Tôi Học Võ – Lê Văn Phúc

Tôi Học Võ – Lê Văn Phúc

Trong chúng ta, mỗi người theo học Vovinam bằng một phương cách khác nhau. 

Có người bị cha mẹ bắt buộc đến võ đường để tập võ. Vì cha mẹ ý thức rằng việc huấn luyện thân thể để có một trình độ võ thuật là điều cần thiết, nhất là đối với con trai. Để lớn lên không bị ai bắt nạt. Hai nữa, học võ khoẻ người.

Có người học võ vì ham thích môn quyền thuật đấm đá coi bộ như tài tử phim ảnh, rất hiên ngang, anh hùng mã thượng cứu khốn phò nguy.

Có người chỉ vì bạn bè rủ rê mà đến lớp võ để học dăm ba miếng võ, như ta đây cũng võ nghệ chứ bộ!
Có người thấy mình nhỏ bé, yếu đuối cần học võ để thân thể tráng kiện, để có thể tự vệ hữu hiệu khi cần đến.

Có người học võ chỉ vì ở gần trường võ, ngày ngày nhìn thấy thanh niên, thiếu nữ tập luyện rất hăng say, quyết liệt nên thích mà theo.

Có người chẳng ai rủ rê khuyên nhủ, chẳng ai bắt ép đến võ đường, cũng chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện tập võ, mà lại trở thành một môn đệ của Vovinam tính đến nay đã trên 50 năm rồi!

Thưa các bạn, người ấy là tôi!

CÁI LÝ CỦA KẺ MẠNH!

Cũng giống như các bạn, tôi học Vovinam nhưng học trước các bạn thôi. Từ đầu thập niên 1950, tôi đã học võ với võ sư Nguyễn Lộc trên một căn gác đường Hàng Trống Hà Nội.

Lý do theo học, dản dị là vì bị kẻ lớn bắt nạt.

Thuở ấy, tôi trọ học tại đường Hàng Trống Hà Nội và theo học bậc trung học trường Nguyễn Trãi.

Một bữa, đạp xe ven Hồ Hoàn Kiếm, tôi bị một chàng thanh niên lớn con lái xe đạp bỗng dưng chèn ép khiến tôi té bổ nhào trên đường xe điện. Anh chàng này chỉ đùa chơi thôi, vừa cười vừa đạp tiếp, còn ngoái cổ lại cười xem tôi đang bò lê bò càng…Tôi giận lắm, rút được chiếc khoá xe đạp ra thì anh chàng đã đi mất hút rồi.

Đây là lần thứ nhất trong đời, tôi bị kẻ lớn ăn hiếp, bắt nạt.

Không biết than thở cùng ai, tôi đem chuyện mình ra nói với anh bạn đồng lớp, ở cùng nhà là Nguyễn An Gia. Gia hỏi tôi có muốn học võ để tự vệ không? Tôi đáùp là rất muốn. Gia đưa tôi lại nhà ông thầy dậy võ, cũng là người trong họ của anh.

Người ấy chính là võ sư Nguyễn Lộc, thầy dậy tôi sau này.

NHẬP MÔN!

Chúng tôi phải chờ hơn nửa năm mới có lớp. Gọi là lớp nghĩa là phải chờ có ít nhất 6 đến 8 người mới thành một lớp. Sở dĩ chớ lâu vì người ghi danh thì có mà người đến học thì lèo tèo, họa hoằn mới có một học sinh theo cha mẹ đến xin học.

Gia và tôi học không mất tiền vì được coi là… người nhà!

Phần tôi, thỉnh thoảng ở Hải Dương có gạo thơm hay trái ngọt thơm lành nào đặc biệt thì bố mẹ tôi lại gửi lên Hà Nội để cậu cả đem biếu thầy.

Những môn sinh khác, không biết học phí bao nhiêu nhưng theo tôi đoán thì hình như phần đông đều học…miễn phí!

Không hiểu thầy cứ dậy võ như thế thì lấy gì để mà sinh sống?

