Trống Đông Sơn Cá Heo Hồng Sông Mê Kông – Nguyễn Xuân Quang,

Trống Đông Sơn Cá Heo Hồng Sông Mê Kông – Nguyễn Xuân Quang,

(Mekong Pink River Dolphin Bronze Drum).

Đây là loại trống Đông Sơn mang sắc thái địa phương vùng Sông Cửu Long ở Đông Dương.

Một chiếc trống Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) hiện để tại Bảo Tàng Viện Quốc Gia Pnom Penh, Campuchia gọi là Trống Tế Lễ Lớn (Ceremonial Big Drum).

Vào đầu thế kỷ 20 trống được các học giả Pháp đưa trống từ Hà Nội tới Pnom Penh để khánh thành bảo tàng viện đầu tiên ở đây.

Trống Tế Lễ Lớn (nguồn: bronzedrums.jimdofree.com)

Trống loại Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) có đường kính 96 cm và cao 57cm.

Rất tiếc không có hình chụp hay hình vẽ mặt trống. Theo mô tả mặt trống có mặt trời 12 nọc tia sáng không có tượng cóc/ếch gồm 6 vành hoa văn và hình người mờ khó đọc.

Trống có mặt trời 12 nọc tia sáng thuộc nhóm trống thiếu dương Cấn.

Nếu có tượng cóc/ếch thì trống có một khuôn mặt là trống sấm mưa Cấn Chấn. Ở đây không có tượng cóc có thể là trống biểu tượng của một tộc người đất âm Cấn dòng nòng âm Khôn ngành thái dương. Vì vậy trên mặt trống có vành hình người.

Ta cũng thấy rõ qua mặt trống có 6 vành. Số 6 là số Tốn OII âm thái dương tương đồng bản thể theo thái dương II với Càn dương thái dương và lưỡng hợp với Càn theo Hậu Thiên Bát Quái . Sáu vành cho biết trống có một khuôn mặt thái dương vì thế không có tượng cóc/ếch mang âm tính.

Theo mô tả thân trống có ba vành: từ trên xuống có vành thuyền, vành thú vật có voi, hươu và vành “người hóa trang lông chim”. Henry Parmentier (EFEO-1920) cho rằng thuyền đi về một thế giới khác, thú vật và bái giáo trợ giúp cho cuộc sống và cuộc đời sau khi chết (bronzedrums.jimdofree.com).

Vành thuyền ở tang trống.

Tang trống (nguồn: bronzedrums.jimdofree.com)

Mũi thuyền hình đầu rắn nước có sừng. Rắn sừng ứng với rắn Việt Chấn mặt trời nước Lạc Long Quân. Hàm dưới miệng rắn Việt có hình đầu chim mỏ rìu mũ sừng.

Hàm dưới miệng rắn nước đầu thuyền là chim mỏ rìu mũ sừng mặt trời, chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế họ Khương (Sừng).

Đây là con chim Sừng, chim Khướng (Mường ngữ), chim mỏ sừng (hornbill) (chim Rìu, chim Việt, chim cắt, chim cao cát, chim hồng hoàng) là chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế họ Khương (Sừng), Tổ Hùng Đại Vũ Trụ của Người Việt Mặt Trời Thái Dương. Ở đây mũ sừng diễn đạt bằng cặp sừng nhọn như sừng bò cong vòng hình mặt trời rất dễ hiểu theo phong cách của trống muộn.

Hàm dưới của miệng rắn nước đầu thuyền trở thành đầu chim mỏ rìu mũ sừng lưỡng hợp thái âm thái dương Rắn-Chim, Rồng-Tiên nhất thể giống như ở trống Miếu Môn I. Tuy nhiên ở trống Miếu Môn I hàm trên miệng rắn biến thành chim mỏ rìu mũ sừng:

Hàm trên Rắn Nước đầu thuyền trở thành chim rìu mũ sừng trên trống Chấn Miếu Môn I.

