Trở lại trận Ban Mê Thuột 1975 – Lữ Giang

LTG: Bài này đã được viết và phổ biến trên tuần báo Saigon Nhỏ ngày 29.4.2005 để ghi nhớ 30 năm ngày mất miền Nam. Mới đó mà đã 10 năm rồi! Năm nay để ghi nhớ 40 năm ngày mất Miền Nam và rút kinh nghiệm lịch sử, chúng tôi hoàn chỉnh lại với một số tài liệu mới.

Để có thể hiểu một cách dễ dàng trận đánh Ban Mê Thuộc, chúng tôi xin tóm lược kế hoạch đánh chiếm miền Nam của Hà Nội lúc đó như sau: Khai thông con đường Đông Trường Sơn (tức đường 14) đưa quân vào Phước Long rồi đánh thẳng vào Sài Gòn, bỏ qua các tỉnh niền Trung. Muốn khai thông con đường này, phải phá hai cái chốt quan trọng mới đi qua được: Năm 1974 phá cái chốt Thường Đức ở phía tây Đà Nẵng, năm 1975 phá cái chốt Đức Lập ở phía tây Ban Mê Thuột và đưa lực lượng xuống Phước Long. Năm 1976 sẽ đánh vào Sài Gòn. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Tướng Ngô Quang Trưởng và Tướng Phạm Văn Phú có khả năng về quân sự thấp, không có tầm nhìn chiến lược, nên đoán mò và trúng kế đối phương, làm mất miền Nam một cách nhanh chóng.

Lữ Giang

Nhân kỷ niệm 30 năm ngày chiếm Ban Mê Thuột, trong một cuộc phỏng vấn đăng trên nhật báo Nhân Dân của Đảng CSVN số ra ngày 10.3.1975, Thượng Tướng Hoàng Minh Thảo, tư lệnh Mặt Trận Tây Nguyên, đã nói rằng sở dĩ Buôn Ma Thuột được lựa chọn vì đây là điểm mà lực lượng miền Nam Việt Nam ít chú ý hơn, có nhiều sơ hở và thuận lợi cho các đơn vị lớn hoạt động. Hơn nữa, miền Nam Việt Nam và cả các cố vấn Mỹ vẫn tin rằng miền Bắc chưa đủ sức đưa quân vào Ban Mê Thuột vào thời điểm đó.

Khi được đài BBC phỏng vấn, Tướng Thảo trả lời còn tệ hơn, ông chỉ lặp lại những luận điệu bố lếu bố láo cũ đã lỗi thời khiến người nghe phải bực mình. Điều này cũng dễ hiểu thôi: Tướng Hoàng Minh Thảo là cấp thừa hành, chỉ đâu đánh đó, có trình độ văn hóa thấp và chỉ có tầm nhìn chiến thuật, nên không thể biết được kế hoạch của Bộ Chính Trị và Quân Ủy Trung Ương ở Hà Nội như thế nào.

Cách đây 25 năm, khi mới đến Hoa Kỳ, chúng tôi đã viết một bài đầu tiên về trận đánh Ban Mê Thuột đăng trên báo Thời Luận ở Los Angeles, căn cứ vào các cuộc phỏng vấn các nhân chứng ở trong tù. Bài đó đã làm đảo ngược lại cách nhìn về những ngày ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa. Trước đó, một số người đi trước, nhất là Phạm Huấn, cứ nghĩ rằng các nhân chứng sẽ không bao giờ tới được đất Mỹ, nên đã viết phịa sử một cách thoải mái!

Nay đã 40 năm, thời gian đủ để cho chúng ta sưu tầm tài liệu, gạn lọc và suy nghĩ để trình bày lại vấn đề một cách chính xác hơn.

KẾ HỌACH CỦA CỘNG QUÂN

Như chúng tôi đã nói trong số báo ra ngày 11.3.2005, muốn chiếm miền Nam một cách nhanh chóng, kế hoạch của Hà Nội là phải đánh thẳng vào Sài Gòn, đầu não của miền Nam, bỏ qua các tỉnh miền Trung. Muốn thực hiện điều đó, Tướng Văn Tiến Dũng cho biết Hà Nội đã quyết định cho làm lại con đường Đông Trường Sơn, tức Quốc Lộ 14, bắt đầu từ Khe Hó ở Quảng Trị, xuống tận Tà Thiết ở Bình Long, tức vùng Chiến Khu Đ. Công trình này đã được khởi sự từ năm 1973, xử dụng khoảng 30.000 bộ đội và thanh niên xung phong. Khi làm con đường này, có hai cái chốt phải nhổ mới có thể khai thông được, đó là Thường Đức ở phía tây Đà Nẵng và Đức Lập, ở phía tây Ban Mê Thuột.

Trong cuốn “Kết Thúc Cuộc Chiến Tranh 30 Năm” Tướng Trần Văn Trà cho biết vào tháng 10 năm 1974, ông và Phạm Hùng ra Bắc họp, Bộ Chính Trị đã ra lệnh tại Nam Tây Nguyên phải mở hành lang chiến lược đoạn Đức Lập cho thông suốt. Năm 1976 sẽ bắt đầu đánh lớn.

Tại sao phải chiếm Đức Lập?

Đức Lập thuộc tỉnh Quảng Đức, một tỉnh nằm ở phía nam Ban Mê Thuột và sát vùng ngả ba biên giới Việt – Miên- Lào. Năm 1910, một người Pháp tên là Henri Maitre đi thám hiểm vùng Tây Nguyên đã khám phá ra vùng ba biên giới này. Nhưng khi người Pháp đến lập các căn cứ tại đây thì bị người Thượng chống trả rất quyết liệt. Năm 1932, Đại Úy Mallard từ Bandon thuộc tỉnh Darlac, đã theo sông Dak Dam đi lên và khám phá ra vùng DAKMIL nằm sát vùng Tam Biên là nơi có đất rất tốt, nên xin bình định và lập một đồn tại đây để kiểm soát và khai thác. Sau đó, Pháp đã cho làm một liên tỉnh lộ nối liền Bandon với Darmil dài 55 cây số và đặt tên là Liên tỉnh lộ 6. Vùng Dakmil là quận Đức Lập sau này.

Quốc Lộ 14, sau khi chạy qua Ban Mê Thuột, đã đi vào Đức Lập rồi chia thành hai nhánh, một nhánh đi thẳng qua Phước Long và Bình Long, nối liền với đầu Quốc Lộ 13, một nhánh đi về Gia Nghĩa rồi quẹo qua Kiến Đức, vào Phước Long và gọi là Quốc Lộ 14B.

Năm 1959, khi các hoạt động của Cộng quân gia tăng ở vùng Cao Nguyên và Chiến Khu Đ, chính phủ Ngô Đình Diệm đã quyết định thành lập tỉnh Quảng Đức để kiểm soát vùng Tam Biên và chặn đường đi xuống Chiến Khu Đ của Cộng quân. Tỉnh này gồm 3 quận là Kiến Đức, Khiêm Đức và Đức Lập. Tỉnh lỵ đặt tại Gia Nghĩa.

Để khai thông Thường Đức, trong hai tháng 7 và 8 năm 1974, Cộng quân đã huy động gần 3 sư đoàn thiện chiến để thanh toán cái chốt này. Sau đó, Cộng quân làm khúc đường 14 từ Quảng Nam đến Phước Long ở cả hai chiều cùng một lúc, một chiều từ Phước Long đi lên Quảng Đức và một chiều từ Quảng Nam đi vào. Tại khúc Kontum, Pleiku và Ban Mê Thuột, Quân Lực VNCH đang trần đóng trên quốc lộ 14, nên Cộng quân phải làm con đường thứ hai đi vòng sau Kontum, Pleiku và Ban Mê Thuột để vào Quảng Đức và đặt tên là Quốc Lộ 14A. Khi tới Đức Lập, con đường bị kẹt ở đây nên Cộng quân phải thanh toán Đức Lập bằng mọi giá. Tuy nhiên, chiếm xong Đức Lập mà muốn giữ vững cái chốt này, phải chiếm luôn Ban Mê Thuột vì từ Ban Mê Thuộc, quân lực VNCH có thể đánh chiếm lại.