Một lớp chỉ thu nhận từ 6 đến 8 người là nhiều, vì phòng tập chính là phòng khách nhỏ trong nhà. Khi nào dậy võ thì thầy cất bàn ghế sang phòng khác, dùng phòng khách làm phòng tập. Phòng này đâu chừng mỗi bề lối 6-7 thước, sàn xi măng, quanh là tường gạch, vài thứ đồ đạc lỉnh kỉnh.Mỗi tuần tập 3 buổi, mỗi buổi chừng 1 tiéng rưỡi đồng hồ. Võ sinh mặc quần xà lỏn, cởi trần, chân đất . Sàn xi-măng trơn, không trải mền nệm gì cả. Thầy mặc bộ đồ tây mầu xanh lơ, bó gọn, áo ngắn tay. Thầy ngồi trên chiếc ghế mây lớn, giang hai tay trên hai thành ghế nom rất oai nghi. Đặc biệt là đôi mắt của thầy sáng quắc, ai thấy cũng nể vì.

Sau những phút tập cho nóng người, thầy dậy các đòn tay, đòn chân, quăng quật. Mỗi khi thầy gọi anh nào ra để làm mẫu cho thầy đánh thử thì anh ấy coi như trúng số. Tôi quên chưa nói là thầy đi giầy tây, đế da cứng. Khi thầy dậy đòn chân, tôi sợ không thể tả được, vì có bữa tôi đứng thế thủ, thầy bất thần nhẩy lên đạp một cái vào ngay ngực, tôi té bổ nhào, mắt hoa đầu váng. Vết giầy tây in hằn nguyên con trên ngực bầm đỏ, lấm bét.

Thầy không nói gì, trở về ghế ngồi theo dõi các học trò tập đòn đó suốt buổi.

Có những khi chúng tôi quăng quật hơi mạnh tay hoặc trơn trượt, văng mình đập vào góc nhà, vào tường, nằm lịm đi luôn. Thầy cũng không thắc mắc.

Vài tháng lại có một môn sinh xin nghỉ, không phải là anh bị té đau mà là anh nhìn thấy bạn té nguy hiểm, hãi quá xin thôi học!

Lớp học dần dần thu hẹp lại và từ từ dồn sang lớp khác cho đủ bộ 6 hay 8 người.

Ngoài giờ học võ ở phòng tập cạnh Đền Hàng Trống, chúng tôi còn rủ nhau ra bờ sông Hồng Hà trước Viện Bảo Tàng, trải bạt ra tập trên cát. Tập trên cát khác với tập trên đất hay trên xi-măng, nghĩa là không được nín thở khi té đập lưng, đập ngực xuống cát. Sức ép sẽ làm cho mình tức ngực khó thở hơn là không giữ hơi.

Thầy Nguyễn Lộc thỉnh thoảng ra bờ sông Hồng Hà, nhìn xuống bãi thấy mấy môn sinh thao dượt hẳn lấy làm hài lòng lắm. Phần nhiều, thầy ngó xong bỏ đi, lâu lâu thầy ghé thăm an ủi, khen vài câu ngắn ngủi rồi về.

Sau một thời gian, gia đình thầy dọn về đường Hàng Vôi tại một ngôi nhà khang trang, để một phòng lớn làm phòng tập. Phòng này hình chữ nhật, lát đá hoa nhẵn bóng. Thoạt đầu, môn sinh ai cũng thích vì có nơi tập khang trang rộng rãi. Nhưng chỉ ít bữa sau chúng tôi mới kinh hoàng vì cái tác dụng của sàn đá hoa nó nguy hiểm đến thế nào.

Sàn nhà khi khô ráo đã trơn, còn khi các võ sinh tập một lúc mồ hôi nhễ nhại dính bê bết xuống sàn thì sàn trở nên trơn còn hơn mỡ. Môn sinh vẫn phải tập dượt trên sàn đá hoa đó hết buổi, không lau chùi, không dọn dẹp gì cả. Mỗi khi đánh đòn tay, đòn vai, đòn hông thì tương đối không mấy nguy hiểm, có thể còn chống chế được. Nhưng khi đánh đòn chân quặp cổ, nhẩy từ xa phóng lên đầu thì khó tránh được trơn trượt hoá nên ngã té rất đau.