Tại sao? Vì trống Miếu Môn I là trống thuộc nhóm thái dương có mặt trời 14 nọc tia sáng. Số 14 là số Tốn OII như đã biết tương đồng bản thể theo thái dương II với Càn và Tốn lưỡng hợp với Càn theo Hậu Thiên Bát Quái. Vì mang tính thái dương nên hàm trên miệng rắn biến thành đầu chim mỏ rìu lửa dương thái dương Càn mang tính Càn Khôn vũ trụ. Trong khi ở trống này là trống thiếu dương có mặt trời 12 nọc tia sáng Cấn, đất âm nên hàm dưới âm biến thành đầu chim mỏ cắt Càn thế gian.

Trong khi đầu thuyền trống Ngọc Lũ I, Hoàng Hạ cũng ở dạng lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng nhưng con chim rìu Việt này còn ở dạng riêng rẽ lao vào miệng rắn, là hai cá thể riêng biệt.

Chim Rìu Lửa Càn lao vào miệng Rắn Nước Chấn ở trống Hoàng Hạ.

Trống Miếu Môn I và trống này là trống muộn diễn tả Chim-Rắn, Tiên Rồng đầu thuyền đã bắt đầu ở dạng khởi đầu thần thoại hóa. Cuối cùng của sự thần thoại hóa là tiến tới dạng đa thú (chimera) Rắn Chim hợp nhất như thấy ở trống Quảng Xương

(dạng rắn bờm chim này chính là Rắn Lông Chim của Aztec, Maya).

hay thuồng luồng Việt Nam hoặc rồng long Trung Quốc.

Ta thấy rõ đầu những con thuyển này cho thấy sự tiến hóa của sự tạo thành linh thú thuồng luồng, rồng.

Đuôi thuyền ở đây rất thẳng như cổ chim. Rất tiếc đỉnh đuôi thuyền rất mờ. Tuy nhiên theo như ở trống Miếu Môn I thì thuyền rắn nước Chấn lưỡng hợp với đuôi thuyền là chim nông gió Đoài. Cả thuyền biểu tượng cho phía nòng Khôn Chấn-Đoài. Đầu thuyên diễn đạt Rắn Khôn lưỡng hợp với chim rìu Càn dạng Càn Khôn vũ trụ ngành thái dương và đuôi thuyền Đoài Trời lưỡng hợp với trụ sau thuyền đầu chim bồ cắt Li Đất dạng Trời Đất thế gian.

Tóm lại với thuyền này tương tự như thuyền trống Miếu Môn I diễn đạt theo phong cách của trống đã muộn.

Mới nhìn thoáng qua ta cũng thấy ngay đây là một trống muộn vì ở giữa hai thuyền có con hươu sao là loài thú bốn chân mang tính dương sống trên mặt đất. Ở các trống trống Đông Sơn cổ chính thống tìm thấy ở Việt Nam không bao giờ thấy hươu đứng giữa hai con thuyền. Đây là một trống muộn diễn đạt theo phong cách của một trống nằm ngoài lưu vực sông Hồng.

Thuyền còn mang hình ảnh thuyền phán xét linh hồn thấy trên trống Ngọc Lũ I và họ hàng đúng như Parmentier cho rằng thuyền đi về thế giới sau khi chết. Ta thấy rõ qua hình ảnh cây cầu đài thử thách mà linh hồn phải đi qua:

Cầu đài thử thách trên trống Tế Lớn Campuchia và trên trống Ngọc Lũ I.

Cầu đài thử thách tam thế: thượng thế, cõi trời biểu tượng bằng hình đầu chim ở trống Ngọc Lũ I trong khi ở trống này là trụ cờ bông lau. Người gác cổng trời đứng trên trần trung thế cầm mộc ở trống Ngọc Lũ I và người ở trống này cầm khí giới như giáo mác. Trung thế diễn tả bằng hình trụ vuông có để một cái bình ở trống Ngọc Lũ I và che kín ở trống này. Tấm che kín có hình chữ X, một chữ nòng nọc vòng tròn-que có một nghĩa là Đất (ngày nay còn dùng chữ X để đánh dấu một địa điểm) diễn tả cõi Đất thế gian trung thế. Có một con chó cõi âm tham dự vào việc phán xét linh hồn ở trống Ngọc Lũ I trong khi có 2 con ở hai bên cầu thử thách ở trống này.