Ban Mê Thuột là tỉnh lỵ của tỉnh Darlac, có độ cao khoảng 536 thước và cách Sài Gòn 353 cây số. Vùng đất này ngày xưa thuộc sắc tộc Rhadé Kpa, do Tù Trưởng Ama Y Thuột cai quản (có sách viết là Maya Thuột). Theo truyền tụng, trước đây Ban Mê Thuột được gọi là Buôn Ma Thuột, vì theo thổ ngữ của sắc tộc Rdadé, Buôn có nghĩa là làng hay ấp, Ma là ông, còn Thuột là tên riêng. Buôn Ma Thuột là làng của ông Thuột. Năm 1923 tỉnh Darlac được thành lập và đặt dưới quyền cai trị của Công Sứ Sabatier. Đây là một vùng đất phì nhiêu và là cửa ngỏ quan trọng của đường giao thông từ Tây Nguyên xuống Nam Phần.

KHÔNG NHẬN RA KẾ HOẠCH CỦA ĐỊCH

Như chúng tôi đã trình bày trong số ra ngày 1.4.1975, trong cuộc họp vào đầu tháng 10 năm 1974 tại Dinh Độc Lập, Tướng Phạm Văn Phú đã nhận định: “Đối phương có thể đẩy nỗ lực chính vào việc đánh mạnh Kontum – Pleiku, cắt đường 14, đường 19 (nối Quy Nhơn với Pleiku).”
Ông không tiên đoán được Cộng quân sẽ đánh Đức Lập và Ban Mê Thuột để khai thông đường Đông Trường Sơn. Cộng quân không hề định đánh Kontum hay Pleiku như ông đoán.

Tướng Nguyễn Văn Thiệu cũng không nắm vững chiến lược và chiến thuật của Cộng quân nên đã nhận định rất vu vơ: “Có thể Cộng Sản sẽ mở tiến công trong Đông – Xuân, quy mô lớn hơn 1972, kéo dài cả năm. Mục tiêu chung nhằm đánh phá bình định và diệt nguồn sinh lực của ta. Có thể Cộng Sản đánh chiếm Quảng Trị trên cơ sở cô lập Huế – Đà Nẵng. Lấy Kontum để áp lực Bắc Bình Định, lấy Tây Ninh làm thủ đô và ung thối đồng bằng sông Cửu Long.”

Tướng Trần Văn Minh, tư lệnh Không Quân, đã báo cáo rằng theo không ảnh, Cộng quân đã khai thông được đường Đông Trường Sơn và hệ thống ống dẫn dầu đã phát triển tới tây bắc Bến Giằng (tức Thường Đức, Quảng Nam). Nhưng chẳng ai thèm để ý.

TIN TỨC TÌNH BÁO DỒN DẬP

Đại Tá Trịnh Tiếu, trưởng Phòng 2 của Quân Đoàn 2, kể lại rằng nhờ hệ thống truyền tin điện tử, Quân Đoàn 2 VNCH đã mở được hầu hết các khóa mật mã của Cộng Quân đánh đi. Nhờ vậy, từ tháng 12 năm 1974 Quân Đoàn 2 đã biết được Cộng quân đang chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột.

Đại Tá Phùng Văn Quang, trung đoàn trưởng Trung Đoàn 45 thuộc Sư Đoàn 23 cho biết một tiểu đoàn của Trung Đoàn 45 đang hành quân trên Quốc Lộ 14 gần quận Thuần Mẫn thì một cán binh Việt Cộng ra xin đầu thú. Anh ta khai tên là Sinh (có người nói là Sính), một sĩ quan truyền tin, có nhiệm vụ bắt đường dây điện thoại ngang qua Quốc Lộ 14 nối liền Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 320 ở phía tây quốc lộ này với một đơn vị đang đóng ở quận Thuần Mẫn. Khi điều tra thì khám phá ra anh ta chỉ là một thượng sĩ chớ không phải sĩ quan. Vì giữ nhiệm vụ truyền tin, anh ta biết khá nhiều về kế hoạch hành quân của Sư Đoàn 320 và các đơn vị phối hợp. Anh cho biết Sư Đoàn 320 đang đóng ở phía tây Quốc Lộ 14 gần quận Buôn Hô và đang chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột. Khi tin này được báo về Quân Đoàn 2, Tướng Phú ra lệnh Trung Đoàn 45 cho một tiểu đoàn hành quân lục soát hai bên quốc lộ 14, từ Ban Mê Thuột đến Pleiku để phát hiện Cộng quân. Đại Tá Quang nói ông đã cho lục soát nhưng không thấy gì. Sau này ông tiết lộ rằng tiểu đoàn đó chỉ lục soát mỗi bên Quốc Lộ 14 khoảng 1 cây số, trong khi Sư Đoàn 320 đóng xa quốc lộ đến 5 cây số nên không thể phát hiện được. Sau khi đưa ra nhiều hứa hẹn, tên Sinh đồng ý hướng dẫn trực thăng đến trên vùng Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 320 đang đóng. Đại Tá Quang nói rằng theo sự chỉ dẫn của tên Sinh, ông đã nhìn thấy phía dưới các cơ sở chứng minh có Cộng quân đang đóng quân tại đó và đã báo cáo cho Tướng Phú biết.

Mặc dầu có tin Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 320 đã chuyển từ Kontum về phía bắc Ban Mê Thuột, nhưng cơ quan truyền tin của Quân Đoàn 2 cho biết họ vẫn nhận được các tín hiệu truyền tin của Sư Đoàn này phát đi từ một căn cứ ở Kontum. Căn cứ vào báo cáo này, Tướng Phú cho rằng Sư Đoàn 320 vẫn còn tại Kontum và những lời khai của tên Sinh chỉ là một kế nghi binh của Cộng quân để đánh Pleiku.

Trong thực tế, Sư Đoàn 320 đã chuyển về phía bắc Ban Mê Thuột nhưng tiếp tục cho phát các tín hiệu truyền tin từ Kontum để đánh lạc hướng.

Đầu tháng 2/1975, Phòng 2 Quân Đoàn khám phá ra một thông báo của Cộng quân về cuộc họp vào ngày 1.2.1975 của Tư Lệnh các Sư Đoàn 320, F.10 và 968 tại vùng phía tây Đức Cơ để khai triển chiến dịch 275. Thông báo này do một người tên Tuấn ký tên. Tuấn là một trong những bí danh của Văn Tiến Dũng.

Một nữ du kích hồi chánh ở Ban Mê Thuột cho biết Trung Đoàn 25 của Cộng quân đã được lệnh ăn Tết trước để chuyển quân về vùng Khánh Dương ở phía đông Ban Mê Thuột và một số đơn vị thuộc Sư Đoàn F.10 đã có mặt xung quanh quận Đức Lập, phía tây nam Ban Mê Thuột. Các thợ rừng báo cáo họ thấy nhiều đơn vị Cộng quân lẩn quẩn trong vùng phía bắc và phía tây Ban Mê Thuột… Những tin tức này cho thấy Cộng quân đang chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột.