Hình như ông thầy cũng không quan tâm gì mấy đến những trở ngại ấy cả!

Chưa hết, đến khi thầy đổi đòn thế, cho môn sinh biết bữa ấy không tập nhiều, chỉ chừng hơn nửa tiếng đồng hồ thôi thì mọi người đều cười vui, coi như trúng số.

Thầy cho môn sinh xếp một hàng nối đuôi nhau thành vòng tròn quanh phòng tập. Mọi người để hai tay vào bên hông, ngồi thấp xuống rồi nhẩy cóc. Thoạt đầu, không có chi khó khăn mệt nhọc, nhưng chỉ dăm phút sau, chân ai cũng cứng lại, mặt tái nhợt, hơi thở phì phò…Thầy vẫn bình tĩnh ngồi trong ghế mây, khùynh hai tay, mắt không rời các môn sinh đang khốn khổ với môn nhẩy cóc.
Được chừng 15 phút, thầy cho nghỉ giải lao, Rồi lại nhẩy tiếp cho đến khi tan học.

Bọn chúng tôi khập khiễng, bò càng leo lên xe đạp về nhà. Nơi tôi trọ học lại ở trên gác nên tôi phải lết từng bậc mới lên được nhà trên.

Sau chúng tôi mới biết đó là phương cách luyện tấn, cho cặp chân mạnh và cứng cáp.

Nhưng không hết sợ!

VỀ MIỀN NAM

Năm 1953, khi còn đang học tại trường Nguyễn Trãi Hà Nội thì tôi được lệnh trưng binh. Bố tôi hãi quá, sợ con mình đi Điện Biên Phủ nên chạy trước cho tôi vào đất Hoàng Triều Cương Thổ làm lính Ngự Lâm Quân của Đức Quốc Trưởng Bảo Đại. Vào đây là đeo chữ Thọ rồi, không còn nghe bom đạn ì ầm, chết chóc.

Tôi làm việc tại Phòng 5 dưới quyền chỉ huy của Đại úy Dương Thiệu Sính – dòng dõi của cụ Dương Khuê – từng là chánh án, cầm kỳ thi họa đủ mùi ca ngâm, anh em nhà lính chúng tôi rất yêu kính.

Công tác chính của chúng tôi là phụ trách Chương Trình Tiếng Nói Ngự Lâm Quân, mỗi tuần phát thanh 45 phút trên làn sóng điện đài Dalat mỗi chiều Thứ Năm. Cũng đủ các mục tin tức thếgiới, tin tức trong nước, tin tức điạ phương, bình luận. Lại còn có cả những mục phỏng vấn, nhạc yêu cầu, thi nhạc giao duyên rất ư hấp dẫn.

Anh em nhà lính chúng tôi còn dựng cả kịch thơ, nhạc cảnh, hợp ca, song ca để đi trình diễn các tỉnh trên cao nguyên và miền duyên hải. Đến đâu cũng được đón tiếp và hoanh nghinh nhiệt liệt vì thuở ấy ít có khi nào mà tỉnh lỵ lại có biến cố như thế!

Ngoài công tác chính ra, tôi còn có một nghề khác ít ai sánh kịp: Aáy là dậy võ!

Hồi ấy, trong Ngự Lâm Quân có một đại đội cận vệ Đức Quốc Trưởng Bảo Đại, thường bảo vệ ngài mỗi khi di chuyển hoặc đi săn.
Bộ tham mưu muốn có một võ sư để huấn luyện cho đoàn cận vệ này, mới ra thông tư đến các đơn vị trực thuộc xem ai có khả năng thì trình diện hoặc tiến cử người hùng.

Anh em Phòng 5 nhất loạt khuyên tôi nên ra tay gạo xay ra cám, cho mọi người biết mặt biết tên, cho nổi danh Phòng 5 NLQ/Dalat! Tôi nghe cũng bùi tai nhưng chưa dám nhận.

