Trung Cộng Đã Đưa Hai Giàn Khoan Dầu Vào Khu Tư Chính – Nguyễn Văn Canh

Trung Cộng Đã Đưa Hai Giàn Khoan Dầu Vào Khu Tư Chính – Nguyễn Văn Canh

Tin tức giới truyền thông quốc tế cho biết cuối tuần qua Đảng Cộng Sản Việt nam (ĐCS) đã ra lệnh cho cộng ty Repsol ngưng hoạt động khai thác dầu khí tại lô 136-03 thuộc Bãi Tư Chính, nằm sát cạnh vùng Nam Côn Sơn về phía Đông.. Lô này nằm trên thềm lục địa Việt nam. Và thay vào đó, Trung cộng đã đưa 2 giàn khoan Hải Dương 708 vào khu vực này.

Repsol là công ty dầu của Tây Ban Nha đã hoạt động tìm dò dầu hỏa trong những năm qua. Repsol mua lại quyền khai thác dầu của một công ty Gia Nã Đại là Talisman, với giá là 300 triệu Mỹ Kim. Talisman trước đó được Hà nội cho khai thác tìm dò dâu hoả tại khu vực này.

Repsol cách đây không lâu đã loan báo rằng họ đã tìm thấy dầu hoả tại nơi này.

Đây là một hành vi chuyển nhượng công khai chủ quyền một phần lãnh thổ quốc gia của Việt Nam cho Trung Cộng. Đặc biệt, trong trường hợp này và ở nơi này, Đãng Cộng Sản đã có một khế ước tìm, dò để khai thác dầu từ trước với Repsol, công dân của một đê tam quốc gia là Tây Ban Nha, và Repsol đã bỏ ra rất nhiều tiền để thăm dò và nay họ đã tìm thấy dầu.

Làm sao lại có sự chuyển nhượng có vẻ dễ dãi, mau lẹ, rất bất thường như vậy dù lãnh đạo Việt Cộng biết phải chấp nhận 2 sự việc:

a) để lộ ra chúng là kẻ đê hèn và bị sỉ nhuc trước quốc dân và quôc tế vì hành vi ngang ngược của Trung Cộng là động lực.
b) mất một phần ăn to lớn từ nguồn lợi do dầu này mang lại cho cá nhân nhóm lãnh đạo Đảng.

Thực vậy, qua tố cáo trong những tháng trước đây của Trịnh xuân Thanh, cựu chủ tịch Tổng Công Ty Xây Lắp Dầu Khí thì tiền ăn cắp, bỏ vào túi riêng của các lãnh đạo đảng liên quan đến bán lậu dầu trong vòng 30 năm qua, nhất là từ thời Võ Văn Kiệt làm thủ tướng, được ước tính vào khoảng hơn 90 tỷ Mỹ Kim. Riệng trong 10 năm cầm quyền của Nguyễn Tấn Dũng, số tiền ây là 36 tỷ Mỹ Kim.

Để hiểu rõ về việc làm này của lãnh đạo Đảng Cộng Sản, tưởng ta nên nhắc lại nền tảng mối quan hệ Trung Cộng và Việt Cộng về “giải pháp cho vấn về Biển Đông” do Tướng Quách bá Hùng, phó chủ tịch Quân Uỷ Trung Ương của Trung Cộng thiết lập hồi tháng 4 năm 2011.

Quách Bá Hùng sang Hà Nội họp với Nguyễn Phú Trọng, rồi Nguyễn Tấn Dũng và các người khác từ ngày 12 đến 18 tháng 4, 2011. Tại đây y ấn định đường hướng và các quy tắc mà các lãnh đạo Việt Cộng phải thi hành để giải quyết vấn đề Biển Đông: Các điểm quan trọng là các lãnh đạo Việt Cộng:

không được làm bất cứ một điều gì để làm cho tình hình phức tạp thêm.
cũng không được để các thế lực bên ngoài can thiệp vào vấn đề tranh chấp ở Biển Đông và cuối cùng là
phải hướng dẫn dư luận và cảnh giác đưa ra các lời bình luận hay có hành động làm tổn thương tình hữu nghị và lòng tin cậy giữa nhân dân hai nước (thực tế là Trung Cộng).