Trung Tá Ngô Văn Xuân, trung đoàn trưởng Trung Đoàn 44, cho biết vào Tết Ất Mão (1975), Trung Đoàn 44 đang đóng ở căn cứ 801, cách tỉnh lỵ Pleiku khoảng 20 cây số về hướng tây bắc, đã được Quân Đoàn 2 chỉ định tiếp đón tổng thống đến ăn Tết. Đúng 12 giờ trưa ngày mồng một Tết (11.2.1975), tổng thống từ Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2 đến Trung Tâm Hành Quân của Trung Đoàn 44 bằng trực thăng cùng với các Tướng Trần Văn Trung, Lê Nguyên Khang và Phạm Văn Phú. Tại đây, Trung Tá Điều Ngọc Chuy, trưởng Phòng 2 Sư Đoàn 23, đã trình bày về tình hình chung của các khu vực trách nhiệm đang do Sư Đoàn 23 trấn giữ, đặc biệt nhấn mạnh đến chi tiết về cung từ của một cán binh Cộng Sản thuộc Sư Đoàn 320 ra đầu thú cho biết rõ các chi tiết Cộng quân đang chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột. Tổng thống có vẽ đăm chiêu rồi quay lại hỏi Tướng Phú. Tướng Phú nhận định rằng có thể Việt Cộng đưa ra một kế trá hàng nhằm đánh lạc hướng chú ý của ta. Theo ông, Pleiku là điểm, Ban Mê Thuột chỉ là diện, bởi vì Pleiku có cơ sở đầu não là Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2. Nếu Cộng quân tiêu diệt được cứ điểm này, chúng sẽ dễ dàng làm chủ được toàn bộ Cao Nguyên và tỏa xuống khu vực duyên hải. Tổng Thống Thiệu suy nghĩ trong giây lát, rồi ra lệnh cho Tướng Phú đưa toàn bộ Sư Đoàn 23 về lại Ban Mê Thuột. Tổng Thống nói địa thế Pleiku là khu vực trống trải, bao gồm nhiều đồi thấp và trọc, có tầm quan sát rộng, Cộng quân không bao giờ dám đương đầu trên những khoảng trống như vậy. Tổng Thống hứa sẽ cho thêm một Liên Đoàn Biệt Động Quân để làm lực lượng trừ bị. Tướng Phú đáp: “Xin tuân lệnh!”

Sau khi nghe thuyết trình, Tổng Thống Thiệu không đi Kontum như đã dự định mà đến Ban Mê Thuột và Quảng Đức để thăm và ủy lạo các binh sĩ.

Đại Tá Trịnh Tiếu cho biết ngày 15.2.1975, Tướng Phú đã mở một cuộc họp tại Quân Đoàn 2 để kiểm điểm tình hình trong Quân Khu 2, có Lãnh Sự Mỹ ở Nha Trang lên tham dự. Đại Tá Tiếu đã trình bày thêm các tài liệu cho biết Cộng quân sẽ đánh Ban Mê Thuột, nhưng Tướng Phú cứ chần chờ, không chịu ra lệnh chuyển quân.

Trung Tá Ngô Văn Xuân cho biết đến ngày 17.2.1975 Tướng Phú mới triệu tập phiên họp để đặt kế hoạch chuyển quân về Ban Mê Thuột theo lệnh tổng thống. Theo kế hoạch này, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 sẽ di chuyển bằng đường bộ, khi qua khu đèo Tử Sĩ, Trung Đoàn 45 sẽ đi theo tháp tùng. Trung Đoàn 44 đợi một Liên Đoàn Biệt Động Quân đến thay thế trong vòng 3 ngày và sẽ đi sau.

Tám giờ sáng ngày 18.2.1975, đoàn quân tập trung tại căn cứ Hàm Rồng để khởi hành, nhưng đến 11 giờ Tướng Phú ra lệnh hủy bỏ việc chuyển quân. Ông nói Cộng quân sẽ đánh Pleiku và việc Cộng quân chuyển quân quanh Ban Mê Thuột là để nghi binh mà thôi. Lệnh của Tướng Phú đã làm cả Quân Đoàn 2 ngạc nhiên.

PHỐI TRÍ LỰC LƯỢNG CỦA HAI BÊN

I.- Phối trí của Quân Lực VNCH: Cao Nguyên Trung Phần gồm bốn tỉnh: Kontum, Pleiku, Darlac và Quảng Đức. Tướng Phạm Văn Phú đã phối trí quân để phòng thủ Cao Nguyên như sau:

1.- Mặt trận Kontum: Mặt Trận này do Đại Tá Phạm Duy Tất, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân Quân Khu 2 chỉ huy, gồm có:

– Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân với Tiểu Đoàn 96 đóng ở đèo Chu Pao và Tiểu Đoàn 72 đóng ở Kontum. Tiểu Đoàn 89 biệt phái cho Liên Đoàn 6 Biệt Động Quân đóng tại nam Kontum.
– Liên Đoàn 22 Biệt Động Quân với Tiểu Đoàn 95 đóng tại Trương Nghĩa phía tây Kontum, Tiểu Đoàn 88 đóng tại Ngọc Bay ở phía tây bắc Kontum và Tiểu Đoàn 62 đóng tại Kontum.
– Liên Đoàn 23 Biệt Động Quân với ba Tiểu Đoàn 11, 22 và 23 đóng ở phía bắc Kontun, dọc theo quốc lộ 14.

Về sau, Bộ Tổng Tham Mưu gởi Liên Đoàn 6 Biệt Động Quân đến tăng cường cho Cao Nguyên với hai Tiểu Đoàn 35 và 36 đóng ở phía đông và đông bắc Kontum. Tiểu Đoàn 52 được tăng cường cho Liên Đoàn 25 Biệt Động Quân tại Thanh An, Pleiku.
Như vậy có 4 Liên Đoàn Biệt Động Quân trấn giữ Kontum. Tướ
ng Phú rất sợ Cộng quân sẽ mở một cuộc tấn công vào Kontum như “mùa hè đỏ lửa” năm 1972.

2.- Mặt trận Pleiku: Mặt trận này do Chuẩn Tướng Lê Trung Tường, Sư Đoàn Trưởng Sư Đoàn 23 chỉ huy, gồm có:

– Trung Đoàn 44 đóng ở căn cứ 801 cách tỉnh lỵ Pleiku 20 cây số về phía tây.
– Trung Đoàn 45 đóng ở căn cứ Gầm Ga, phía bắc quận Thuần Mẫn, gần đèo Tử Sĩ, dọc theo quốc lộ 14, giữa Ban Mê Thuột và Pleiku.
– Liên Đoàn 25 Biệt Động Quân với ba Tiểu Đoàn 67, 76 và 90 đóng tại Thanh An, phía tây Pleiku.

Sau này, Bộ Tổng Tham Mưu gởi thêm Liên Đoàn 4 Biệt Động Quân đến Pleiku với Tiểu Đoàn 42 đóng tại Ban Can phía đông Pleiku, trên quốc lộ 19; Tiểu Đoàn 43 đóng tại Hàm Rồng và Tiểu Đoàn 44 đóng tại Pleiku. Sau khi Ban Mê Thuột bị thất thủ, Liên Đoàn 7 Biệt Động Quân được phái đến thay hai Trung Đoàn 44 và 45 của Sư Đoàn 23 để hai Trung Đoàn này đi chiếm lại Ban Mê Thuột.

Bộ Tư Lệnh Hành Quân của Sư Đoàn 23 đặt tại Hàm Rồng, cách tỉnh lỵ Pleiku 12 cây số về phía nam, cùng với Tiểu Đoàn 43 của Liên Đoàn 4 Biệt Động Quân.

3.- Mặt trận Ban Mê Thuột và Quảng Đức: Mặt Trận này do Đại Tá Vũ Thế Quang, Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 23 chỉ huy, gồm có:

– Trung Đoàn 53 với hai Tiểu Đoàn 1 và 3 đóng tại căn cứ B.50 ở phi trường Phùng Dực và Tiểu Đoàn 2 đóng tại Dak Soong ở Quảng Đức.
– Liên Đoàn 24 Biệt Động Quân với Tiểu Đoàn 63 đóng tại Gia Nghĩa, hai Tiểu Đoàn 81 và 82 đóng xung quanh Kiên Đức.

Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 đóng tại Ban Mê Thuột.

II.- Phối trí của Cộng quân: Lực Lượng của Cộng quân ở Cao Nguyên gồm có Sư Đoàn 320 đóng ở Kontum, Sư Đoàn F.10 hoạt động ở Pleiku, Sư Đoàn 986 trú quân tại vùng Tam Biên Việt – Miên – Lào, Trung Đoàn biệt lập 25, một trung đoàn khá thiện chiến, luôn quấy phá ở hai tỉnh Darlac và Quảng Đức, và Trung Đoàn đặc công 95-B, một trung đoàn rất thông thạo về địa hình ở Cao Nguyên, thường đóng ở phía đông Pleiku. Trung Tướng Hoàng Minh Thảo là Tư Lệnh. Thiếu Tướng Vũ Lăng, Đại Tá Phạm Hàm và Đại Tá Nguyễn Lăng làm Tư Lệnh Phó. Đại Tá Nguyễn Hiệp làm Chính Ủy.

CHUẨN BỊ ĐÁNH BAN MÊ THUỘT

Tỉnh Darlac lúc đó có 4 quận: Lạc Thiện ở hướng đông, Phước An ở đông bắc, Buôn Hô ở bắc và Ban Mê Thuột là quận châu thành, tức thị xã Ba Mê Thuột. Toàn tỉnh Darlac lúc đó có khoảng 150.000 dân gồm nhiều sắc tộc khác nhau, riêng Ban Mê Thuột có khoảng 60.000 người. Nơi đây có nhiều đồn điền, đa số là rừng cao su và cà phê, không có các chướng ngại thiên nhiên để giúp phòng thủ như ở Kontum hay Pleiku nên rất dễ bị tấn công. Lực lượng phòng thủ lại rất yếu: Nghĩa Quân và Địa Phương Quân phần lớn là người Thượng, không thiện chiến, thiếu tinh thần kỷ luật và không được trang bị đầy đủ. Tất cả trông chờ vào Trung Đoàn 53 của Sư Đoàn 23, nhưng Trung Đoàn này phải bao bọc một vùng lãnh thổ quá lớn gồm 2 tỉnh, vừa Quảng Đức vừa Darlac, nên khó bảo vệ nổi.

Để đánh Ban Mê Thuột, Cộng quân huy động 4 Sư Đoàn: Sư Đoàn 3 Sao Vàng ở Bình Định, Sư Đoàn F10 ở Pleiku, Sư Đoàn 320 ở Kontum, Sư Đoàn 968 đang đóng ở vùng Tam Biên và Sư Đoàn 316 mới từ ngoài Bắc vào tăng cường. Ngoài ra, Cộng quân còn xử dụng Trung Đoàn biệt lập 25 để chận đường tiếp viện, Trung Đoàn Đặc Công 168 và Trung Đoàn 95B để làm mũi nhọn tấn công.
Trước hết, Cộng quân ra lệnh cho Sư Đoàn 968 đang đóng ở vùng Tam Biên kéo về phía tây Quận Thanh An ở phía tây Pleiku để thay cho Sư Đoàn F10 tiến về phía tây Ban Mê Thuột. Đại Úy Trác Ngọc Anh, một sĩ quan không báo của Quân Đoàn 2, đã nói với chúng tôi rằng vào cuối tháng 1 năm 1975, khi máy bay L.19 chở anh đang bay thám thính trên con đường từ vùng Tam Biên về Thanh An thì anh phát hiện ra một đoàn quân xa độ một trăm chiếc đang chạy từ Tam Biên về Pleiku. Anh thông báo ngay về Phòng 2 của Quân Đoàn. Một lúc sau, cơ quan quân báo của Hoa Kỳ đã nói vào máy cho biết đó là các xe chuyển quân của Sư Đoàn 968 của Cộng quân. Quân Đoàn 2 đã xin Bộ Tổng Tham Mưu huy động các phi cơ A.37 của Sư Đoàn 2 và Sư Đoàn 6 Không Quân đến oanh kích. Cuộc oanh kích kéo dài từ 9 giờ sáng đến quá trưa, nhưng vẫn còn thấy một số xe đang chạy. Bộ Tổng Tham Mưu phải điều động thêm Sư Đoàn 1 Không Quân ở Đà Nẵng vào trợ chiến. Cuộc oanh kích kéo dài đến 4 giờ chiều mới chấm dứt. Một máy bay C.47 của Bộ Tổng Tham Mưu đã đến chụp hình và thấy khói bay ngụt trời, nhiều tiếng nổ từ dưới đất đang phát ra và vô số xe bị bắn cháy nằm rải rác trên đường. Sau chiến công này, Quân Đoàn 2 được khen thưởng và Trung Úy Trác Ngọc Anh (đang ở Boston) được vinh thăng đại úy.

Bị thiệt hại nặng trong vụ oanh kích đó, Sư Đoàn 968 không còn khả năng chiến đấu như lúc đầu nữa, Bộ Chỉ Huy Tây Nguyên của Cộng quân đã điện về Hà Nội cầu cứu. Hà Nội liền ra lệnh rút gấp Sư Đoàn 316 đang đóng ở vùng biên giới Lào-Việt ở phía tây Nghệ Tĩnh đưa vào Cao Nguyên Trung Phần thay thế cho Sư Đoàn 968 làm mũi dùi tấn công Ban Mê Thuột. Sư Đoàn 316 là một Sư Đoàn cơ động nhẹ, chỉ có 2 Trung Đoàn, nên khi đi qua Thừa Thiên đã được tăng cường thêm một trung đoàn của Sư Đoàn 324 đang đóng tại đây. Sau đó, Hà Nội còn cho thêm Trung Đoàn 29B ở Đà Nẵng.

Có đủ quân số rồi, Cộng quân phối trí như sau: Sư Đoàn 3 Sao Vàng từ Bình Định đem hai Trung Đoàn đóng ở phía tây đèo An Khê, cắt quốc lộ 19 nối liền Bình Định và Pleiku để chận đường tiếp viện của Sư Đoàn 22 của VNCH và nghi binh.

Sư Đoàn F10 từ Pleiku tiến về phía tây Ban Mê Thuột, vây quận Đức Lập, cắt con đường 14 nối liền Ban Mê Thuột với Đức Lập.

Sư Đoàn 320 từ Kontum di chuyển về phía bắc Ban Mê Thuột, đóng cách quốc lộ 14 về phía tây 5 cây số để chận quốc lộ 14 từ Pleiku đến Ban Mê Thuộc. Một tiểu đoàn của Sư Đoàn này đã băng qua quốc lộ 14, khúc cầu 210 (còn gọi là cầu Ialeo) và tiến về phía đông, đóng chốt trên tỉnh lộ 287 nối liền tỉnh Phú Bổn với quận Thuần Mẫn ở phía đông bắc Ban Mê Thuột.
Trung Đoàn 25 tiến về phía đông Ban Mê Thuột, chận quốc lộ 21 nối liền tỉnh Khánh Hòa với Ban Mê Thuột, khúc đèo Chư Cúc, giữa quận Khánh Dương của Khánh Hòa và quận Phước An của tỉnh Darlac.

Sư Đoàn 968 sau khi được bổ sung, đã tiến về phía tây Pleiku, có nhiệm vụ gây rối để cầm chân 2 Trung Đoàn của Sư Đoàn 23 đang ở lại Pleiku.

Trung Đoàn 95B tiến về phía đông bắc Ban Mê Thuột chuẩn bị tấn công.