Tôi còn phải hỏi sư phụ tôi trước đã.

Tôi lần mò về Saigon, đến trường kỹ thuật Cao Thắng là nơi gia đình thầy tạm trú khi di cư vào Nam. Tôi trình bầy mọi việc, nói rằng theo ý tôi thì không dám nhận công tác này vì khó khăn, lớn lao quá so với sức học của mình.

Tôi cũng xin nói ngay rằng, hồi chúng tôi học võ thầy Nguyễn Lộc, chúng tôi được phép xưng hô, gọi thầy bằng Anh xưng em.

Thầy Nguyễn Lộc tỏ vẻ không vui, nghiêm mặt mà rằng:

Tại sao lại không? Em đã học mấy năm rồi, thừa sức đạy các lớp nhập môn. Đối với các quân nhân, em có thể thay đổi đòn thế để dậy họ những thế chiến lược khi có vũ khí trong tay, khi đeo ba-lô xung kích. Em cũng có thể tự soạn thảo một chương trình giảng dậy miễn sao cho phù hợp và gây hứng thú cho các học viên. Em có dư khả năng để làm công việc đó!

Tôi cúi đầu xin vâng lệnh.

Trở lên Da Lat, tôi chính thức được gọi là Huấn Luyện Viên Vovinam của Đại Đội Cận Vệ Đức Quốc Trưởng Bảo Đại, mỗi tuần huấn luyện võ thuật cho mấy chục cận vệ tại sân cỏ trước Toà Thị Chính.

Không bao lâu sau, tôi được biết một Huấn Luyện Viên Vovinam khác cũng đang có mặt tại Trung Tâm Huấn Luyện Trạm Hành/Dalat. Đó là võ sư Trần Đức Hợp.

Cũng trong năm 1954, Hợp và tôi đã biểu diễn Vovinam trên sâu khấu ọp ẹp của Trung Tâm Huấn Luyện NLQ tại Trạm Hành, với thành phần quan khách bên hành chánh cũng như quân sự tham dự và được nồng nhiệt tán thưởng.

ĐƯỜNG LÊN SƠN CƯỚC!

Năm 1955, vì tình thế chính trị quân sự đổi thay, Ngự Lâm Quân giải tán và các đơn vị được phân tán mỏng đi các đơn vị, phần lớn là ở vùng cao nguyên và duyên hải.

Tôi lên Banmethuot, làm việc tại Phòng 5 Bộ Tham Mưu Đệ Tứ Quân Khu. Ngoài công tác nhà binh, tôi cũng tổ chức một lớp võ bỏ túi đâu chừng chục anh em nhà binh, tập ngoài trời trên một khung gỗ trải mạt cưa, phủ bao bố may lại. Võ phục là quần áo trận. Bữa nào nắng ráo thì tập, bữa nào mưa thì nghỉ khoẻ. Được chừng 1 năm, chúng tôi cũng đem nhau lên sân khấu rạp hát tỉnh để biểu diễn vài đường Vovinam cho bà con trong tỉnh coi. Được hoan nghênh nhất vẫn là những đòn chân.

Năm 1956, tôi được giải ngũ sau khi đã lạy lục cầu cạnh Phòng Một để được sổ lồng.

Tôi về Sai Gon rồi theo ông anh nuôi là Ls Đinh trịnh Chính sang PnomPenh làm việc tại Toà Đại Diện Việt Nam Cộng Hoà tại Cam Bốt.

Tôi cũng lại mở lớp Vovinam nhưng chỉ có một học trò duy nhất. Người ấy là cậu Jean, con nuôi ông Đại Diện, vóc dáng to gấp 3 tôi, cao cỡ 1 thước 80, nặng khoảng 80-90 ki lô. Nếu cậu đi trước mà tôi đi sau thì không ai trông thấy tôi đâu cả! Cậu Jean cũng có đai nâu Judo. Tôi không dạy được cậu về môn này vì khi ra đòn ôm cậu thì tôi chẳng khác gì con nhái bén ôn cái cột khổng lồ. Nhưng tôi biểu diễn nhào lộn trên sàn đá, trên đường đá răm, bất cứ chỗ nào mà không cần phải có thảm dầy hay mặt phẳng êm.

