nào anh nghĩ rằng anh sẽ trở lại đây không ? Còn An Hòa này chẳng bao giờ nghĩ rằng mình sẽ rời nơi đây. Gia đình Hòa từ đời ông cố bà cố đến đời Hòa, tất cả dính chặt với mảnh đất này. Anh biết không, hơi đất từ lòng đất tỏa lên, quyện lấy không gian, thời gian vào lòng người ở đây thành môt thể hòa hợp. Tình đất sưởi ấm, quấn vào tình người quyện lấy nhau …
Nàng ngừng giây lát rồi tiếp:
– Có khi nào anh cảm thấy như thế không ?
Tôi khựng lại nghi nghe nàng nói vậy. Lát sau, tôi nói nhỏ với nàng:
– Cho tôi trả lời sau nghe cô bé !
Rồi chúng tôi chia tay.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Rời khu Kỹ nghệ An Hòa, tôi mang câu nói của Hòa như đón nhận một luồng gió mới, một tia sáng long lanh kỳ ảo. Cũng từ đó, tôi mang tâm trạng “ngong ngóng nôn nao” mong chờ cái gì nửa muốn đến ngay, nửa lại sợ … thôi đừng vội đến.
Sau khi tốt nghiệp Kỹ sư Công chánh, tôi thư cho An Hòa, chỉ một câu thật ngắn. ngắn nhưng nghĩa thì trọn vẹn …:
“Tôi xin trả lời câu hỏi của Hòa. Cám ơn em đã cho tôi ý niệm về Tình Đất và Tình người. Vâng, tôi sẽ trở lại nơi ấy. Nơi ấy, nơi mà em đã khơi lên Tình Đất truyền vào người tôi và đem Tình Em truyền vào tình tôi … Vâng, tôi sẽ trở lại.”
. . . . . . . . . . . . .
Ngày nhận lệnh bổ nhiệm về Khu Kỹ Nghệ An Hòa, lòng tôi dậy lên một niềm vui trộn lẫn xao động. Tôi có cảm giác bần thần khó tả. Tôi cố dấu Hòa, cố dấu không cho nàng biết ngày tôi trở lại để dành cho nàng một bất ngờ.
Khi vừa đặt chân xuống nơi này, tôi nôn nao, không gian trước mặt mờ hẳn đi, tất cả nhừng chỗ cho hình ảnh của An Hòa đang đứng bên cửa … Hướng về ngôi nhà nàng, tôi bước đi quên cả gió lùa bên tai, quên cả có cây nghiêng ngả bên đường.
Tôi bước vào nhà nàng. Tôi đứng sững lại. Chân muốn sụp xuống. Trước mặt tôi, hương khói còn phảng phất trên mặt bàn có tấm hình nàng với tấm bài vị cạnh đó … Cái cảm giác vô vàn sung sướng mà tôi đã ôm ấp đã được đổi bằng những giọt nước mắt. Tôi đứng lặng người không biết bao lâu trước bàn thờ nàng. Tôi giật mình khi nghe tiếng mẹ nàng nói:
– Xin anh đừng buồn nữa. Phần số của cháu quá ngắn ngủi. Chúng tôi biết định mệnh khắc nghiệt nhưng …
Bà nghẹn lời không nói được nữa. Lát sau, bà đưa tay gạt nước mắt nói sụt sùi:
– Cám ơn anh đã cho cháu một niềm vui vô tận trước khi cháu ra đi. Lời cuối cháu nói xin nhắn lại anh là: “Xin tạ lỗi với anh. Anh Hoàn ơi, em không đón anh được. Anh có ấm lòng không … tình đất, tình anh và lá thư anh …” Rồi cháu ra đi trên môi còn dở dang nụ cười … Chúng tôi tìm trong tủ của cháu lá thư này. Bây giờ xin hoàn lại anh.
Bà đưa tôi lá thư rồi ngồi gục xuống ôm mặt cố nén tiếng nấc.
Tôi cầm lá thư mang đốt trước bàn thờ. Giọng tôi nghẹn ngào:
Anh gửi cho em và nó thuộc về em. Em ơi, chưa lần nào anh gọi em bằng tiếng em. Có chăng, chỉ trong thư này. Anh gọi em bây giờ có muộn lắm không ?
. . . . . . . .

Hoàn ngưng kể. ngồi xuống thẫn thờ. Lát sau nói tiếp:

– Bây giờ mày hiểu tại sao tao lại ở nơi này …

Tôi nói:

– Không phải chỉ riêng con người chúng ta mà còn với tất cả vạn vật, mọi sự được an bài và vượt lên trên những lý giải của tri kiến. Cám ơn mày rất nhiều, chuyện tình mày cũng đã khơi cho tao một ý niệm diệu kỳ về Tình Đất. À, cuộc hành quân tới, tao không trở lại đây nữa, không biết bao giờ tụi mình mới gặp lại nhau. Thôi cho gửi lời cầu chúc an lành đến mày và tất cả bạn bè chung quanh đây.

Từ đó, tôi không còn dịp trở lại Khu Kỹ Nghệ An Hòa, Đức Dục nữa và cũng không gặp lại Hoàn nữa.

. . . . . . . . . . . . .

Hoàn ơi, gần năm mươi năm rồi, tụi mình không gặp nhau. Cầu mong mày dù ở nơi nào trên quê hương hay xứ người, cũng tìm thấy được hơi ấm của Tình Đất và Tình Người. Còn tao, trong suốt cuộc đời, thì nơi tao đang ở này, thung lũng Auburn, tao gọi trại sang là “thung lũng u buồn” là nơi tao ở lâu nhất, hai mươi lăm năm, tao mới cảm nhận được Tình Đất quyện lấy Tình Người.

Share this post