Phần cầu dưới thuyền là hạ thế nơi linh hồn ở tạm để chờ đi qua cầu thử thách về thượng thế, thiên đường (Trống Ngọc Lũ I).

Thuyền này là thuyền phán xét linh hồn được diễn đạt theo phong cách trống muộn thấy dễ dàng xác thực thuyền trên trống Ngọc Lũ I là thuyền phán xét linh hồn, không phải là thuyền chiến đang hành quyết tù nhân.

Sau đuôi thuyền có con hươu sao có sừng lớn không thấy bộ giống nhưng có lẽ là con đực. Con phía sau rất mờ hình như cũng có sừng nhưng nhỏ hơn có lẽ là con cái. Trong thực tế con cái không có sừng (ngoại trừ loài tuần lộc reindeer) nhưng đây là hươu nai mang ý nghĩa biểu tượng tín ngưỡng bằng chứng là chúng đứng dưới nước giữa hai con thuyền. Con hươu diễn tả rất hiện thực có những đốm sao rất rõ một lần nữa cho thấy đây là trống muộn.

Dưới thuyền là vành cá và thú nước. Những con cá khổng lồ thuộc họ nhà cá voi. Đây là loài cá heo (dolphin) thấy rõ nhất qua chiếc đuôi họ nhà cá voi. Đặc biệt có hai loài cá heo hồng và đen.

Cá heo hồng và đen.

Loài cá heo sông thấy ở các dòng sông lớn trên thế giới như Dương Tử Giang (hiện coi như bị tuyệt chủng), Sông Ấn (Indus River), Sông Hằng (Ganges River), Sông Amazon.

Cá heo hồng Sông Amazon, Peru (ảnh của tác giả)

(xem Amazon: Thám Du).

Nhóm cá heo ở Đông Nam Á thuộc loài cá voi Orcaella họ ‘Cá Voi Sát Nhân’ (Killer Whale) Orca thấy ở sông Irrawaddy, Myanmar (vì thế còn gọi là cá heo Irrawaddy), ở Borneo Nam Dương và sông Mekong khúc Hạ Lào và Đông Bắc Cambodia (vùng Kratié).

Cùng hàng có một loài thú bốn chân có đuôi như bông lau hiện nay cho là loài chồn (weasel).

Hình loài bò sát dạng thằn lằn, kỳ đà nước.

Như đã nói ở phần trống Vilabouly Cũ của Lào, theo tôi đây không phải là loài chồn mà là loài thằn lằn khổng lồ như kỳ đà vì những lý do sau đây:

-Con thú này ở cùng vành cá heo dưới nước. Chồn cáo không sống được dưới nước. Loài kỳ đà nước sống được dưới nước như rồng Komodo của Nam Dương. Các sọc ở đuôi khiến đuôi trông giống như đuôi bông lau của chồn thực ra có thể là những sọc nước cho biết là loài thằn lằn nước như Komodo.

-Thân chồn không thể dài ngoằng như con thú này.

-Chồn có tai rất to, chân dài giống chó. Con thú này không thấy tai và chân rất ngắn sát mặt đất.

-Đuôi chồn cong. Đuôi con thú này thẳng.

-Thằn lằn cùng loài bò sát như như rắn, cá sấu biểu tượng của các tộc vùng đất sông nước. Cũng nên biết người Khmer nhận mình là con cháu của Rắn Rồng Naga và Thằn Lằn (tộc ở vùng đất âm ven sông hồ, đầm).