Sư Đoàn cơ động nhẹ 316 mới từ Bắc vào sẽ làm mũi nhọn đánh vào thành phố Ban Mê Thuột, nhưng sợ sư đoàn này thiếu kinh nghiệm, không nắm vững địa hình địa vật, sẽ không hoàn thành nhiệm vụ, nên Hà Nội chỉ thị cho một tiểu đoàn của Trung Đoàn 95B hướng dẫn sư đoàn này.

Qua các khóa mật mã mở được, Quân Đoàn 2 cũng biết đích xác ngày giờ Tướng Văn Tiến Dũng sẽ vào Nam bằng đường Tây Trường Sơn rồi xuống đường Đông Trường Sơn để vào Ban Mê Thuột. Ngày Văn Tiến Dũng đi qua phía tây Kontum, Quân Đoàn 2 đã cho thả một đại đội trinh sát xuống quãng đường này để phục kích nhưng không gặp Văn Tiến Dũng vì đường Đông Trường Sơn ở khúc đó có quá nhiều nhánh, không biết đoàn xe đi đường nào.

CỘNG QUÂN CẮT ĐƯỜNG VÀ ĐÁNH NGHI BINH

Ngày 1.3.1975, Sư Đoàn 3 Sao Vàng tiến lên chốt đèo Mang Yang trên quốc lộ 19 nối liền Pleiku với Quy Nhơn và gây áp lực mạnh ở phía đông Pleiku. Điều này càng làm cho Tướng Phú tin hơn nữa rằng Cộng quân sẽ đánh Pleiku. Tướng Phú xin thêm viện binh để giữ mặt này. Liên Đoàn 4 Biệt Động Quân được gởi đến tăng viện cho Pleiku. Tướng Phú liền ra lệnh Thiết Đoàn 2 của Lữ Đoàn 2 Kỵ Binh do Đại Tá Nguyễn Văn Đồng chỉ huy phối hợp với Liên Đoàn 4 trấn giữ phía đông Pleiku.

Cũng trong ngày 1.3.1975, Sư Đoàn 968 tấn công chiếm hai đồn ở phía tây Thanh An cách Pleiku 15km hướng tây nam và áp sát vào quận Thanh An. Điều này càng làm cho Tướng Phú tin Cộng quân sẽ đánh Pleiku.

Ngày 2.3.1975 Trưởng chi nhánh CIA tại Quân khu II là Howard Arche từ Nha Trang bay lên Ban Mê Thuột thông báo cho Đại Tá Nguyễn Trọng Luật biết Cộng quân đang chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột và yêu cầu Đại Tá Luật phải đề phòng. Đại Tá Luật thông báo cho Quân Đoàn 2 thì ở đây cho biết cũng đã nhận được công điện của CIA vào buổi sáng. Tướng Phú liền ra lệnh cho Trung Đoàn 53 rút một tiểu đoàn đang hành quân tại Quảng Đức về phòng thủ Ban Mê Thuột và cho biết sẽ đưa Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân từ Kontum đến tiếp ứng. Cũng trong ngày này, tình báo của Cảnh Sát báo cáo phát hiện một đơn vị Cộng quân lảng vảng ở rừng cao su phía đông Ban Mê Thuột, gần quốc lộ 21.

Ngày 4.3.1975, Sư Đoàn 3 Sao Vàng đem quân cắt đứt quốc lộ 19 từ Quy Nhơn đến Pleiku ở khúc Bình Khê và Suối Đôi. Đèo An Khê từ Bình Định đi lên Pleiku và đèo Mang Yang từ Pleiku đổ xuống Bình Định đều bị Cộng quân chiếm đóng. Liên đoàn 4 Biệt Động Quân và Thiết đoàn 2 được lệnh từ Pleiku đánh xuống, còn Trung Đoàn 42 của Sư Đoàn 22 từ Bình Định đánh lên, nhưng cũng không phá được hai cái chốt này.

Qua ngày 5.3.1975, Trung Đoàn 25 của Cộng quân thanh toán một căn cứ địa phương quân ở đèo Chư Cúc trên quốc lộ 21 nối quận Khánh Dương của tỉnh Khánh Hòa và quận Phước An của tỉnh Darlac. Một đoàn quân xa của Quân Lực VNCH di chuyển qua đèo Chư Cúc đã bị Cộng quân phục kích và bắn cháy, các binh sĩ bị bắt.

Như vậy hai con đường 19 và 21 nối liền vùng duyên hải với Cao Nguyên đã bị cắt đứt.
Vào trưa 5.3.1975, Sư Đoàn 320 cho một tiểu đoàn chận đánh một đoàn quân xa của Trung Đoàn 45 gồm 14 chiếc di chuyển trên quốc lộ 14, khúc phía bắc quận Thuần Mẫn. Đoàn xe này có kéo theo một khẩu đại bác 105 ly. Được tin này, Tướng Phú lại ra lệnh cho Trung Đoàn 45 đưa một tiểu đoàn hành quân lục lọi hai bên quốc lộ 14 để tìm các dấu vết của Sư Đoàn 320, nhưng không phát hiện được gì.

Ngày 7.3.1974, Cộng quân chiếm cứ điểm Chư Xê phía bắc Buôn Hô và cắt đứt quốc lộ 14. Sau đó, Cộng quân cho pháo kích vào Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2 tại Phi Trường Cù Hanh ở Pleiku và mở những trận đánh lớn ở Bình Định để cầm chân Sư Đoàn 22 và đánh lạc hướng. Tướng Phú đã lấy máy bay đi quan sát mặt trận Bình Định. Đại Tá Trịnh Tiếu, Trưởng Phòng 2 Quân Đoàn 2, kể rằng sau khi thị sát các mặt trận Tam Quan, Bồng Sơn và đèo Mang Yang, Tướng Phú đã đưa ông và và một sĩ quan khác về Nha Trang ăn cơm tối ở nhà ông. Tại đây, bà Phú đã lên tiếng khiển trách các sĩ quan Quân Đoàn 2 trong việc cho oanh tạc cơ phá hủy đoàn xe của Sư Đoàn 968. Theo bà, Việt Cộng chỉ muợn đường của Quân Đoàn 2 để đi vô Nam, nhưng vì Quân Đoàn 2 đánh họ nên bây giờ họ đánh trả lại khắp nơi. Tướng Phú ngồi im lặng và tỏ ra chán nản.
Ngày 8.3.1975, Trung Đoàn 48 của Sư Đoàn 320 đánh chiếm quận Thuần Mẫn nằm trên tỉnh lộ 287 nối liền tỉnh lỵ Hậu Bổn với quốc lộ 14 và căn cứ Gầm Ga cách Ba Mê Thuột khoảng 60 cây số về phía bắc. Tại quận lỵ Thuần Mẫn chỉ có một tiểu đoàn địa phương quân và Đại Đội 23 Trinh sát của Sư Đoàn 23 trấn đóng nên không cầm cự được lâu và đã thất thủ sau nhiều giờ giao tranh. Đường 14 bị cắt thêm ở khúc quận Thuần Mẫn.

QUẬN ĐỨC LẬP BỊ THẤT THỦ

Ngày 9.3.1975, lúc 5 giờ 35, Sư Đoàn F10 của Cộng quân bắt đầu tấn công quận Đức Lập, căn cứ Núi Lửa và căn cứ 23 để khai thông đường 14 dẫn xuống Phước Long và Lộc Ninh. Các căn cứ này ở cách thị xã Ban Mê Thuột khoảng 50km về phía tây, trên biên giới Việt-Miên-Lào. Trung Đoàn 28 đánh chiếm căn cứ Núi Lửa, Trung Đoàn 66 đánh chiếm căn cứ 23, sau đó tập trung đánh vào quận lỵ Đức Lập.

