Tố Quốc Là Gì Mà Em Phải Yêu, Phải Quý – Kính

Tố Quốc Là Gì Mà Em Phải Yêu, Phải Quý – Kính

(Trường Việt Ngữ La Vang) Từ ngày được giao cho dạy lớp lớn nhất trường, mỗi năm, cứ đến ngày 30/4, sau khi thượng kỳ và chào cờ,chúng tôi đều cố gắng dạy các em hiểu về Việt Nam. Năm nay, đa số học sinh đi cắm trại cùng TNTT, nên trước đó một tuần, chúng tôi dạy các em bài “TỔ QUỐC LÀ GÌ MÀ EM PHẢI YÊU PHẢI QUÝ”. Bài học có vẻ trừu tượng và hơi khó với các em nhưng thật không ngờ các em các em cũng hấp thụ phần nào bài học này.

Trong lớp học, chúng tôi cố gắng giảng cho các em hiểu rõ hai từ QUỐC GIA và TỔ QUỐC cùng Cờ Vàng (Ba Sọc Đỏ) và Cờ Đỏ để các em đừng nghĩ rằng Hoa Kỳ là tổ quốc của các em dù các em được sinh ra và lớn lên tại nước Mỹ này. Các em có thể mang quốc tịch Hoa Kỳ, Pháp, Anh hay bất cứ quốc gia nào nhưng các em chỉ có một Tổ Quốc Việt Nam.

Cờ Vàng dù không còn bay trong nước hay nặng hơn là đã “chết” nhưng chưa chôn, đang phất phới bay khắp thế giới để nói lên khát vọng tự do dân chủ của người Việt.

Cờ Đỏ dù đang sống nhưng đã chôn vì vậy lá cờ Đỏ này dù được tuyên truyền cách mấy vẫn chỉ được tạm thời treo trong nước và chỉ được treo trong một góc kín đáo nào ở nước ngoài.

Người Việt chúng ta, vì nhiều lý do khác nhau, đã phải rời xa quê hương để đi đến một vùng đất mới và đó là quốc gia chúng ta định cư, chứ đó không phải là TỔ QUỐC của chúng ta. Sau nhiều năm sống và hội nhập vào cộng đồng xã hội tại quốc gia mới này; chúng ta trở thành công dân của “quốc gia định cư”; có công ăn việc làm ổn định, lập nghiệp, xây nhà, sinh con đẻ cái, lẽ tất nhiên chúng ta có tình cảm gắn bó với nơi chúng ta đang ở và chúng ta gọi đó là “quê hương thứ hai”, tuy nhiên quốc gia này vẫn không thể nào gọi đó là TỔ QUỐC, vì đất nước đó không phải là đất nước do TỔ TIÊN của chúng ta để lại.

Bài học lich sử năm nào chúng ta đươc học ‘Tổ quốc là gì mà đời mình phải nhớ, đời sau phải giữ?” (Nguyễn Phi Khanh 1335 – 1428) khi kháng chiến chống quân Minh xâm lược nước Việt bị bắt, giải qua biên giới chịu tội đã quay lại dặn Nguyễn Trãi (1380 – 1442) rằng hãy quay về tìm cách diệt giặc cứu giang sơn. Trong Hận Nam Quan của nhà thơ Hoàng Cầm có hát lại lời xưa: Về ngay đi, ghi nhớ hận Nam Quan./ Bến Kim Lăng cho đến ngày nhắm mắt,/ Cha nguyện cầu con lấy lại giang san (lời Nguyễn Phi Khanh dặn con là Nguyễn Trải khi Ông bị đày qua Ải Nam Quan).

Vậy TỔ QUỐC là gì? Là một dải giang sơn mà TỔ TIÊN đã xây dựng, tô bồi, gìn giữ từ bao đời trước và để lại cho con cháu. Chúng ta là người Việt Nam. TỔ QUỐC của chúng ta là đất nước Việt Nam. TỔ QUỐC của chúng ta là một đất nước đã tồn tại nhiều ngàn năm trước khi chúng ta được sinh ra trên chính đất nước Việt Nam này. KHÔNG AI CÓ THỂ CHỌN TỔ TIÊN CỦA MÌNH, Chúng ta được sinh ra và thừa hưởng ĐẤT NƯỚC mà TỔ TIÊN của chúng ta để lại.

Tổ tiên chúng ta đã để lại gì mà chúng ta phải cố gắng giữ gìn và truyền đạt lại cho thế hệ sau. Tại sao chúng ta cố gắng dạy các em học tiếng Việt trên đất nước tạm dung này.