Cậu chịu là tôi có tay nghề nên theo học Vovinam, Nhu Thuật.

Từ ngày rời khỏi lớp Vovinam đường Hàng Vôi, tôi vẫn theo đuổi nghiên cứu, tập luyện thêm một số môn võ khác nên cũng tạm đủ để huấn luyện tân môn sinh.

Sau 1 năm, tôi quyết định trở về Saigon đi làm công chức và theo học lớp Khuyến Học Bổ Túc để thi bằng Tú Tài I. Đậu xong, xẩy ra Tết Mậu Thân, tôi lại được lệnh Bộ Quốc Phòng kêu học khoá 16 Thủ Đức.

Tôi là cựu quân nhân, Bộ Quốc Phòng muốn tôi vào lính thì phải ra lệnh cho tôi tái ngũ trưóc đã. Rồi tôi có muốn đi học lớp sĩ quan hay không là tùy tôi. Không có luật nào buộc tôi nhập ngũ khi tôi đã là cựu quân nhân cả.

Nhưng thời kỳ ấy là thời kỳ xáo động. Đến ngay như phiá nữ giới mà còn bị gọi đi Thủ Đức nữa là. Số là Bộ Tổng Tham Mưu dùng máy điện toán không có dấu nên chạy một loạt các danh sách, hễ ai có Tú Tài I trở lên là đều phải ca bài Ta đi tòng quân vì “Đường vào quân trường là đường về quê hương…”

Thế nên mấy bạn tôi là Dược Sĩ Bùi thu Hằng, Lê Hoàng Yến, Trần Băng Tâm thuộc nữ giới bị gọi đi lính đều than trời như bọng, phải cấp tốc xin Bộ Quốc Phòng điều chỉnh tình trạng quân dịch!

Tôi vào Thủ Đức, sau vài tháng được chọn để theo học ngành Quân Như nên coi như yên thân, không phản đối gì nữa. Đi lính thêm 4 năm nữa có sao đâu!

Ra trường, tôi được chọn về Cục Quân Nhu. Ở đây, tôi mở một lớp Vovinam, môn sinh khoảng hơn chục người từ Trung Tá Cục Phó dến hàng binh sĩ. Tất nhiên lớp học miễn phí. Anh em chỉ đóng tiền tượng trưng chút đỉnh để mua chuối và uống nước trà đường sau khi tập.

Mọi người học tập chuyên cầøn, vui vẻ. Duy có cụ bà chủ câu lạc bộ than phiền là từ khi có lớp võõ, mấy chú em Trung Sĩ ăn khoẻ quá, nhiều bữa hết cả cơm lẫõn thức ăn làm cụ lỗ vốn! Nhưng cụ thông cảm, thanh niên sức dài vai rộng í mà, lương tháng được bao nhiêu nên cụ không tăng tiền ăn.

VOVINAM-VIỆT VÕ ĐẠO?

Trong khi ở lính nhưng đóng tại Sai Gon nên tôi cũng thường xuyên tham gia những công việc của môn phái.

Tôi được biết môn phái do nhiều khối óc và bàn tay gom sức lại đã chấn chỉnh được nhiều vấn đề quan trọng.

Danh xưng Vovinam được thêm vào thành Vovinam-Việt Võ Đạo, chú trọng và hướng đến Võ Đạo là mục đích cao cả hơn để đào luyện các môn sinh lên một trình độ cao hơn Võ thuật.

Tại sao không bỏ chữ Vovinam đi ? Có người nêu thắc mắc này. Dùng chữ Việt Võ Đạo có phải dản dị, dễ hiểu không?

