Tổng Công Kích – Tổng Khởi Nghĩa 1968

Tổng Công Kích – Tổng Khởi Nghĩa 1968

Tài liệu do Phòng 5 / Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH biên soạn và ấn hành

 

Lời tựa của Trung Tá Phạm Văn Sơn cho cuốn tài liệu này vẫn còn giá trị mãi đến giáp 50 năm sau cuộc binh biến và thật thấm thía cho những ai còn mang nặng hoài bảo với mảnh dư đồ. Tài liệu tuy viết không được đầy đủ, viết một cách không khoa học nhưng cũng đã chứng tỏ được sức kháng cự mãnh liệt của quân dân miền Nam trước sức mạnh nhân lực và ý đồ thôn tính miền Nam của Cộng Sản Bắc Việt. Qua tài liệu, chúng ta nhận thấy QLVNCH đã anh dũng chiến đấu, đã thấm nhuần chính nghĩa và qua đó đã thể hiện ý chí trong công cuộc chống xâm lăng của lũ người Cộng Sản cuồng tín.

Thời cuộc đã xoay chiều từ Hiệp Định Paris 1973 nhưng không phải vì vậy mà chúng ta dựa vào đó để luận anh hùng qua chiến thắng hoặc chiến bại.

Đây là một tài liệu khá trung thực, kể lại nguyên do và diễn biến của biến cố Mậu Thân cũng như diễn tả nỗi thống khổ của dân Miền Nam, nạn nhân của những trận đánh do Bắc Việt gây ra.

Tháng 4.2015
ViệtAgenda

 

 

Mục Lục

Tựa, do Trung Tá Phạm Văn Sơn đề bút
Lời nói đầu của Phòng 5 Bộ TTM
Chương 1 Những nét tổng quát về cuộc Tổng Công Kích Tổng Khởi Nghĩa của Việt Cộng trong dịp Xuân Mậu Thân 1968
Diễn tiến chung của cuộc Tổng Công Kích đợt 1 (29 1 68)
Kế hoạch Tổng Công Kích Tổng Khởi Nghĩa của Việt Công?
Kết toán con số thiệt hại của hai bên qua trận tổng công kích đợt 1
Diễn tiến chung của cuộc Tổng Công Kích đợt 2 (5 5 68)
Đường lối chiến lược, chiến thuật của VC trong cuộc tấn công đợt 2 vào Sài Gòn
Chương 2 Những trận đánh tại các tỉnh lỵ và thị trấn
Một vài lời
Thủ đô Saigon
Trang 0043-0052
Trang 0053-0062
Trang 0063-0072
Trang 0073-0082
Trang 0083-0091
Chi tiết một vài trận đột kích của Việt Cộng vào các cơ sở trọng yếu của thủ đô
Tấn công Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ
Tấn công Bộ Tư Lệnh Hải Quân
Tấn công trại Phù Đổng
Tấn công khu vực pháo binh
Tấn công đài phát thanh
Tấn công sau Dinh Độc Lập
Tấn công cổng số 4 và số 5 Bộ Tổng Tham Mưu
Tấn công Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung
Các trận đánh trong vùng ven đô sau tổng công kích đợt 1
Vài nét sinh hoạt của thủ đô sau biến cố Tết Mậu Thân
Các trận đánh trong đợt 2
Lý do thất bại của địch
Chi tiết các trận đánh trong đợt 2
Trận đánh Thị Nghè
Trận đánh cầu Bình Lơi
Trận đánh ngã tư Bảy Hiền
Trận đánh Bình Thới Minh Phụng
Trận đánh Bình Tiên
Trận đánh Tân Thới Hiệp
Trận đánh cầu Chữ Y
Mặt trận Bắc thủ Đô
Mặt trận Chợ Lớn
Huế
Diễn tiến tổng quát
Cố đô trong biến cố
Kế hoạch đánh Huế của Việt Cộng
Bài học kinh nghiệm của ta và địch
Quảng Trị
Đà Nẵng
Quảng Tín
Kontum
Ban Mê Thuật
Quảng Ngãi
Nha Trang
Quy Nhơn
Phan Thiết
Đà Lạt
Biên Hòa
Cần Thơ
Kiến Hòa
Vĩnh Long
Chương 3 Việt Cộng đã chuẩn bị cuộc Tổng Công Kích Tổng Khởi Nghĩa ra sao?
Chương 3 Bài học kinh nghiệm của Việt Cộng sau các đợt TTổng Công Kích thành phố
Chương 4 Nguyên nhân thất bại của Việt Cộng trong vụ Tổng Công Kích Mậu Thân
Chương 4 Kết luân

 

TỰA

 

Các nhà quân sử kim cổ Đông Tây đều ghi nhận đặc tính của binh pháp là quỷ trá kỳ xảo tức là chiến pháp bao hảm ý nghĩa quyền mưu, chủ trương dùng tất cả mọi thủ đoạn để đi tới chiến thắng.

Theo trên, chúng ta không lấy làm lạ nếu hai quân giao tranh có những lối công kỳ vô bị xuất kỳ bât ý để bên này khai thác những sơ hở về một phương diện nào của bên kia.

Liên hệ ít nhiều đến nguyên tắc chỉ đạo chiến tranh này mà ta đã thấy trong thiên Quân Tranh của Tôn- , Lý- ế Xuyên trong sách ‘Việt Diện U Linh Tập’ cũng đưa ra nguyên tắc: Tọa đài địch chí bất như tiên phát dĩ ách kỳ phong nghĩa là: Ngồi chờ giặc đến không bằng đem quân đánh trước để chặn rnũi nhọn của giặc.

Như vậy ta có thể tha cho Cộng Sản Bắc-Việt và công cụ của chúng là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam đã xuất toàn lực đánh lén chúng ta vào những ngày đầu Tết xuân Mậu Thân (1968) trên khắp lãnh thổ của chúng ta chăng?

Không !

Hẳn rằng chúng ta đã lầm khi đánh giá Việt Cộng như những con người văn minh biết thực hiện đề nghị ngưng chiến do chúng đưa ra, những kẻ còn biết nghiêng mình trước truyền thống dân tộc, biết nghĩ đến sự yên vui của đồng bào trong ba ngày Tết Nguyên Đán để sum họp và cúng bái tổ tiên, một tập tục thiêng liêng từ ngàn xưa chỉ những kẻ vong bản mới dám công khai chà đạp.

Nhưng kẻ thù của chúng ta đã chứng tỏ sự man rợ và bộ mặt phản dân, trái ngược hẳn với chiêu bài ái quốc chúng thường đưa ra, chẳng ngần ngại mở cuộc ‘Tổng Khởi Nghĩa’ của chúng vào những ngày đầm ấm nhất của xứ sở mỗi năm.