-Trống này có mặt trời 12 nọc tia sáng Cấn, Đất âm. Như đã nói ở trên không có tượng cóc/ếch nên không phải là trống sấm mưa Cấn Chấn mà là trống biểu của một tôc đất âm Cấn nên có thể có vật tổ là loài kỳ đà nước, rồng tương tự như Lạc Việt đất âm và Dao Việt nước con dân của Rắn Rồng Lạc Long Quân có vật biểu là cá sấu (một thứ thằn lằn) mõm dao hay thằn lằn như tộc Ao Naga (Âu Long)….

Tóm lại qua một vài hình ảnh nhỏ của một con thuyền và vài thú vật ta thấy trống này là trống biểu tượng cho một tộc phía nòng âm có cá heo và thằn lằn, kỳ đà nước là vật tổ.

Cá ở đây là loài cá heo sông đặc biệt nhất là cá heo hồng không thấy ở một trống đồng nào khác.

Trống Cá Heo Hồng của Ai?

Như đã nói ở trên loài cá heo sông này ở Đông Nam Á thấy ở sông Irrawaddy, Myanmar, ở Borneo Nam Dương và sông Mekong khúc Hạ Lào và Đông Bắc Cambodia (vùng Kratié). Ta loại ngay ra hai vùng ở xa là Myanmar và Borneo vì trống này tìm thấy trong địa phận Đông Dương Việt-Miên-Lào thuộc Pháp.

Vậy trống này của Campuchia hay của Lào?

-Của Campuchia?

Cũng có thể vì như đã nói ở trên khúc sông Mekong ở Kratié có rất nhiều cá heo.

-Tại sao các học giả Pháp đưa trống này từ Hà Nội để vào bảo tàng viện Phnom Penh? Trống có liên quan gì tới Campuchia chăng? Rất tiếc chưa thấy tài liệu nào nói rõ lý do.

-Của Lào?

Cũng có thể vì như đã nói ở trên khúc sông Mekong ở Nam Lào cũng có nhiều cá heo.

-Lào nằm trong thuộc địa Đông Dương. Có thể trống tìm được ở Lào mang về Hà Nội.

-Ở Lào có mỏ đồng ở vùng Vilabouly, Sepon, Navanakhet và có lò đúc trống đồng. Tại đây có đào tìm được nhiều trống lớn như trống Kiệt Tác Phẩm Vilabouly, trống Vilabouly Cũ trong khi cho tới nay Cambodia chưa tìm thấy bằng chứng vững chắc nào cho thấy có lò đúc trống Đông Sơn.

.Đặc biệt và quan trọng là có một trống Lào khác ờ tang trống cũng có hình kỳ đà nước giống như ở đây mà có nhà khảo cổ học gọi là con chồn (weasel).

Những con vật giống kỳ đà nước, rồng Komodo ở dưới vành thuyền trên một trống Lào ((nguồn: A.J. B. Kempers, The Southeast Asia Kettle Drums).

Lưu ý ở đầu và đuôi thuyền có những loài cá khổng lồ như cá nheo (cá bông lau) khổng lồ sông Cửu Long.

Như vậy ta nghiêng nhiều về phía Lào là chủ nhân ông của trống.

Kết Luận.

Vì chưa thấy hiện vật và không có các hình chụp, hình vẽ rõ chi tiết mặt trống nên không biết chắc trống là trống biểu của một tộc nào.

Mặc dầu nghiêng nhiều về phía Lào nhưng để an toàn tôi gọi là Trống Cá Heo Hồng Mekong.

Một lần nữa trống cho thấy trống Đông Sơn có một khuôn mặt biểu tượng cho tộc người phản ánh nơi tộc người sống, chứ không phải làm ra với chủ đích lúc ban đầu dùng làm bộ gõ, trống ma thuật…

Vì là trống muộn được diễn đạt một cách phổ thông, đại chúng nên giúp ta kiểm chứng, xác thực những điểm còn chưa rõ ở trống Ngọc Lũ I và họ hàng (như chim mỏ rìu mũ sừng bò, cây cầu thử thách ở đây…).

Share this post