Ý kiến đó rất hữu lý nhưng đại gia đình muốn giữ danh xưng nguyên thủy, xuất phát của môn phái do thầy Nguyễn Lộc đề xướng nên dùng cả hai là Vovinam-Việt Võ Đạo. Đối với người ngoại quốc, nếu ngại đọc cả hai chữ thì cứ đọc một chữ Vovinam thôi cũng được rồi! Vì đó là danh xưng quốc tế mà thầy Nguyễn Lộc đã tiên đoán có lúc dùng đến.

Thập niên 1960, môn phái đã có những thay đổi quan trọng như: Tổ chức có hệ thống, lập đai đẳng và võ phục, lập các Trung Tâm Huấn Luyện, phát triển Vovinam trong học đường, trong Quân Đội, tại các tỉnh trên toàn quốc…

Thập niên 1970, Vovinam đã hiện diện tại một số quốc gia bên Aâu Châu, nhất là tại nước Pháp.

Tháng Tư năm 1975, miền Nam lọt vào tay cộng sản. Đó là cái tang chung cho cả dân tộc Việt Nam nhưng lại là cơ hội ngàn năm một thuở để môn phái Vovinam-Việt Võ Đạo bộc phát tại hải ngoại.

Một số môn đồ thoát được ra nước ngoài, hầu hết đều nghĩ ngay đến chuyện mở võ đường. Võ đường lớn hay nhỏ không thành vấn đề, miễn là có mở lớp. Người thì mở võ đường ngay trong ga-ra nhà mình. Người thì xin một phòng tập tại trường học. Người thì thuê mướn một chỗ nhỏ…Số môn sinh dăm ba người, một hai chục người cũng không phải là vấn đề. Vấn đề là trang trải tiền thuê mướn mà người mở lớp phải cáng đáng.

Tôi có nhận xét là với các môn phái khác, họ mở võ đường với mục đích quảng bá môn võ của họ đã đành, mà còn để kiếm lời nữa, nếu không muốn nói là họ sống bằng nghề dậy võ.

Đối với môn phái Vovinam, không biết có phải là theo một truyền thống hay không, nhưng tôi nhận thấy rằng từ xưa đến nay, không có ai mở võ đường để nhờ lợi tức đó sinh sống cả. Trái lại, hầu hết người mở lớp Vovinam đều xuất tiền túi ra dể trang trải các chi phí cần thiết. Các võ sinh chỉ phụ giúp một phần rất nhỏ trong việc may sắm võ phục, gìn giữ vệ sinh trong võ đường mà thôi.

Chỉ nhìn sơ qua như vậy đã thấy là chúng ta họat động có lý tưởng, có chủ đích đào tạo các môn sinh nên người hữu dụng mà dành hầu hết thời giờ, tiền bạc, công sức cho lý tưởng đó!

Sự nhiệt tình và dâng hiến cao đẹp ấy, phải chăng chỉ thấy ở môn phái chúng ta?

Sau 30 năm ở hải ngoại, hàng trăm võ đường đã mở tại các nước ở Mỹ, ở Uc, ở Au Châu, ở Phi Châu và lan rộng đến cả các nước trong khối Liên Sô cũ.

Riêng tại Việt Nam, môn phái đã hiện diện trên toàn quốc và đang sinh hoạt rất mạnh mẽ, tích cực, gây được một uy thế đáng kể.

KHÔNG CÓ DANH NGÔN!

Năm 1960, thầy Nguyễn Lộc từ trần sau một thời gian nhuốm bệnh nan y. Thầy mất ở tuổi 48, còn quá trẻ đối với một đời người, nhất là đời người sáng tạo ra môn võ Vovinam có cả triệu môn đồ trên toàn quốc.

Là một trong các môn sinh gần gũi với thầy, tôi nhậân thấy ở thầy là người nghiêm túc, chuyện trò thân mật nhưng ít nói.

Chỉ có một lần, tôi nghe thầy tâm sự: Thầy muốn đào tạo một số huấn luyện viên -không dùng chữ võ sư – khi đủ trình độ thì phân tán về các tỉnh lập võ đường. Đó là mục tiêu gần nhất và là chủ đích của thầy muốn nhắm tới. Thầy không trông mong ở ai mà bằng chính sức mình, bằng những môn đệ gần gũi với thầy.