Khoảng 10 giờ sáng ngày 9.3.1975, Tướng Phú và Bộ Tham Mưu Quân Đoàn 2 đã bay về Ban Mê Thuột họp với Chuẩn Tướng Lê Trung Tường, Tư Lệnh Sư Đoàn 23, Đại Tá Võ Thế Quang, Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 23, Đại Tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh Trưởng Darlac, Đại Tá Nguyễn Văn Nghìn, Tỉnh Trưởng Quảng Đức và Trung Tá Võ Ân, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 53 của Sư Đoàn 23. Đại Tá Nguyễn Văn Nghìn báo cáo Cộng quân đã tấn công vào Đức Lập từ 5 giờ sáng với cấp số lớn, tình hình rất bi đát. Bộ Chỉ Huy Chi Khu bị trúng nhiều đạn 130 ly, bị hư hại nặng nên Chi Khu Trưởng phải đưa Bộ Chỉ Huy ra khỏi quận, nhưng vẫn đang chiến đấu. Tướng Phú theo dõi một tiểu đoàn của Trung Đoàn 53 đang chiến đấu với Sư Đoàn F10 ở quận Đức Lập và được biết Trung Tá Nguyễn Cao Vực, Quận Trưởng Đức Lập, đã bị thương nhưng vẫn phải chỉ huy hai khẩu đại bác 105 ly bắn trực xạ để chống lại chiến thuật tấn công biển người của Cộng quân. Tướng Phú suy nghĩ và nói rằng tình hình Đức Lập không thể cứu vãn được nữa nên không tăng viện.

Khoảng gần 12 giờ, Tướng Phú đến thăm Chi Khu Darlac, ăn cơm trưa với Tướng Tường, Đại Tá Nghìn và Đại Tá Luật. Tướng Phú ăn vội vàng rồi ra phi trường Phụng Dực đáp máy bay về Pleiku để theo dõi tình hình chung của Quân Đoàn. Trước khi lên máy bay, ông quay lại nói với Đại Tá Luật: “Chú mày cẩn thận, coi chừng chúng nó đánh nghe!”.

Tối 9.3.1975, quận Đức Lập bị thất thủ. Sư Đoàn F10 của Cộng quân đã làm chủ tình hình ở phía tây nam Ban Mê Thuột và đang tiến về thị xã Ban Mê Thuột.

THỊ XÃ BAN MÊ THUỘT BỊ CHIẾM

Các lực lượng của VNCH trong thị xã Ban Mê Thuột và vòng đai thành phố lúc đó có không tới 3.000 quân, tương đương với 4 tiểu đoàn, được phối trí như sau:

Phía đông Ban Mê Thuột là Trung Tâm Huấn Luyện của Sư Đoàn 23 Bộ binh và Ban Chỉ huy Chi Khu Ban Mê Thuột. Phía tây có hậu cứ Thiết đoàn 8 Kỵ binh và kho đạn Mai Hắc Đế. Phía bắc là Bộ Chỉ huy Cảnh sát Quốc gia tỉnh Darlac cùng với một đơn vị Cảnh sát Dã chiến. Đóng rải rác trong cả tỉnh Darlac có sáu tiểu đoàn Địa phương quân và một số trung đội Nghĩa quân. Hai tiểu đoàn của Trung Đoàn 45, một giữ ở ngã ba Dak Sak và một ở căn cứ B50 ở gần phi trường Phụng Dực cách thị xã Ban Mê Thuột 7km. Bản doanh Sư Đoàn 23 đóng ở đường Mai Hắc Đế.
Địa phương quân và Nghĩa quân được phân tán đi bảo vệ các kho trong thành phố. Cảnh Sát Dã Chiến được phân chia bố trí ở các cao ốc. Tướng Phú hứa sẽ cho thêm một chi đoàn Thiết Giáp và cho rút hai tiểu đoàn Địa Phương Quân của Liên Đoàn 204 Địa Phương Quân ở Bản Đôn về bảo vệ thị xã. Đại đội 45 Trinh sát của Trung Đoàn 45 đang hành quân ở Bản Đôn nhận lệnh gấp rút trở về.

Điều đáng ngạc nhiên là cho đến giờ phút đó, khi mọi tin tức quân báo và tình hình thực tế xác định Cộng quân đang chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột, Tướng Phú vẫn cho rằng Cộng quân sẽ đánh Pleiku. Trung Tá Lê Nguyên Phả, Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn 23, cho biết Tướng Phú đã nhận định rằng sau Đức Lập, Cộng quân sẽ đánh Buôn Hô nên đã chỉ thị cho Đại Tá Lê Khắc Lý, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn 2, xin Bộ Tổng Tham Mưu cho trực thăng chuyển Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân đang đóng tại Kontum, thả xuống quận Buôn Hô, cách thành phố Ban Mê Thuột khoảng 30 cây số về phía bắc. Cuộc chuyển quân khởi sự từ 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều mới chấm dứt. Nếu Tướng Phú cho thả Liên Đoàn này xuống ngay Ba Mê Thuột, Cộng quân rất khó đánh chiếm.
Để đánh Ban Mê Thuộc, Cộng quân xử dụng Trung Đoàn 198 Đặc Công, Trung Đoàn 95B, Sư Đoàn 316 và một phần của Sư Đoàn F10. Sư Đoàn 320 và phần lớn Sư Đoàn F10 đóng ở vòng ngoài để chận tiếp viện và tiếp ứng khi cần. Số quân được ước tính khoảng 40.000.

1.- Số phận của Tiểu Khu Darlac

Khoảng 2 giờ sáng ngày 10.3.1975, Cộng quân bắt đầu tấn công vào thị xã Ban Mê Thuộc. Trước hết, từ hướng tây thị xã (khu vực Bandon) Cộng quân dùng đại bác 130 ly và hỏa tiễn H-12 (12 nòng) có tầm bắn 8km, bắn như mưa vào Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23, Tiểu Khu Darlac, trại pháo binh và thiết giáp, sân bay thị xã và sân bay Phụng Dực, theo chiến thuật “tiền pháo hậu xung”. Sau đó, mở cuộc xung phong:

Trung Đoàn 198 Đặc Công cùng với chiến xa T.54 đánh kho đạn Mai Hắc Đế của Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận, dùng BKZ 82, một loại bích-kích pháo không-giật để phá hủy các công sự phòng thủ. Từ hướng đông bắc, Trung Đoàn 95B đánh khu Ngã Sáu gần trung tâm thị xã. Từ hướng tây bắc, Trung đoàn 148 của Sư đoàn 316 bắt đầu đánh khu pháo binh và Thiết Đoàn 8. Trung đoàn 148 tiến theo đường Phan Bội Châu đánh chiếm trường trung học Bồ Đề rồi tiến sang Ngã Sáu, bắt liên lạc với Trung đoàn 95B. Từ hướng tây nam Trung đoàn 174 yểm trợ Trung Đoàn 198 Đặc Công đánh khu kho đạn Mai Hắc Đế.

Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 được phòng thủ kỹ hơn nên Cộng quân phải dung Trung Đoàn 24 của Sư Đoàn 10, một sư đoàn thiện chiến, được tăng cường một đại đội xe tăng và một đại đội xe bọc thép, bao vây và tiến đánh căn cứ này.