Ngoài ra, Hùng còn đi sâu vào việc hợp tác tác toàn diện giữa hai đảng và hai nhà nước, và đưa vấn đề này vào thực tiễn. Các lãnh vực sau đây được thực hiện:

Hợp tác giữa 2 quân đội (thống nhất 2 quân đội dưới sự chỉ huy của quânb đội Trung Cộng).
Hợp tác trong lãnh vực an ninh. Về lãnh vực này, cũng trong thời gian 6 ngày này, Lê Hồng Anh được mời sang Bắc Kinh, họp với Bộ Trưởng Bộ Công An Mạch kiến Trụ để nhận sự hướng dẫn của Trung Cộng.

Hợp tác trong lãnh vự tư pháp. Vương Thế Tuấn, chánh án Toà Án Nhân Dân Tối Cao vào ngày 17 sang gặp Nguyễn Minh Triết để đẩy mạnh sự hợp tác về tư pháp…

Hợp tác là danh từ mỹ miều, nghe như bình đẳng giữa hai bên, nhưng che dấu sự thật là đưa cán bộ Trung Cộng vào các cơ quan tổ chức của Đảng và chính quyền Việt Cộng các cấp để chỉ huy và kiểm soát ngõ hầu Việt Cộng không thể đi chệch hướng. Các điểm nêu trên được gọi là Thoả Thuận Quách Bá Hùng. Thoả thuận này dựa trên một tiền đề là CHỦ QUYỀN BIỂN ĐÔNG LÀ CỦA TRUNG CỘNG, và lãnh đạo Việt Cộng, như một thái thú người bản xứ chỉ có nhiêm vụ thi hành mệnh lệnh của quan thầy để bảo vệ chủ quyền ấy của chúng.

Về mặt chính quyền, Thoả Thuận Quách Há Hùng được hợp thức hoá bằng một hiệp ước gữa hai quốc gia: Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa và Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Hiệp Ước này được Hồ Xuân Sơn, thứ trưởng Bộ Ngoai Giao Việt Cộng ký với Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao Trung Cộng Trương Chí Quân tại Bắc Kinh vào ngày 23 tháng 6,2011, có sự hiện diện của Ủy Viên Quốc Vụ Viện Đới Bỉnh Quốc, chứng kiến (1)

Hiệp ước trở thành văn kiện pháp lý ràng buộc nhà nước Cộng Hoà XHCN Việt Nam,- các cấp chính quyền Việt Cộng- vào trách nhiệm phải thi hành các điều khoản của Hiệp Ước.

Vào ngày 1 tháng 5/2014, Trung Cộng ngang nhiên đưa giàn khoan HĐ 981 vào hoạt động gần đảo Tri Tôn, thuộc Quần Đảo Hoàng Sa dưới sự bảo vệ của một lực lương hải quân hùng hậu. Trung Cộng nói rằng chúng “hoạt động trong vùng lãnh hải thuộc phạm vi chủ quyền của chúng”. Khi giàn khoan tiến vào vị trí, chúng ra lệnh ngay cho tàu cảnh sát biển Việt Nam phải đi ra xa, cách giàn khoan 3 hải lý, rồi lại có lệnh mới là 4 hải lý. Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng Việt Cộng Phùng Quang Thanh mẫn cán hơn, ra lệnh đi xa 10 hải lý. Dù ở vị trí đó, có tàu cảnh sát biển Việt Cộng vẫn bị tàu hải quân Trung Cộng đâm chìm, một số chiếc bị hư hại nặng. Hai cảnh sát Việt Cộng bị chết và một số bị thương.

Đưa giàn khoan vào Hoàng Sa như vậy rõ ràng là hành vi chiến tranh, một cuộc chiến tranh xâm lược.

Lãnh đạo Đảng Cộng Sản bất động. Hơn 10 ngày sau, dân chúng Việt Nam tức giận. Họ nổi lên chống đối. Tại Hà Tĩnh, dân chúng xông vào phá xưởng của Trung Cộng. Sự xô sát làm 2 công nhân Trung Cộng chết và một số bị thương. Trung Cộng phải vội vã đưa tàu thuỷ di tản 4,000 công nhân về nước. Tại Bình Dương, dân chúng đốt phá các hãng xưởng Tàu (Trung Cộng), kể cả xí nghiệp của người Tàu không phải của Trung Cộng. Một số Trung Cộng phải bỏ chạy, trốn sang Cao Miên.