Thầy cũng chưa bao giờ phát biểu một câu nói nào gọi là danh ngôn để lại cho đời lấy đó làm khuôn vàng thước ngọc cả.

Tôi đã hỏi cả võ sư Chưởng Môn Lê Sáng và cũng được võ sư Chưởng Môn xác nhận như thế!

Nếu các thế hệ chúng tôi gần gũi với thầy sáng tổ mà không hay biết gì về những danh ngôn thì xin các thế hệ nối tiếp đừng ai tự nghĩ ra rồi pha chế lại để dựng thành những danh ngôn, nói là Lời của Võ Sư Sáng Tổ đã nói rằng….

Xin các bạn thận trọng điều đó.

NHỮNG CƠ CẤU CĂN BẢN

Song song với những hoạt động khắp nơi, chúng ta đã ý thức được sự cần thiết phải có những cơ cấu pháp lý để kiện toàn vấùn đề tổ chức.

Đại hội năm 1996 tại Pháp quốc đã hình thành 2 cơ cấu căn bản để làm nền tảng cho sinh hoạt của môn phái. Đó là:

– Hội đồng Võ Sư Lãnh Đạo Môn Phái
– Và Tổng Liên Đoàn Vovinam -Việt Võ Đạo Thế Giới

Nhắc lại, Hội Đồng VSLDMP là hệ thống võ thuật và võ đạo, với Ban Thường Trực gồm 1 Tổng Thư Ký và 4 Uûy Viên (năm 1996). Ban Thường Trực có nhiệm vụ đại diện Hội Đồng để thi hành và điều hợp các quyết định.

Tổng Liên Đoàn VVN-VVĐ/TG là hệ thống pháp lý và hành chánh, gồm các Chủ Tịch Liên Đoàn Quốc Gia, với một Ban Chấp Hành gồm:1 Chủ Tịch, 2 Phó Chủ Tịch, 1 Tổng Thư Ký và 1 Thủ Quỹ.

Cả hai cơ cấu trên đều có nhiệm kỳ 4 năm.

Cho đến nay, chúng ta đã dựa vào tổ chức này để sinh hoạt môn phái.

Năm 2003, trong dịp sang Mỹ thăm các môn đệ và các võ đường, sau khi họp bàn với các võ sư niên trưởng, Võ sư Chưởng Môn Lê Sáng đã chính thức nhận chức vụ Chủ Tịch và Cố Vấn Tối Cao của Hội ĐồngVSLĐMP

Từ đó, cứ mỗi 4 năm chúng ta lại tổ chức Đại Hội Thế Giới một lần để bầu lại các chức vụ trong hai cơ cấu trên.

Năm 2004, Đại Hội diễn ra tại Houston, Texas vào cuối tháng 7.

BẤT ĐỒNG CHÍNH KIẾN!

Tôi tuy già nhưng rất thích tinh thần cởi mở đóng góp của lớp trẻ. Trẻ đây là lớp tuổi từ 20 đến 60! Tôi không căn cứ vào tuổi đời hay tuổi võ để làm con ngáo ộp dọa đồng môn. Bất cứ ai có ý kiến đóng góp, dù đúng hay sai, phải hay trái tôi đềøu ghi nhận, suy nghĩ để tìm một giải đáp sao cho hợp tình hợp lý.

Tôi tôn trọng và hoanh nghênh ý kiến của đồng môn.

Tôi rất mừng nhận thấy trong môn phái, ai cũng hăng hái, nỗ lực tìm kiếm những giải pháp, đưa ra những đề nghị để chấn chỉnh nội bộ, phát huy tinh hoa võ đạo.

Chúng ta đang sống trong một thế giới tôn trọng tự do, dân chủ nên cũng phải tôn trọng những nguyên tắc căn bản đó.

Bởi thế, mỗi khi đưa ra một đề nghị nào, chúng ta nên suy nghĩ cho chín chắn, lập trường cho vững vàng, trình bầy cho minh bạch, chỉ nhắm vào tụ điểm của vấn đề để bàn luận, tranh luận chứ không bàn đến chuyện bên lề, vừa lạc đề vừa không thích hợp.