Tuy mưu gian tính đã khéo, thuật xảo sắp đã hay, tiếng súng của chúng chỉ tạo được lợi thế bất ngờ trong vỏn vẹn ít tiếng đồng hồ ở thủ đô và một số thị trấn của ta mà thôi. Tính chung, chúng đã thảm bại ngoài sức tưởng tượng.

Lý do: Quân Lưc Việt-Nam Cộng Hòa đã phản ứng rất mau lẹ và anh dũng, kỹ thuật chiến đấu của họ rất cao. Ngược lại điều tai hại nhất cho các ‘chiến sĩ giải phóng’ là đã đụng đầu với sự lạnh nhạt của đồng bào ở khắp nơi.

Kết quả rực rỡ của hai đợt tấn công đại quy mô với những cố gắng vĩ đại, từ đầu tháng Giêng đến cuối tháng Năm Dương Lịch trên khắp các chiến trường từ Quảng Trị tới Cà Mau là Việt Cộng đã đẩy vào chỗ chết ngót 60.000 binh sĩ, bị cầm tù gần 10.000, ra hàng ngót 6.000 và mất trên 17.000 vũ khí. Trong khi ấy con số tổn thất của chúng ta về mọi phương diện không tới 1/10 những con số của Cộng Sản.

Tuy nhiên Việt Cộng đã thành công ở một điểm khá quan trọng: Phá hủy được 50.000 căn nhà của dân chúng, đem chết chóc đến cho 14.000 đồng bào vô tội đủ cả già trẻ gái trai, và vô sản hóa trên 700.000 người dân đa số là lao động.

Thành tích dìm người vào biển máu hiển hách đến thế là cùng!

Ngoài ra điều dã man chưa từng thấy trong lịch sử loại người là Cộng Sản đã xua những lực lượng gồm 7 / 10 con nít vào lò lửa của chiến tranh và mở những cuộc pháo kích bừa bãi vào những khu gia cư nghèo khó đông đúc không có lấy một cơ quan quân sự để trả thù sự bất cộng tác của quần chúng.

Nhưng Cộng Sản dám làm hết, những phương tiện nào tàn ác nhất đối với chúng là những phương đáng dùng nhất nếu để chiến thắng.

Cuộc ‘Tổng Công kích – Tổng Khởi Nghĩa của Việt Cộng Mậu Thân 1968’ hôm nay được ra mắt các bạn đọc chỉ có mục đích cảnh giác những người còn nhẹ dạ còn tin vào lương tâm của Cộng-Sản và củng cố ý chí của quân dân ta chống xâm lăng của đế quốc đỏ. Chúng tôi còn muốn cuốn sách này tố cáo trước dư luận thế giới những hành động cực kỳ dã man của bọn người luôn luôn bô bô ngoài cửa miệng là những chiến sĩ tiền phong của xã hội chủ nghĩa thực ra chúng chỉ là những kẻ lưu manh và hèn nhát.

Giá trị chân lý của những tài liệu trưng ra ở đây xin để bạn đọc nhận định lấy, chúng tôi không dám phí thời giờ và giấy mực để bịa đặt thêm cái xấu cho những kẻ đã xuất hiện trước mặt nhân dân miền Nam cũng như miền Bắc như những hung thần ác quỷ ghê gớm nhất từ ngót hai chục năm trở về đây.

Trung Tá Phạm Sơn
Trưởng Khối Quân Sử
Phòng 5 / Bộ Tổng Tham-mưu

 

Lời Nói Đầu

 

Những trang quân sử đươc viết sau đây là một sự cần thiết cấp bách để ghi lại những biến cố đã xẩy ra quanh vụ Tổng Công Kích – Tổng Khởi Nghĩa của Việt Cộng vào dịp Tết Mậu Thân 1968. Những biến cố này được ghi chép với mục đích tìm hiểu, thâu thập những bài học kinh nghiệm sống động của lịch sử có liên quan tới cá nhân và tập thể của quân đội hầu có thể giúp cho mọi người, nhất là quân nhân khảo sát một cách hữu ích.

Những trang quân sử này do Khối Quân Sử Phòng 5 / Bộ Tổng Tham Mưu phụ trách biên tập. Một phái đoàn Quân Sử đã tới nhiều địa phương để khảo sát tận chỗ viết ra. Tuy nhiên, biến cố Mậu Thân quả thật to tát mở rộng chiến cuộc trên nhiều vùng đất và thời gian trôi qua rất lẹ làm quên đi quá khứ và những vết tích của chiến cuộc cũng dễ bị xóa nhòa bởi thời gian. Cho nên công việc sưu tập các chiến tích và việc tìm tòi các tấm hình ảnh phải được xúc tiến ngay thật mau lẹ. Bởi vậy ngoài phái đoàn, chúng tôi thu thập tất cả những tin tức xét thấy xác thực và hữu ích trên các báo chí để tổng hợp vào cuốn tài liệu này.

Cũng vì một công việc có lợi ích chung và có tính cách vô vị lợi, chúng tôi đã mạn phép ghi một vài mẫu bài của các vị ký giả chiến trường và của các văn nhân bốn phương với những sự cảm ơn chân thành và sâu xa.

Cũng trong phạm vi thực hiện cuốn sách, chúng tôi được sư trợ giúp của rất nhiều bộ chỉ-huy và cơ quan trong việc cung cấp tài liệu và hình ảnh liên quan tới biến cố. Chúng tôi ghi nhận sự tri ân đối với tất cả các cơ quan đã giúp đỡ hay cộng tác vào việc hoàn thành cuốn sách này.

Ngoài ra những trang quân sử này còn nhiều thiếu sót, cần bổ khuyết và cẩn phong phú thêm những pha cảnh chiến đấu và những kinh nghiệm chiến trường của cả địch lẫn ta trong thời gian tổng công kích tại nhiều địa phương mà tài liệu này chưa có hay còn chưa đủ. Cũng vì hoài bảo muốn kiện toàn tới mức tối đa cho tập tài liệu sau này, chúng tôi thiết tha mong ở các chiến hữu bốn phương và các quý vị độc giả trong nước sẵn sàng góp sức với chúng tôi bằng tài liệu hay bằng hình ảnh về cuộc biến cố. Thơ từ liên lạc xin gởi về Khối Quân Sử Phòng 5 / Bộ TTM – KBC 40.02

Khối Quân-Sử Phòng 5 / Bộ Tổng Tham-Mưu

Để tưởng niệm hương hồn các chiến hữu đã hy sinh bảo vệ miền Nam tự do và hương hồn các giới đồng bào đã bị thiệt mạng do cuồng vọng của bọn người vô nhân đạo và vô tổ quốc.

Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH

 

Chương 1

Những nét tổng quát về cuộc Tổng Công Kích Tổng Khởi Nghĩa của Việt Cộng trong dịp Xuân Mậu Thân 1968

Diễn tiến chung của cuộc Tổng Công Kích đợt 1 (29-1-68)

 

Trận tổng công kích đợt 1 của Việt Cộng đã xẩy ra trong những ngày đầu năm Mậu Thân 1968

Để che dấu âm mưu này và để đánh lạc hướng, chiều ngày 20.01.1968 nghĩa là trước cuộc tổng tấn công 10 ngày, sau những loạt trọng pháo mở màn địch tấn công mạnh mẽ bằng bộ-binh vào Khe-Sanh.

Khe-Sanh là một căn cứ chiến lược chặn ngang đường xâm nhập của quân Bắc Việt vào Vùng 1 Chiến Thuật nằm ở ngã ba biên giới Bắc-Việt-Lào và Nam Việt-Nam cách thượng lưu sông Bến Hải không xa và cách Cồn Tiên nơi xẩy ra một trận đánh lớn vào giữa năm 1967 vào khoảng 30 cây số. Căn cứ Khe Sanh nằm trong một lòng chảo chung quanh núi cao vây bọc dài 2 cây số ngang 1 cây số. Khoảng 6.000 TQLC Hoa-Kỳ trú đóng chia giữ Khe-Sanh, căn cứ chính có một phi trường làm đường liên lạc tiếp tế và ba tiền đồn là các ngọn đồi 881 và 861 ở phía Nam đồi 1015. Ở xa hơn về phía Đông có cứ điểm Carrol. Ngoài ra được kể thêm một tiền đồn là Làng Vei do một tiểu đoàn Dân Dự Chiến Đấu với một số cố vấn Hoa Kỳ chiếm giữ.

Cuộc tấn công mở màn vào Khe Sanh đã khiến ngay từ lúc đầu 20 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ tử thương và 109 bị thương. Thoạt đầu quân Bắ -Việt oanh kích dữ dội bằng trọng pháo và hỏa tiễn vào trại Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ tại Carrol sau đó chúng tấn công đánh vào các ngọn đồi 881 và 861. Các đơn vị của Trung Đoàn 26 thuộc Sư Đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã phải chiến đấu dữ dội với các đơn vị thuộc Sư Đoàn 325 Bắc Việt xuất hiện bao vây vùng thung lũng Khe Sanh. Dường như quân chính quy Bắc Việt đã dồn chừng 3 sư đoàn ở vùng phi quân sự và biên giới Lào để gián tiếp yểm trợ cho chiến trường Khe-Sanh.

Trước tình hình này, lệnh hưu chiến trong dịp Tết Nguyên Đán Mậu Thân trước định 48 giờ đã được lệnh rút xuống 36 tiếng nghĩa là lệnh hưu chiến chỉ còn giá trị từ 18 giờ ngày 29.01 đến 06 giờ ngày 31.01.1968.

Biện pháp phòng thủ hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị được đặt ra và ước lượng tăng quân số Việt-Mỹ lên 50.000 người để phòng ngừa một cuộc đánh úp vào hai tỉnh này.

Sư-đoàn Nhẩy-Dù Việt-Nam được lệnh tăng cường vùng hỏa tuyến một chiến-đoàn. Một số các đơn vị chủ lực Hoa Kỳ như Sư Đoàn 1 Không Vận cũng được lệnh đưa ra vùng 1 Chiến Thuật.

Nhưng trước Tết, Sư Đoàn Nhẩy Dù mới gửi ra được vùng hỏa tuyến được các Tiểu Đoàn 2 và 9. Mãi tới ngày mồng 2 Tết, Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn 1 với Tiểu Đoàn 7 mới được không vận ra Huế. Sư Đoàn 1 Không Vận Hoa-Kỳ cũng từ An Khê kịp ra đóng ở một khu vực cách xa thành phố Huế. Các lực lượng này chỉ là những lực lượng trừ bị cho chiến trường Khe Sanh nên chỉ nằm đợi tại chỗ, không tham gia vào những hoạt động khác.

Các chiến lược và chiến thuật gia cho rằng Việt Cộng chỉ có khả năng mở những trận quy mô dựa vào những căn cứ xuất phát tại các vùng biên giới nhưng sẽ thất bại. Với những sự phối trí quân lực như trên hẳn địch chẳng có thể làm gì nên chuyển theo đà tiến triển của tình hình.

Còn tại nội địa các nhà quân sự ước tính rằng địch quân chỉ có khả năng mở những cuộc tấn công ở cấp liên tiểu-đoàn nhằm gây tiếng vang, chúng chỉ có thể đánh trong một thời gian chớp nhoáng nếu không muốn bị tiêu diệt. Người ta cảm thấy lạc quan đối với tình hình quân sự chung trên toàn quốc gia qua các trận đánh đã xẩy ra ở Cồn Tiên, Dakto, Lộc Ninh và Phước-Quả vào năm 1967 mà chiến thắng cuối cùng đã nghiêng về phía quân bạn.

Tuy nhiên những người am hiểu thời cuộc lại cảm thấy lo ngại. Vấn đề xây dựng nông thôn không tiến triển. Các vùng nông thôn phần lớn nằm trong sự kiểm soát của địch. Các cớ sở hạ tầng của địch vẫn còn nguyên vẹn và dường như còn phát triển mạnh tới những vùng làng mạc phụ cận và ngoại ô của các thành phố và đô-thị, bằng chứng là những vụ ám sát và khủng bố được gia tăng nhằm vào các viên chức xã, ấp, phường, khóm ở các vùng này trong những tháng về cuối năm 1967.

Lợi dụng những vu ám sát đê hèn này thường ít được dư luận chú ý đến và bằng một cách âm thầm và lặng lẽ địch quân đã len lỏi về nằm sát bên ta.

Một sự an ninh giả tạo đã được diễn ra tạo nên những sự dễ dãi hoạt động và di chuyển cho các phần tử địch.

Vào những ngày giáp Tết, ngoài một Khe Sanh sôi động, tình hình chung trên toàn quốc hoàn toàn yên tĩnh.

Các đơn vị binh sĩ được hưởng phép nghỉ Tết dễ dàng, trực gác theo như thông thường.