Lãnh đạo Việt Cộng bối rối trước phản ứng giận dữ của dân chúng Việt Nam.
Nguyễn Phú Trọng xin gặp Tập Cận Binh để tìm cách giải quyết khó khăn này, nhưng không được tiếp.

Để xoa dịu các chống đối từ dân chúng, Nguyễn Phú Trọng nói tới chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa cho cử tri quận Tây Hồ, Hà Nội. Trương Tấn Sang cũng nói qua về chủ quyền cho cử tri tại Sài Gòn. Nguyễn Tấn Dũng, láu cá hơn, khi sang dự Hội Nghị Á Châu ở Tân Gia Ba vào ngày 21 tháng 5, phát biểu rằng “hành vi ấy (của Trung Cộng) đe doạ an ninh hàng hải; không đổi chủ quyền lấy hoà bình hữu nghị viển vông”, và đồng thời ghé qua Phi Luật Tân nói về vụ kiện của Phi trước Toà Trọng Tài Quốc Tế (nói về vụ kiện, chứ không phải bàn hay tìm hiểu về vụ kiện để Việt Cộng noi theo).
Tất cả những điều trên được đưa ra một cách bất đắc dĩ để che dấu những điều mà chúng đã cam kết trong thoả thuận Quách Bá Hùng và hiệp ước kể trên.

Tuy nhiên, đây lại là nguyên do gây ra sự hiểu lầm của Trung Cộng. Chúng tưởng rằng lãnh đạo Việt Cộng có âm mưu chống lại, vì lẽ Trọng và Sang “vận động” quần chúng đòi bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông. Dũng “vận động quốc tế”, ngầm kêu gọi Mỹ can thiệp vì Trung Cộng là nguyên cớ cho an toàn lưu thông trên vùng biển mà Mỹ từng rêu rao rằng cần phải bảo vệ các tàu đi qua trên khu vưc một cách tự do và an toàn.

Đó là các vi phạm nghiêm trọng cam kết với Trung Cộng như đã thoả thuận. Chính vì điểm này mà Dương Khiết Trì (lúc này đã được thăng chức lên làm ủy viên Quốc Vụ Viện) vào tháng 6 vội vã sang Hà Nội quở trách lãnh đạo Hà Nội là các đứa con hoang phải trở về với tổ quốc (Trung Cộng).

Hình do truyền thông Trung Cộng phổ biến: Dương Khiết Trì nói huỵch toẹt với các lãnh đạo Việt Cộng tại Hà Nội vào ngày 30 tháng 6, 2014: “Các con hoang phải trở về với tổ quốc”.

Tại Hà nội, y nhắc lại 2 điểm trong Thoả Hiệp Quách Bá Hùng để lãnh đạo Việt Cộng từ nay phải nghiêm chỉnh tuân theo:

1) KHÔNG ĐƯỢC VIỆN DẪN CÁC TÀI LIỆU CỦA VIỆT NAM ĐỂ BIỆN MINH CHO CHỦ QUYỀN LỊCH SỬ CỦA VN, (chỉ trích Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang nói với cử tri về chủ quyền; Dũng nói tới chủ quyền và hoà bình viển vông)
2) KHÔNG ĐƯỢC LÔI KÉO CÁC NƯỚC KHÁC VÀO TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG, (chỉ trích Nguyễn Tấn Dũng về tuyên bố ở Hội Nghị Á Châu về hành vi của Trung Cộng là nguyên do mất an toàn lưu thông trên biển, như vậy kéo Mỹ và các nước khác vào cuộc tranh chấp chống Trung Cộng và y còn e ngại Dũng nộp đơn kiện tại Toà Án Quốc Tế như Phi)

Ngoài ra, y còn cấm lãnh đạo Việt Cộng 2 điều:

1) KHÔNG ĐƯỢC ĐÁNH GIÁ THẤP VỀ KHẢ NĂNG BẢO VỆ CHỦ QUYỀN CỦA CHÚNG TRÊN CÁC ĐẢO Ở BIỂN ĐÔNG.
2) KHÔNG ĐƯỢC PHÁ BỎ MỐI QUAN HỆ ĐANG TỐT ĐẸP HIỆN CÓ VỚI TRUNG CỘNG. (2)