Ở xã hội này, Làm sao chúng ta có thể giải thích cho các em hiểu câu chuyện Con Rồng Cháu Tiên và một đôi vợ chồng lại đẻ ra 100 trứng trong một “bào thai”? Đó là huyền thoại để ghi nhớ, để tìm hiểu về một quê hương có thật – mà dù lạ lùng đến thế nào chúng ta phải chấp nhận, phải giữ gìn, vì đó là nơi ông cha chúng ta sinh ra, và vì thế chúng ta có hai tiếng “ĐỒNG BÀO”

Tại sao chúng ta lại phải “call in sick” vào những ngày ĐẦU NĂM ÂM LỊCH, nghỉ chẳng làm gì, chỉ cần gọi nhau chúc Tết, chúc mừng năm mới hay bạn bẻ gặp nhau ở một tiệm café hay quán ăn nào đó chỉ để tán dóc dăm ba câu chuyện, thế thôi. TẾT trong đời sống Việt xa quê, chỉ là dịp để gặp lại, để nhớ, để kết nối trong trí nhớ những ràng buộc mơ hồ về quê hương – mà đôi khi phải cố quên, nhưng thật dễ bùng lên thương nhớ.

Ngày xưa đọc sách của nhà văn hoá Nguyễn Hiến Lê, trong Bài Học Do Thái, điều mà mỗi người Do Thái cầu nguyện trước bữa ăn hay chào nhau, đều là “năm sau về Jerusalem”. Con cháu của những kẻ mất quê hương đó luôn được nghe và dạy nói như vậy, để biết và nhớ rằng mình có một tổ quốc. Với lịch sử hơn 2.000 năm không tổ quốc của người Do Thái. Tổ quốc – đất mẹ, là sự khắc khoải, là giấc mơ tìm về không ngừng nghỉ của nhiều thế hệ. Từ những năm 60 trước Công nguyên, bị đế quốc La Mã xâm lược và xoá tên khỏi bản đồ thế giới, người Do Thái đã lưu lạc khắp nơi, và dù thành đạt ở đâu, đã quần tụ nơi nào… họ vẫn khát khao dựng lại quê nhà. Thật tuyệt vọng và viển vông với những người Do Thái góp tiền mua lại đất đai ở Palestine, dọn về xây dựng từ khô cằn và hoang mạc. Từ thế kỷ 19 đến sau Đệ Nhị Thế Chiến, đến năm 1948 người Do Thái mới có cơ hội reo mừng dựng cờ trên đất mẹ, dù chung quanh đầy những quốc gia với tình trạng thù địch. Hôm nay, câu chào “năm sau về Jerusalem” vẫn được nhắc lại như một ký ức kiêu hãnh độc tôn của một dân tộc không từ bỏ tổ quốc của mình, dù trải qua ngàn năm quay quắt mong đợi.

Người Việt Nam chúng ta thì sao? Bao giờ thì “Tầu đưa ta đi, tầu sẽ đón ta hồi hương Việt Nam (Tây Đô) sẽ sống lại yêu thương”

Thú thật là qua nhiều năm, chúng tôi vẫn không thể nào giải thích được trọn vẹn về ý nghĩa “Tổ Quốc”. Nhưng trong trí tưởng tượng, chúng tôi nhìn thấy đó là một ngôi nhà chung của bà mẹ Việt đã sinh ra rất nhiều đứa con ở khắp mọi nơi. Có người tốt, có người xấu, có minh quân cũng có bạo chúa (Lê Long Đỉnh), như trong câu hát Mẹ năm 2000 của nhạc sĩ Phạm Duy, có đứa đã là bạo chúa, có đứa là kẻ hèn nhát và tham lam như người Cộng Sản hôm nay muốn bán đứng chính ngôi nhà của mẹ mình… nhưng dẫu thế, những đứa con còn lại rồi sẽ chung tay dựng lại, làm lại từ đầu. Chiến thắng sau cùng rồi sẽ tới để rồi chúng ta sẽ phải

Ươm mần sống tên đồng hoang đất chết
Dựng ngày mai trên tàn phế đau thuơng

dù là tro tàn. Ngôi nhà đó – đất mẹ – và anh chị em chúng ta gọi chung một tên là TỔ QUỐC VIỆT NAM. Xin đừng dạy các em Hoa Kỳ là Tổ Quốc của các em và, Hoa Kỳ là Tổ Quốc của những người Da Đỏ đã ở đây từ hàng ngàn năm trước.

Kính



Share this post