Lúc 8 giờ sáng, Đại Tá Võ Thế Quang chỉ thị Đại Tá Luật điều động một đại đội và 4 xe M.113 ra án ngữ ở Ngã Sáu để chận Cộng quân. Các oanh tạc cơ được phái đến yểm trợ. 8 giờ 20 kho đạn Mai Hắc Đế bị thất thủ. 11 giờ 50 hậu cứ Thiết Đoàn 8 Thiết Giáp phải di tản.
Lúc 11 giờ Cộng quân tấn công Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu. Đại Tá Luật và Phó Tỉnh Trưởng Nguyễn Ngọc Vỵ chạy sang bản doanh Sư Đoàn 23, nhưng lính canh không cho vào. Đại Tá Vũ Thế Quang phải ra nhận diện rồi cho lệnh, lính mới mở cửa. Trung Tá Vĩnh Hy, Trưởng Phòng 3 của Tiểu Khu, tiếp tục chỉ huy các binh sĩ chống lại Cộng quân. Lúc 12 giờ 45, một trái pháo của Cộng quân bắn trúng hầm chỉ huy của Tiểu Khu, Bộ Tham Mưu Tiểu Khu phải rút ra khỏi vị trí. Lúc 13 giờ 30, Cộng quân mở cuộc xung phong vào Tiểu Khu. Lúc 14 giờ 20 Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu bị thất thủ. Đến 15 giờ, Đại Tá Quang không còn bắt liên lạc được với Tiểu Khu.

2.- Số phận của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23

Cộng quân không nắm vững địa hình nên không tiến nhanh được. Đến 7 giờ sáng ngày 11.3.1975, Cộng quân mới tấn công vào Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23, nhưng lực lượng phòng thủ vẫn còn cầm cự được.

Lúc 10 giờ 10, một phi vụ A-37 của Không Quân thả bom nhầm vào Trung Tâm Hành Quân của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23. Mọi liên lạc với Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2 và Bộ Tổng Tham Mưu hoàn toàn bị phá hủy. Bộ đội và chiến xa của Cộng quân tràn vào hậu cứ Sư Đoàn 23 như nước vỡ bờ. Đại Tá Vũ Thế Quang, Tư Lệnh Phó Sư Đoàn, Đại Tá Nguyễn Trọng Luật, tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Tiểu Khu Darlac, quyết định mở đường máu đem đơn vị thoát khỏi hậu cứ.

Đại Tá Quang chỉ chạy sang khu thiết giáp nằm khuất sau bệnh viện. Các binh sĩ chạy theo. Khu thiết giáp còn hơn chục chiếc thiết vận xa M.113 và một số lính, nhưng không thể ra lối trước vì sẽ đụng đầu với xe tăng của Cộng quân. Đại Tá Quang liền ra lệnh cho thiết vận xa cán lên hàng rào kẽm gai ở phía sau mà đi. Toán quân có chừng 200 người đã xuống được thung lũng và đến suối Đốc Học, một chỗ khuất và hơi kín. Đại Tá Quang định tử thủ tại đấy, nhưng Đại Tá Luật cho rằng chỗ đó trống trải quá. Hai người bàn cách đến Trung Tâm Huấn Luyện của Sư Đoàn 23 ở phía đông, cách thành phố khoảng 3km để từ đó bắt liên lạc lại với các đơn vị, nhưng rất khó đến được.

Đại Tá Quang muốn liều dẫn quân xâm nhập qua thành phố vào lúc đêm tối để tới trung tâm. Đại Tá Luật cho rằng lối đó quá nguy hiểm, muốn đi đường vòng qua rừng. Bàn luận một hồi, hai ông quyết định ai muốn đi ngả nào thì đi. Có chừng 50 người theo Đại Tá Luật, số còn lại theo Đại Tá Quang. Hai toán chia tay nhau vào khoảng 11 giờ trưa.

Đại Tá Luật và Phó Tỉnh Trưởng Nguyễn Ngọc Vỵ lội bộ đến Buôn Ky, nhưng vừa vượt qua một ngọn đồi trọc đã thấy xe tăng của Cộng quân. Đoàn người chạy trở lại phía sau đồi, nhưng chạy mới được 10 thước, Đại Tá Luật bị té. Những người khác lo chạy thật lẹ. Ba ngày sau họ đều bị bắt. Đại Tá Quang, Đại Tá Luật và Phó Tỉnh Trưởng Vỵ đều được đưa về giam cùng một chỗ.

3.- Số phận của Liên Đoàn 21

Khi Cộng quân khởi đầu tấn công Ban Mê Thuột, Tướng Phú ra lệnh cho Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân do Trung Tá Lê Quý Dậu chỉ huy, từ Buôn Hô tiến bằng đường bộ về Ban Mê Thuột ở cách Buôn Hô khoảng 30 cây số.

Lúc 17 giờ chiều ngày 10.3.1975, Đại Tá Quang đã bắt liên lạc được với Liên Đoàn 21 đang tiến vào thành phố. Ông liền ra lệnh cho Trung Tá Dậu cho Tiểu Đoàn 72 chiếm lại Tiểu Khu và Tiểu Đoàn 96 lấy lại kho Mai Hắc Đế. Lúc đó Địa Phương Quân, Nghĩa Quân và Cảnh Sát Dã Chiến đang quần thảo với Cộng quân trong thành phố để tranh từng tấc đất.

Liên Đoàn 21 đã vào được thành phố và lập được một số chiến công, nhưng khi cuộc giao chiến đang tiếp tục thì đùng một cái, Chuẩn Tướng Lê Trung Tường ra lệnh cho cho Trung Tá Dậu điều động Liên Đoàn 21 phối hợp với Địa Phương Quân còn lại rút về vây quanh sân bay L.19 trong thành phố để ông phái trực thăng đến đón 21 người trong gia đình của ông đang kẹt tại sân bay này. Sân bay này đang do đơn vị Thám Sát Tỉnh (PRU) thuộc Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh phòng thủ. Mặc dầu có sự yểm trợ của cả Địa Phương Quân lẫn Liên Đoàn 21, trực thăng của Tướng Tường phái đến cũng không đáp xuống được vì Cộng quân pháo kích dữ quá. Cuối cùng Chuẩn Tướng Tường đã ra lệnh lấy một thiết vận xa M.113 chở toàn bộ gia đình của ông tới Trung Tâm Huấn Luyện của Sư Đoàn 23 cách thị xã khoảng 3 cây số để trực thăng đến đón. Liên Đoàn 21 và Địa Phương Quân phải rất vất vả mới đưa được gia đình Tướng Tường ra khỏi vùng giao tranh và yểm trợ cho trực thăng tới đón. Khi trực thăng bốc được gia đình Chuẩn Tướng Tường đi rồi thì Cộng quân đã chiếm gần như toàn bộ thành phố Ban Mê Thuột. Liên Đoàn 21 tiến về sân bay Phụng Dực để phối hợp tác chiến với một tiểu đoàn của Trung Đoàn 53 ở căn cứ B.50 thì bị chận đánh phải lui ra khỏi vòng đai thành phố và bị vây ở Đạt Lý.

4.- Số phận của hậu cứ Trung Đoàn 53

Hậu cứ của Trung Đoàn 53 đóng ở căn cứ B50, gần phi trường Phụng Dực, cách thị xã Ban Mê Thuột 7km, do Tiểu đoàn 1 và Tiểu Đoàn 3 của Trung Đoàn 53, một Pháo Đội 105 và một Chi Đội M113 trần giữ, có một Đại Đội Thám Báo của Trung Đoàn 45 tăng cường. Ngoài ra, tàn quân của Tiểu Đoàn 2, Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân và một số đơn vị khác cũng chạy về đây.

Căn cứ B50 vốn là một trại lực lượng đặc biệt cũ của Mỹ có chu vi trên một cây số, với những công sự được xây cất rất kiên cố, có tất cả 11 hầm đủ sức chịu đựng được đạn 130 ly, xung quanh có xếp bao cát cao làm thành những ụ chiến đấu cá nhân. Ở xa xa là một vòng đai hàng rào kẻm gai nhiều lớp bao bọc. Ở đây là Bộ Chỉ Huy của Trung Đoàn 53 do Trung Tá Võ Ân trực tiếp chỉ huy, còn Đại Đội Thám Báo của Trung Đoàn 45 đóng trên phi trường Phụng Dực, giữa các ụ bảo vệ phi cơ, do Thiếu Úy Nguyễn Công Phúc chỉ huy. Cộng quân dùng Trung Đoàn Đặc Công 198 và Trung Đoàn 149 của Sư Đoàn 316 để mở cuộc tấn công, sau tăng cường thêm Trung Đoàn 66 của Sư đoàn F10.