Thủ Tướng Nguyễn Văn Lộc cho dân chúng tùy theo an ninh từng địa phương đốt pháo trong bốn ngày Tết, từ ngày 30 đến hết ngày mồng 3. Nhưng tiếng pháo đã bất chấp luật lệ bắt đầu nổ rải rác trong đô thành Sài Gòn Chợ Lớn từ 20 tháng chạp nghĩa là trước cả ngày tiễn Ông Táo lên chầu trời.

Nghĩa là dân chúng thản nhiên với thời cuộc sửa soạn đón Xuân và vui Xuân.

Ngược dòng thời gian, người ta nhớ lại Nội Các Chiến Tranh của Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ ra đời, từ hình thức đến nội dung, chính phủ này có nhiều nét đặc biệt khiến người dân chú ý và tin tưởng. Người dân tin tưởng Nội Các này đã cải tiến cả cách xưng hô: Thủ tướng chánh phủ gọi là chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, tổng, bộ trưởng gọi là tổng ủy viên. Người dân chú ý đến cả cách ăn mặc của Nội Các Chiến Tranh với những bộ kaki đồng phục màu xám mang phù hiệu hình con rồng với một giòng chữ ‘Tổ Quốc Nhân Dân’. Hình thức xưng hô và ăn mặc chưa hẳn là đã biểu tượng cho công việc nhưng dù sao người dân cũng cảm thấy một cái gì mới lạ thay đổi trong guồng máy chính quyền đã xẩy ra nhiều biến loạn và mất tin tưởng, cho rằng Nội Các Chiến Tranh đã không cậu nệ trong hình thức phong kiến xưa nay mà đã thoát ra bằng một cái gì giản dị thân dân. Về mục tiêu của công tác lãnh đạo, Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia và chính phủ đã kêu gọi một cuộc sông khắc khổ của toàn dân để đáp ứng cho cuộc chiến tranh chống Cộng. Chính quyền đã khơi mào muốn biến quốc gia thành một xã hội mới bằng một buổi lễ ra mắt gọi là ‘Ngày Xã Hội Mới’ được tổ chức tại khuôn viên Dinh Độc Lập với sự tham dự đông đảo của thân hào nhân sĩ và đủ mọi giới.

Nhưng sự mong ước chỉ là những hứa hẹn.

Nội Các Chiến Tranh của Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ và chính cá nhân của thiếu tướng đã có một cố gắng không ngừng, nhưng chẳng hiểu vì một ma lực nào mà không xoay chiều được theo như mong ước của toàn dân. Tuy chính phủ này đứng vững được đến khi hoàn thành xong nhiệm vụ lập một thể chế dân chủ cho miền Nam Việt Nam, nhưng trong thời gian từ giữa năm 1965 đến cuối năm 1967, chính phủ Nguyễn Cao Kỳ đã gặp phải rất nhiều khó khăn. Vụ khó khăn lớn nhất là vụ tranh đấu của Phật Giáo miền Trung. Tiếp theo nhiều vụ lủng củng nội bộ khác. Trong guồng máy quốc gia có nhiều sự tranh chấp và có nhiều thế lực kìm kẹp lẫn nhau khiến cho không một nhân vật lãnh đạo nào có thể quy tụ được hậu thuẫn và nhất chí của toàn dân.

Vào những ngày giáp Tết, người ta không thấy một bộ mặt mới được phản ảnh từ một xã hội mới trên các đường phố, mà chỉ thấy một cảnh sinh hoạt phóng túng với đủ màu sắc và nhộn nhịp bất chấp chiến tranh.

Dường như những nỗi đau khổ của chiến tranh không có ở nơi thành thị từ trước đến nay. Người dân ở đây không thấy chiến tranh, chỉ nghe thấy chiến tranh qua những tiếng súng lớn từ các vùng quê vọng lại và trông qua những đoàn quân xa chở đồ tiếp tế và đạn dược từ hậu phương ra tiền tuyến.

Nỗi đau khổ của chiến tranh đối với dân thành thị chỉ thể hiện một cách phớt qua qua đời sống mắc mỏ với vật giá leo thang và ảnh hưởng vào một vài giới ít tiền, còn nhiều giới khác lại mong có chiến tranh để có công ăn việc làm và giầu có thêm.

Như vậy, nhân cái Tết đối với người Việt Nam quan trọng và thiêng liêng thời làm sao tránh khỏi cho người dân thành thị vui chơi trong cái thỏa thích của ngày Xuân.

Cũng cần ghi lại trong năm Mậu-Thân 1968 người dân thành thị đã ăn Tết ra sao?

Những giới mại bản và những người có cơ hội gặp thời cơ kiếm được rất nhiều tiền. Họ đã tổ chức các buổi tiệc tất niên rất linh đình, bất chấp mọi tiêu phí bằng tiền bạc để vui chơi và nhẩy nhót. Cũng trong cơ hội này, họ bày ra ăn uống để mua chuộc lẫn nhau. Các tửu điếm và trà vũ tại thủ đô đông ghẹt người thâu đêm suốt sáng. Những người ít tiền vào những ngày này không tài nào dành chỗ được.

Những giới làm cho Mỹ, những nhân công lao động đều sẵn tiền. Họ mua sắm Tết dù với giá mắc như thế nào cũng không ngại. Những giới đĩ điếm lại sẵn tiền hơn tha hồ mua sắm thỏa thích.

Một giới đông đảo hơn là quân nhân và công chức với lương cố định trước một thời giá leo thang thuộc vào loại ít tiền nhất. Tuy vậy gia đình nào cũng gắng mua sắm cho con cái một chút, cũng gắng mua một vài món qua Tết họ hàng nội ngoại, dù phải cầm hàng hay đi vay đi mượn miễn sao có được một cái Tết phong thể và không thẹn với họ hàng bằng hữu.

Giữa một xã hội tao loạn, quá nhiều biến chuyển, những người ý thức được thời cuộc đều thấy rằng đất nước Việt Nam đang đứng vào một tình thế mới cần phải thay đổi bộ mặt để đáp ứng với cuộc chiến tranh hiện tại. Nhưng bộ mặt mới đã không có. Sinh hoạt trong quan niệm cũ lại tồi tệ hơn, mạnh ai người ấy sống, không ai lo cho ai, người ta chỉ thấy xung quanh một xã hội tiền bạc, mà sức mạnh của tiền bạc thường làm suy giảm ý chí. Đối với thời cuộc, người ta tỏ ra tiêu cực trước sự leo thang của vật giá và lo lắng đối với đời sông càng ngày càng khó khăn. Còn những người có cơ hội lo làm giầu thêm để sống một nếp sống huy hoàng ngay trước mắt những kẻ khác và trên xương máu của chiến sĩ và nhân dân.