Điều quan trọng hơn hết là thái độ tương thân, tương kính.

Môn phái chúng ta từ khởi thủy đã sẵn có tinh thần ấy. Trong anh em chúng ta, không một ai mong cầu cái lợi, không một ai cầu danh và ham danh. Chúng ta còn nghĩ đến Vovinam la còn muốn đóng góp.

Đóng góp theo phương cách nào để vừa đưa tới chủ đích, vừa đẹp lòng nhau trong tình thân ái một nhà mới thực là tốt đẹp và có ý nghĩa.

Tôi thấy một đôi khi đồng môn đã đi quá xa, hơi lạc đường chỉ vì bênh vực ý kiến của mình mà lên tiếng đả kích nặng nề người bạn từng sát cánh bên nhau. Không xoáy vào đề tài cần thảo luận để làm sáng tỏ, tìm ra một giải pháp mà lại bới móc đời tư, nói xấu nhau, đùa rỡn về những chuyện vụn vặt không liên hệ, dính dáng gì đến đề tài cần bàn bạc.

Như vậy là chúng ta đã không thực tế, không cụ thể, lạc đề và nguy hiểm hơn nữa là làm suy giảm hay mất đi tình tương thân tương ái của người cùng trong môn phái.

Những chuyện tranh luận với nhau như thế đều là vô bổ, không đem lại lợi ích gì cho bản thân, cho tập thể cả.

Đành rằng cái nhiệt tình của bạn là điều ai cũng nhận thấy rất rõ, nhưng cách hành xử của bạn không thích hợp với trào lưu dân chủ tự do trong thế giới ngày nay nữa.

Nếu bạn trầm tĩnh, suy nghĩ lại mà cũng đồng ý với tôi thì chúng ta nên chấn chỉnh lại đôi chút khi sinh hoạt môn phái.

TINH THẦN XÂY DỰNG!

Thưa các bạn đồng môn,

Thế hệ chúng tôi đang ở cái tuổi gần 70 và trên 80 cả rồi. Nhiều người đã ra đi, một số còn ở lại.

Những anh em già chúng tôi, không còn ai là người ham danh ham lợi. Sở dĩ chúng tôi còn phải gánh vác một số công việc của môn phái, chẳng qua là vì lớp người sau không chịu tiến lên để thay thế người đi trước.

Không ai chịu hy sinh đứng ra nhận lãnh chức vụ này, chức vụ kia thì anh em già chúng tôi làm sao bỏ đi cho đành? Các bạn phải mạnh bạo, xung phong ra làm việc chứ!

Đừng dậm chân tại chỗ rồi đổ tội cho chúng tôi thế này, thế nọ. Toàn là những điều ác ý, cay nghiệt, không đem lại kết quả nào giúp ích cho môn phái thống nhất và phát triển.

Giả dụ các bạn trẻ nhận lãnh trách nhiệm rồi có người cũng gán cho các bạn những là háo danh, lợi dụng, bè phái và đủ những chuyện xấu xa thì bạn nghĩ thế nào? Bạn còn muốn tiếp tục phục vụ hay bạn nổi nóng làm to chuyện hoặc buông xuôi?

Có lẽ, ở vào hoàn cảnh ấy, bạn mới nghĩ lại mà thương các anh lớn từ bao lâu nay vẫn âm thầm chịu đựng trước những buá dìu dư luận của các em mình!

Lúc đó đã quá trễ! Bởi các anh đâu còn trên thế gian này? Đâu còn ở trong môn phái nữa!

Vài lời tâm tình, tôi mong được lọt vào tai các em để các em bình tâm suy nghĩ và đóng góp tích cực cho tiền đồ của Vovinam-Việt Võ Đạo.

Bởi đó cũng chính là lý tưởng mà các em hằng theo đuổi trong suốt cuộc đời mình!

Lê văn Phúc
(Virginia, tháng 7-2004)

Share this post