Đêm 10.3.1975, hậu cứ Trung Đoàn 53 và phi trường Phụng Dực bị pháo kích nặng. Đến 5 giờ sáng căn cứ bị Cộng quân tấn công từ hai phía đông bắc và đông nam. Cộng quân chiếm được một phần căn cứ. Nhưng đến 8 giờ sáng, quân trú phòng đã phản công, Cộng quân bị đánh dạt sang một bên. Một cánh quân của Cộng quân đã chạy qua khu đất trống của phi trường nên bị Đại Đội Thàm Báo bắn tỉa phải chạy vào bìa rừng cao su gần phi đạo, để lại hơn 40 xác chết, một số vũ khí và quân trang quân dụng. Sau đó, Cộng quân trở lại tấn công nhiều lần, nhưng đều bị đẩy lui.

Sau khi có lệnh rút khỏi Cao Nguyên, lúc 9 giờ 30 ngày 18.3.1975, số tàn quân còn lại do Trung Tá Ân chỉ huy đã mở đường máu chạy thoát về hướng Lạc Thiện. Tướng Phú và Bộ Tham Mưu đã lên máy bay đi tìm và bắt được liên lạc, nhưng số tàn quân ở cạnh Trung Tá Ân lúc đó chỉ còn khoảng 20 người.

Đêm 16.3.1975, khi Cộng quân pháo như vũ bảo vào phi trường, Thiếu Úy Phúc liên lạc với Trung Đoàn 53, nhưng không ai trả lời. Gần sáng, Cộng quân cho xe tăng tấn công căn cứ Trung Đoàn 53 và tiến qua phi trường thanh toán Đại Đội Thám Báo còn sót lại. Không có tiếp tế, hết đạn dược, phải dùng AK 47 của Cộng quân bỏ lại để chiến đấu, Thiếu Úy Phúc phải xin phi cơ đến oanh tạc để rút ra. Đúng lúc Cộng quân đang tập trung quân, phi cơ được thám báo hướng dẫn đã đến dội bom xuống đầu Cộng quân. Nhờ những trái bom này, Đại Đội Thám Báo còn lại hơn 50 người đã rút chạy vào khu rừng cao su. Khi vào được trong rừng thì chỉ còn lại khoảng 30 người. Nhưng sau đó Cộng quân lại đến tấn công. Thiếu Úy Phúc và một y tá thoát khỏi cuộc phục kích, nhưng rồi ngày 22.5.1975 cũng bị bắt khi mò xuống một vũng uống nước.
Như vậy, Trung Đoàn 53 và Đại Đội Thám Báo đã bảo vệ căn cứ B.50 và phi trường Phụng Dực được 18 ngày khiến Cộng Quân phải kính nể.

TRONG CẢNH HOANG TÀN ĐỔ NÁT

Trong bài “Ban Mê Thuột Ngày Đầu Chiến Cuộc”, ông Nguyễn Định đã kể lại tình trạng thành phố Ba Mê Thuột sau khi vừa bị Cộng Quân chiếm như sau:

“Trong thành phố, tiếng súng nhỏ đã im, nhưng cảnh tan hoang của thị xã thật không cách nào tả xiết. Những khu phố bị cháy không ai dập tắt, đóm lửa, tro tàn, và bụi khói bao phủ khung trời thị xã như một màn sương đục. Mặt đường lổ loang những dấu đạn cày. Bên cạnh những đóng tro tàn, từng nhóm người co ro sợ hãi cúi mặt không dám khóc. Những trẻ em mất cha, lạc mẹ kêu van đã khàn tiếng.

“Rải rác trên các khu phố, những vũng máu và thây người, kẻ bị thương, bị chết không ai săn sóc. Thị xã không hẳn là một bãi tha ma, không gọn gàn sạch sẽ như nghĩa trang người chết, mà là hổn độn của một thế giới nửa sống, nửa chết. Vợ ôm xác chồng không dám khóc, mẹ nhìn thây con giá lạnh không dám đem về. Người ta vẫn sợ một Mậu Thân thứ hai, năm 1968, ở Huế. Bóng dáng của Cộng quân như tử thần dến chiêu hồn kẻ sống đe dọa mọi người.”

Tình trạng của vị Tư Lệnh Quân Đoàn 2 cũng bi thảm không kém. Trung Tá Trần Tích, Trưởng Phòng Quản Trị của Quân Đoàn 2 cho biết, sau khi rút khỏi Cao Nguyên và chạy về tới Nha Trang, Tướng Phú còn hỏi ông: “Anh xem có ai muốn đi làm tỉnh trưởng không?” Trung Tá Tích ngạc nhiên hỏi lại: “Giờ này mà Thiếu Tướng còn tìm tỉnh trưởng làm gì nữa?” Tướng Phú buồn rầu trả lời: “Tháng này chưa có 2 triệu đóng cho Trung Tướng”!

Trung Tướng Dặng Văn Quan, Cố Vấn An Ninh của Tổng Thống Thiệu, và Chuẩn Tướng Lê Trung Tường Tư Lệnh Sư Đoàn 23 (cả hai cùng khóa 1 Đập Đá với Tướng Thiệu), đã dọn về ở Orange County, California, nhưng khi nghe chúng tôi kể chuyện trận Ban Mê Thuộc trên báo Sài Gòn Nhỏ và trên đài VOV, Tướng Quang đã bỏ đi vùng khác, còn Tướng Tường về ở Việt Nam luôn. Cả hai nay đã qua đời.

Nhìn lại, chúng ta thấy các sĩ quan và binh sĩ ngoài mặt trận đã chiến đấu rất thiện chiến và anh dũng, sẵn sàng hy sinh cho Tổ Quốc, trong khi một số tướng lãnh có quyền trong tay, vì quá yếu kém và tham nhũng, đã đẫy họ vào đường cùng và làm mất nước!

Nhân kỷ niêm 40 năm ngày mất miền Nam, chúng ta tuyên dương tất cả các chiến sĩ VNQH ở tất cả mọi mặt trận. Tổ Quốc và đồng bào ghi nhớ công ơn của họ. Riêng trong trận Ban Mê Thuột, chúng tôi xin ghi nhân công ơn của các chiến sĩ sau đây:

– Trung Tá Nguyễn Cao Vực, quận trưởng Đức Lập và các chiến sĩ cùng chiến đấu với ông.
– Trung Tá Võ Ân, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 53 và các chiến sĩ ở căn cứ B.50.
– Trung Tá Vĩnh Hy, Trưởng Phòng 3 của Tiểu Khu Darlac.
– Trung Tá Lê Quý Dậu, liên đoàn trưởng Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân và các chiến sĩ thuộc Liên Đoàn này.
– Các Nghĩa Quân, Địa Phương Quân và Lực Lượng Cảnh Sát ở Ban Mê Thuột, nhất là đại đội Thám Sát của Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Darlac.
– Thiếu Úy Nguyễn Công Phúc, đại đội trưởng Đại Đội Thám Báo của Trung Đoàn 45, và các binh sĩ dưới quyền, đã chiến đấu rất anh dũng tại phi trường Phụng Dực cho đến giờ phút cuối cùng.
Ngày nay, tỉnh lỵ của tỉnh Darlac không còn được gọi là Ban Mê Thuột nữa mà trở lại tên cũ là Buôn Ma Thuột, và quận Đức Lập trở thành huyện Dakmil. Nhưng những chiến công oai hùng của các chiến sĩ VNCH sẽ mãi mãi được lịch sử ghi nhớ.

Ngày 12.3.2015
Lữ Giang

Share this post