Sinh hoạt trong mấy ngày Tết đã biểu lộ nếp sống này một cách chân thật.

Ngày Tết đến.

Người dân thành thị đã đón mừng Xuân Mậu Thân với tiếng pháo liên hồi. Tết Mậu Thân là Tết với nhiều pháo nổ hơn mọi Tết khác rất nhiều. Giới giàu có, giới mại bản đốt những tràng pháo năm bẩy thước và đốt rất nhiều. Giới ít tiền cũng tranh hơi cố gắng bỏ tiền đốt một vài tràng pháo đón Xuân lấy hên.

Đột nhiên xen lẫn tiếng pháo mừng Xuân, tiếng súng Cộng Sản bùng nổ. Hậu phương đang thanh bình trong giây phút biến thành tiền tuyến.

Lợi dụng lệnh bỏ giới nghiêm và lệnh hưu chiến, Việt Cộng đã mở một cuộc tổng công kích trên toàn thể miền Nam tự do để đánh vào các lực lượng của Quân Đội VNCH trong giờ phút uy linh đón mừng Xuân mới.

Đêm 30 Tết tức ngày 29 tháng Giêng năm 1968, Việt-Cộng đồng loạt tấn công vào năm thị xã thuộc vùng II Chiến Thuật:

Quy Nhơn lúc 04g10
Kontum lúc 02g00
Pleiku lúc 04g40
Darlac lúc 01g30
Nha Trang lúc 00g35

 

Đồng thời pháo kích và đột nhập Tổng Hành Dinh Quân Đoàn 1 vào lúc 03g40 sáng.

Cũng trong đêm này, địch đột kích vào Chi Khu Hội An, pháo kích vào thị xã Quảng Trị, phi trường Đà Nẵng, phi trường Non Nước cách nam Đà Nẵng khoảng 4 cây số và pháo kích tấn công nhiều đồn bót lẻ tẻ trên toàn quốc.

Cả năm thị xã kể trên và Tổng Hành Dinh Quân Đoàn 1 đều bị địch lọt vào. Các thị xã Quy Nhơn, Nha Trang và Pleiku đã được giải tỏa nhanh chóng. Tổng Hành Dinh Quân Đoàn 1 đẩy lùi địch trong vài giờ đông hồ. Các lực lượng địch tại thị xã Ban Mê Thuật và Kontum cũng bị ta đẩy lui ngay nhưng tại hai nơi này địch bám sát, tạo áp lực xung quanh và sau nhiều ngày ta mới làm chủ tình hình hoàn toàn.

Đêm mông 1 Tết tức 24 giờ sau các cuộc tấn công vào những tỉnh lỵ miền Cao Nguyên và miền Trung, lực lượng Việt Cộng mở các cuộc tấn công vào đô thành Sài Gòn Chợ-Lớn và các tỉnh lỵ Miền Nam.

Khi xẩy ra các vụ tấn công đêm Giao Thừa, chính quyền trung ương thông báo ngay cho các địa phương biết để kịp phòng bị. Vào sáng mồng 1 Tết, Đài Phát Thanh Quốc Gia Sài Gòn tố cáo Việt Cộng vi phạm trắng trợn việc hưu chiến trong dịp Tết và ban bố bãi bỏ lệnh này.

Dân chúng đang say sưa trong cái Tết dân tộc ít người biết đến.

Tại các tỉnh nhỏ, nhà cầm quyền đã dễ dàng hơn trong việc kêu gọi quân nhân đang nghỉ phép trở lại trại để gia tăng việc phòng thủ.

Tại thủ đô, chiều tối ngày mồng 1, các giới chức quân sự theo giõi tình hình và ban lệnh cho các cơ quan và đơn vị đề phòng. Nhưng lệnh này quá cấp bách khiến việc kêu gọi các quân nhân đang nghỉ phép không thể nào thi hành được.

Khói lửa đô thành

Đột nhiên xen lẫn tiếng pháo mừng Xuân
Tiếng súng Cộng quân bùng nổ

Hậu phương
đang thanh bình

 

Phút chốc
biến thành tiền tuyến

 

Nhưng việc gì đến đã đến! Một cuộc tổng công kích của Việt Cộng trên toàn lãnh thổ miền Nam Việt Nam đã quả thực xẩy ra.

Bọn Việt Cộng đã đánh vào các đơn vị VNCH trong lúc không chuẩn bị hay vừa mới kịp đề phòng do những trận đánh đầu tiên xẩy ra.

Tính theo kế hoạch tổng công kích, Việt Cộng đã đồng loạt mở các cuộc tấn công và đột kích vào hầu hết các tỉnh lỵ và thị trấn trong thời gian như sau :

Tại Vùng 1 Chiến Thuật

Huế bị tấn công đêm mồng 1 rạng mồng 2 Tết lúc 02 giờ.
Quảng-Trị đêm mồng 1 rang mồng  2 Tết lúc 04 giờ.
Quảng-Tín đêm mồng 1 rang mồng  2 Tết lúc 04 giờ.
Quảng-Ngãi đêm mồng 1 rang mồng  2 Tết lúc 04 giờ.

Tại Vùng 2 Chiến Thuật

Bình Thuận bị tấn công đêm mồng 1 rạng mồng 2 Tết lúc 03g25
Tuyên Đức đêm mồng 2 rạng mồng 3 Tết lúc 02 giờ

Tại Vùng 3 Chiến Thuật

Thủ đô Sài Gòn Chợ Lớn Gia Định bị tấn công đêm mồng 1 rạng mồng 2 Tết lúc 02 giờ.
Bình Dương đêm mồng 2 rạng mồng 3 lúc 04g25.
Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 25 Bộ Binh bị tấn công lúc 08g30 sáng ngày mồng 2 Tết.
Biên Hòa đêm mồng 2 rạng ngày mồng 3 lúc 03 giờ
Long Khánh đêm mồng 4 rạng mồng 5 Tết lúc 01 giờ.

Tại Vùng 4 Chiến-thuật

Phong Dinh đêm mồng 1 rạng mồng 2 Tết lúc 03 giờ.
Vĩnh Long đêm mồng 1 rạng mồng 2 lúc 03g30
Kiến Hòa đêm mồng 2 rạng ngày mồng 3 Tết lúc 03 giờ.
Định Tường đêm mồng 2 rạng ngày mồng 3 Tết lúc 04 giờ.
Kiên-Giang đêm mồng 2 rạng ngày mồng 3 Tết lúc 02g40.
Vĩnh Bình đêm mồng 2 rạng ngày mồng 3 Tết lúc 04g15.
Kiến-Tường đêm mồng 4 rạng ngày mồng 5 lúc 04g15.
Bộ Tư Lệnh Biệt Khu 44 đêm mồng 6 rạng ngày mồng 7 lúc 01g25.
Gò Công đêm mồng 7 rạng ngày mồng 8 âm lịch lúc 02g35.
Bạc Liêu đêm 12 rạng 13 Âm Lịch tức ngày 10.02.1968.

Như vậy trong 44 tỉnh lỵ  địch đã dùng bộ binh tấn công vào 28 nơi.

Cuộc tổng tấn công của chúng kể ra cũng khá linh hoạt tuy không diễn ra trong một lúc nhưng khoảng cách của các trận đánh ở các tỉnh lỵ không quá rời rạc.

Tính ra như vậy:

Đêm 30 Tết, Việt Cộng mở được năm cuộc tấn công vào các tỉnh Cao Nguyên và miền Trung.

Đêm mồng 1 Tết, chúng mở được tám cuộc tấn công khác vào các tỉnh lỵ và thị xã trong đó có đô thành Sài Gòn Chợ Lớn Gia Định. Với tám cuộc tấn công này trong đó có bốn thành phố Huế, Quảng Trị, Quảng Tín và Quảng Ngãi thuộc Vùng 1 Chiến Thuật và hai thành phố Cần Thơ, Vĩnh Long thuộc Vùng 4 Chiến Thuật. Người ta nhận thấy rằng trong hai ngày liên tiếp tất cả các tỉnh lỵ thuộc Vùng 1 Chiến Thuật đều bị đánh. Các tỉnh lỵ thuộc Vùng 2 Chiến Thuật cũng bị đánh gần hết. Riêng Vùng 4 Chiến Thuật mới bị chớm đánh vào hai tỉnh Cần Thơ và Vĩnh Long.

Đêm mồng 3 Tết, địch lại đánh vào tám tỉnh lỵ khác gồm:  Năm thành phố Kiến Hòa, Định Tường, Gò Công, Kiên Giang, Vĩnh Bình thuộc Vùng 4 Chiến Thuật, hai thành phố Bình Dương, Biên-Hòa thuộc Vùng 3 Chiến Thuật, thành phố Tuyên Đức thuộc Vùng 2 Chiến Thuật.

Qua ngày mồng 3 Tết tức ngày 1.2.1968: Hoạt động địch trên toàn quốc có phần suy giảm tuy địch vẫn bám sát được vào một vài thành phố như Sài Gòn, Huế, Ban Mê Thuật, Kontum, Mỹ Tho và Vĩnh Long. Còn tại các nơi, các phần tử địch thất tán trong các khu dân cư và đang bị tiêu diệt.

Ngày mồng 4 Tết, địch còn mở một cuộc tấn công yếu ớt vào thị xã Kiến Tường và một cuộc tấn công khác vào các đơn vị trú phòng tại Long Khánh nhưng đều bị đẩy lui ngay.

Ngày mồng 5 Tết, hoạt động địch tại các Vùng Chiến Thuật suy giảm rõ rệt. Riêng tại Huế địch vẫn còn chiếm đóng và hoạt động mạnh. Tại thủ đô các phần tử địch trà trộn trong khu dân cư đang bị thanh toán lần lần.

Ngày mồng 5 và 6 Tết, chúng còn mở những cuộc tấn công muộn vào tỉnh lỵ Gò Công, Bộ Tư Lệnh Biệt Khu 44 nhưng không gây được sự thiệt hại nào đáng kể.

Ngày mồng 8 Âm Lịch tức ngày 6.2.68, Thừa-Thiên vẫn đang được chú ý hơn cả, tiếp đến là đô-thành Saigon Chợ-Lớn và Phong-Dinh. Tại Phong-Dinh trận chiến đã diễn ra trong 2 đợt: Đợt đầu lâu trên một tuần lễ và đợt thứ hai vào đêm 14 rạng ngày 15.2. Tại các nơi khác địch tiếp tục duy trì các cuộc pháo kích và khuấy rối đặc biệt là ở Vùng 1 và 4 Chiến Thuật.

Ngày 7.2.68, Việt-Cộng lần đầu tiên xử dụng thiết giáp xuất phát từ biên giới Lào vượt Quốc Lộ 9 tấn công căn cứ Làng Vei tại Khe-Sanh khiến trại này bị thất thủ hồi 18G40. Quân đồn trú chỉ có 72 người rút lui được về Khe Sanh, số còn lại 316 người coi như chết và mất tích. Nhưng Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ tại Huế tái chiếm một phần lớn khu vực hữu ngạn sông Hương. Địch quân phải rút ra cố thủ tại vùng ngoại ô.

Sáng ngày 10.2.68, địch đột nhập thị xã Bạc Liêu đốt trên một ngàn căn nhà của dân chúng. Tại Huế địch còn duy trì áp lực tại vùng cửa Hữu và khu vực Bắc cầu Bạch Hổ. Các thị xã và thị trấn khác đều được giải tỏa. Tại đô thành Sài Gòn Chợ-Lớn, các lực lượng ta tiếp tục mở các cuộc lục soát trong nội thành và hành quân tảo thanh vùng ven đô. Các lực lượng địch lần lượt rút ra xa đô thành.

Tình hình Khe-Sanh cũng yên tĩnh sau vụ thất thủ Làng-Vei.

Liệt kê các tỉnh lỵ bị Việt Cộng tấn công trong dịp Tết Mậu Thân

Ngoài 28 tỉnh lỵ và thị trấn bị bộ binh tấn công, 18 tỉnh lỵ còn lại trừ một vài nơi yên tĩnh hoàn toàn đều bị địch pháo kích và bắn quấy rối. Tình hình liệt kê theo từng tỉnh lỵ được ghi nhận như sau:

1. Ninh Thuận: Hoàn toàn yên tĩnh.
2. Phú Yên: Thành phố yên tĩnh, địch tấn công một vài đồn bót quanh tỉnh.
3. Phú Bổn: Hoàn toàn yên tĩnh
4. Lâm Đồng: Thành phố yên tĩnh, địch bắn quây rối vào khu MACV Quận Di Linh ngày 9.2.68.
5. Tây Ninh: Pháo kích tỉnh lỵ ngày 6.2.68
6. Long An : Pháo kích tỉnh lỵ ngày 10.2.68.
7. Hậu-Nghĩa: Pháo kích một vài địa điểm trong tỉnh.
8. Bình Long: Hoàn toàn yên tĩnh.
9. Phước Tuy: Hoàn toàn yên tĩnh.
10. Phước Long: Pháo kích ngày 7.2.68.
11. Kiến-Phong: Pháo kích thị trấn Cao Lãnh ngày 2.2.68.
12. Ba-Xuyên: Pháo kích phi trường Sóc Trăng và bắn quấy rối tỉnh lỵ.
13. Sa Đéc: Pháo kích ngày 10.8.68
14. Châu Đốc: Pháo kích tỉnh lỵ ngày 31.1.68 và nhiều nơi khác.
15. An-Xuyên: Pháo kích và bắn quấy rối tỉnh lỵ ngày 31.1.68, 6.2.68.
16. Chương Thiện:  Hoàn toàn yên tĩnh.
17. An Giang: hoàn toàn yên tĩnh.
18. Quảng Đức: Hoàn toàn yên tĩnh.
19. Bình Tuy: Hoàn toàn yên tĩnh.

So với những thành phố bị tấn công, những tỉnh lỵ này đều là những thị trấn nhỏ kém phần quan trọng. Địch trừ ra không đánh, có lẽ cho rằng nếu chúng làm chủ tình hình, những nơi này bất chiến tự nhiên thành. Do đó, chúng lấy hết lực lượng địa phương của các tỉnh trên phối hợp với chủ-lực quân dồn đánh vào những tỉnh lỵ được chọn làm mục tiêu. Hơn nữa, hầu hết các đồn bót quận lỵ đều không bị đánh vì chúng dồn toàn thể nỗ lực vào việc đánh chiếm các thành phố. Chúng coi các đồn bót quận lỵ là những mục tiêu phụ. Nếu chiếm được trọn vẹn các mục tiêu chính là thành phố, những mục tiêu phụ này đương nhiên bị cô lập và bị thanh toán.

Cuộc tổng công kích của Việt Cộng kéo dài non hai tuần lễ và được coi như chấm dứt. Vì các họat động của chúng cứ mỗi ngày một suy giảm do các cuộc hành quân phản công của ta và do chính chúng tự rút các lực lượng bị hao tổn nặng nề ra để nghỉ ngơi vã để bổ sung chỉnh đốn lại.

Nhưng vào tối thứ  Bẩy 17.2.68 rạng ngày Chủ Nhật, địch lại tập trung lực lương cố gắng mở một trận tổng công kích mới.

Đợt tấn công này cũng rải rác ở nhiều nơi và đồng khởi cùng một lúc như đợt tấn công thứ nhất vào dịp Tết. Nhưng không nghiêm trọng và kéo dài bằng đợt trước.

Địch có khả năng quy tụ quân ở quanh các thành phố nhưng cuộc tấn công hôm 18.2 phần lớn chỉ là pháo kích.

Cuộc pháo kích địch nhằm vào 47 thị trấn cùng các cơ sở của quân-đội Đồng-minh. Như vậy khác với lần trước, lần này Việt-Cộng hướng đánh cả vào các cơ sở của quân-đội Đồng-minh không như lần trước chỉ riêng vào quân-đội VNCH.

Sau các vụ pháo kích, có một vài vụ tấn công bằng bộ binh. Đó là các vụ tấn công vào vùng cầu Bình Lợi, Thủ Đức, vùng Tân An bắc Gò Vấp, Định Tường, Kiến Hòa, Châu Đốc và quan trọng hơn hết là cuộc tấn công vào tỉnh lỵ Phan Thiết.

Cuộc pháo kích đáng chú ý nhất là vụ vào thủđô. Các cơ sở bị pháo kích gồm căn cứ Tân-Sơn-Nhất xẩy ra hồi 1 giờ 10 sáng, sau đó lúc 1 giờ 20 vào Phái-bộ Viện-trợ Hoa-Kỳ Việt-Nam tại Tân-Sơn-Nhất, Nha Cảnh-sát Đô-thành trên đường Trần-Hưng-Đạo, đài ra-đa Phú-Lâm.

ngày 25.2 lúc 2G25 địch pháo kích và đột nhập Dân Y Viện tỉnh lỵ An-Xuyên, ta giải tỏa địch lúc 4 giờ sáng. Cũng trong những ngày này một lực lượng địch đông đảo muốn tái đột nhập đô-thành Saigon Chợ-Lơn Gia-Định gây áp lực tại vùng Hóc-Môn thuộc Tây Bắc thủ-đô và vùng Phú-Thọ-Hòa ở phiá Tây. Nhưng áp lực chúng tạo ra đối với thủ-đô không có gì là nguy hiểm. Cùng ngày 25.2 ta lam chủ tình hình tại Huế sau 26 ngày binh biến.

Để hỗ trợ cho vụ tổng công kích, Bắc-Việt đã xâm nhập vũ khí đạn dược một cách ào ạt và táo bạo vào miền Nam bằng cả đường biển.

Bằng cớ là ngày 29.2, ngay trong một lúc khoảng từ 01 giờ đến 03 giờ, Hải-quân Việt-Mỹ đã chận bắt được ba tầu bọc sắt chở súng của Việt-Cộng từ Bắc-Việt vào. Ba chiếc tầu sắt này, một bị bắt gặp tại cửa Đức-Phổ, thuộc tỉnh Quảng-Ngãi, một tại cửa Bồ-Đề thuộc tỉnh An-Xuyên và một tại Đầm-Văn thuộc tỉnh Khánh-Hòa. Cả ba chiếc khi bị chặn xét đã nổ súng chống trả. Hai chiếc ở ngoài khơi Quảng-Ngãi và An-xuyên bị bắn chìm tại chỗ. Chiếc ở ngoài khơi Nha-Trang bị săn đuổi đã chạy đâm vào bờ phát nổ. Tại chiếc tầu bị bắn chìm ở Đức-Phổ, ta tịch thu được 645 súng trường, 45 tiểu liên và 12 trung liên và 1 đại liên. Trên chiếc tầu bị hạ tại Nha-Trang ta tịch thu được 40 B.40, 28 AK, 50 Và nhiều thùng âu dụơc của Trung-Cộng và Động-Đức. Trên tầu để lại 11 xác chết.

Kể đến ngày 1.3 lực lượng Hải-quân Việc-Mỹ còn đánh chìm hai ghe và bắt một chiếc khác nguyên vẹn. Cả ba ghe này chở đầy vũ khí và đạn dược.

Vào tối ngày 5.3, Việt-Cộng lại mở cuộc tấn công mới vào nhiều thành thị và các cơ sở của QLVNCH. Đây là cuộc tấn công thứ ba có tính cách đồng lọat kể từ cuộc tấn công đầu tiên ngày Tết. Trong lần này, vùng Hậu-Giang bị tấn cộng nhiều nhất. Cuộc tấn cộng nặng nhất là vào tỉnh ly Quảng-Long tức Cà-Mau. Trong ngày này, lần đầu tiên địch pháo kích vào phi trường Cam-Ranh làm hư hại nhẹ đường bay.

Các cuộc tấn công về sau này đều không có hiệu lực. Địch cốt đánh để duy trì tiếng vang đối với quốc tế và làm xáo trộn cuộc sống bình thường của dân chúng.

Để  đáp ứng với chiến trường Khe Sanh có thể trở nên nghiêm trọng, ngày 6.3 Tướng Westmoreland tư Iệnh lực lượng Hoa-Kỳ tại Việt-Nam đã lập một bộ chỉ huy mới tại Vùng 1 Chiến Thuật nhằm trợ giúp vào việc chỉ huy và điều khiển các đơn vị Mỹ tại vùng giới tuyến. Bộ chỉ huy này do Tướng Cushman làm tư lệnh và được gọi là Quân- Đàn Lâm Thời tại Việt Nam.

Tại thủ đô cũng như các tỉnh, chánh quyền quốc gia đã đần dần tái lập được sinh hoạt bình thường. Vật giá sinh hoạt nhân ngày biến cố gia tăng không rút xuống được. Người dân thời loạn cũng quen với thực tại chấp nhận thời cuộc một cách ngoan ngoãn. Dù sao đối với cuộc tổng công kích đầu Xuân Mậu Thân, người ta chưa vội bàn đến ta và địch ai thắng ai bại, một điều hiển nhiên là một gánh nặng xã hội đã đè nặng lên vai chính quyền với một số người khổng lồ không nhà cửa chịu cảnh bơ vơ thiếu thốn đủ thứ.

 

Giặc đến
dân chạy

 

 

Cũng kể từ thượng tuần tháng 3 dương lịch, quân-đội VNCH và đồng minh đã làm chủ chiến trường, liên tiếp mở ra các cuộc hành quân tảo thanh. Một cuộc hành quân đại quy mô được tổ chức ngày 11.3.68 để nối tiếp cho chiến dịch Trần Hưng Đạo được đặt ra cấp bách tại thủ đô vào dịp Tết. Cuộc hành quân này được đặt tên là ‘Quyết Thắng’. Khoảng 50.000 binh sĩ thuộc các đơn vị của 6 sư đoàn và 2 chiến đoàn đã tham dự cuộc hành quân này tại năm tỉnh quanh thủ-đô Ià các tỉnh Gia Định, Long An, Biên Hòa, Bình Dương và Hậu Nghĩa. Phía Việt Nam, tham dự cuộc hành quân gồm có các đơn vị thuộc Sư Đoàn 5 và Sư Đoàn 25 Bộ Binh, 1 chiến đoàn Nhẩy Dù, 1 chiến-đoàn Thủy Quân Lục Chiến, 1 đơn vị Biệt Động Quân và một số cảnh sát. Về phía Hoa Kỳ có các đơn vị thuộc Sư Đoàn 1, 9 và 25. Kết quả của chiến dịch này khộng lấy gì làm tốt đẹp vì chủ lực địch tránh né chạm trán với ta.

Xa hơn nữa 1 chiến dịch thứ hai có tính cách đại quy mô được mở ra tại vùng Hậu Giang là chiến dịch ‘Trương Công Định’.

Tại giới tuyển các cuộc hành quân Lam Sơn 192, 193 và mang số kế tiếp được liên tiếp khai diễn. Tại Cao-Nguyên, mở cuộc hành quân MAC Arthur với sự hợp tác giữa Sư Đoàn 4 Bộ Binh Hoa Kỳ và các lực lượng thuộc Khu 23 Chiến Thuật. Tại Nam Tín, có cuộc hành quân Wallowa Wheeler, tại Quảng Ngãi hành quân MUSOATINE v.v… Đây chỉ là những cuộc hành quân có tính cách thông thường.

Về phía địch, từ đầu Xuân Mậu Thân qua các đợt tấn công lực lượng của chúng bị thiệt hại lớn lao, nhưng nhờ có một nguồn nhân lực dồi dào ở Bắc Việt tiếp viện bổ sung nên khả năng tham chiến của chúng vẫn giữ được một cách khả quan trên khắp các mặt trận.

Theo một bản ước tính khả năng địch từ ngày mở cuộc tổng công kích 29.1.68 đến ngày 29.2.68 lực lượng địch được xác nhận trước ngày tổng công kích chung các loại vào khoảng 323.500 người, số tổn thất địch được ước lượng trong thời gian trên khoảng 45.000 người, con số tổn thất này bao gồm các loại:

Cán binh thuộc các đơn vị tác chiến 18.600 tên
Cán binh thuộc cơ quan hậu cần 4.000 tên
Du kích địch 12.400 tên
Cán bộ chính trị 5.000 tên
Thường dân và dân công 5.000 tên
Cộng 45.000 tên

 

Trừ số tổn thất từ ngày tổng công kích, quân số địch còn lại tới ngày 29.2.68 là:

Quân số tác chiến 110.600 tên
Quân tham mưu, hậu cần 33.700 tên
Quân số du kích 60.200 tên
Cán bô chính trị 79.000 tên
Cộng 283.500 tên

 

Với quân số nêu trên, địch đã có đến 97 tiểu đoàn và 18 đại đôi trực tiếp tham chiến được phân chia ra như sau:

  • 35 tiểu-đoàn cộng với 18 đại đội tại Vùng 1 Chiến Thuật.
  • 28 tiểu đoàn tại Vùng 2 Chiến Thuật.
  • 15 tiểu đoàn tại Vùng 3 Chiến Thuật hầu hết được dùng đánh vào thủ đô
  • 19 tiểu đoàn tại Vùng 4 Chiến Thuật.

Trước khi mở cuộc tổng tấn công, địch đã trừ liệu trường hợp không thành công, chúng sẽ rút các đơn vị chiến đấu ra ngoài và tiếp tục bao vây lỏng các thị trấn. Trong khi đó, quân địch rút ra được bổ sung và nghỉ ngơi, đồng thời tiếp tục tấn công cục bộ tại một vài thị xã để duy trì áp lưc và giữ quân ta phải dàn quân ở khắp nơi để giữ. Và cũng kể từ thượng tuần tháng 3.68, địch áp dụng phương sách này duy trì áp lực bằng những trận pháo kích thất thường và những trận đánh nhỏ bằng bộ-binh không đáng kể.

(Còn tiếp)

Share this post