Hiện nay, sau khi Tướng Phạm trường Long, phó chủ tịch Quân Ủy Trung Ương Trung Cộng bỏ dở cuộc viếng thăm vào ngày 18 tháng 6, vì lãnh đạo Việt Cộng không thể thoả mãn yêu sách của Trung Cộng là phải đơn phương huỷ bỏ khế ước với Repsol, và để cho Trung Cộng thay thế vào khai thác dầu ở lô 136-03 vì hậu quả của việc làm sẽ to lớn. Đầu tháng 7, 2017, Trung Cộng điều động một hạm đội gồm 54 chiếc tàu vào Biển Đông và chúng báo cho lãnh đạo Việt Cộng biết rằng nếu không thoả mãn các yêu sách của chúng, thì chúng sẽ đánh chiếm các đảo mà Việt Cộng đang chiếm đóng trong vùng quần đảo Trường Sa.
Ngoài hạm đội 54 chiếc tàu trên, Trung Cộng có 8 căn cứ trên 8 đảo đã được bồi đắp. Trong số này, có ba căn cứ quan trọng là Subi, Vành Khăn và Chữ Thập, chúng đã có sân bay lớn và đã bố trí 3 không đoàn máy bay phản lực tại đó. Mỗi không đoàn gồm 24 chiếc, chưa kể các hải cảng rộng lớn và các kho võ khí và hoả tiển, dàn radar, cơ sở viễn thông…

Đó là nguyên do quan trọng thúc đẩy Việt Cộng đau đớn đơn phương huỷ bỏ khế ước với Repsol và chấp nhận tủi nhục để cho Trung Cộng vào khai thác dầu tại khu Tư Chính.

Hai giàn khoan HD 708 và HD 760 đã hiện diện tại khu vực Tư Chính.

Nhân dịp này, dân tộc Việt cảnh cáo Đảng Cộng Sản về sự hèn nhát, và nghiêm trọng lên án hành vi bán nước cầu vinh của chúng.

Hãy ngẩng mặt lên nhìn vào Hải Quân VNCH. Vào tháng 1, 1974 lực lượng Hải Quân VNCH nhỏ bé vẫn ngang nhiên đương đầu với hạm đội Trung Cộng gồm hơn 40 chiếc. Hải Quân VNCH đã giết chết Đô Đốc Phương Quang Kính, tư lệnh phó Hạm Đội Nam Hải, kiêm tư lệnh chiến dịch cùng với 5 đại tá trong trận chiến chống ngoại xâm này để bảo vệ Hoàng Sa.

Để đề cao tinh thần anh dũng của Hải Quân VNCH chống lại giăc ngoại xâm, Ủy Ban Bảo Vệ Sự Vẹn Toàn Lãnh Thổ vào cuối năm 2009 kêu gọi tổ chức Ngày Hoàng Sa Toàn Cầu vào 19 tháng 1 năm 2010. Hàng chục tập thể người tị nạn Cộng sản khắp nơi trên thế giới từ Âu Châu đến Úc, Canada và nhiều nơi ở Hoa Kỳ đã đáp ứng lời kêu gọi ấy và tổ chức các buổi lễ trọng thể để nói lên lòng ngưỡng mộ của quốc dân Việt đối với sự anh dũng của Hải Quân VNCH, đặc biệt là để ghi ơn và vinh danh 74 chiến sĩ hải quân anh hùng đã xả thân bảo vệ biên cương của Tổ Quốc trong trận chiến tại Hoàng Sa 19 tháng 1 năm 1974.

Các lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt nam hãy noi gương các anh hùng hải quân VNCH trong trận chiến 1974. Đừng hèn nhát nữa!

Quốc dân Việt không tha thứ cho các kẻ đê hèn bán nước./.
—————

(1) Về chi tiết, xin xem Nguyễn Văn Canh, “Hồ Sơ Hoàng Sa & Trường Sa và Chủ Quyền Dân Tộc”, Tập 2, tr.314-319, 5th Edition, Center for Vietnam Studies, 2014.
(2) Như trên, tr. 324-331

 

Cước chú: trên cùng , số 1 là Subi, phía tay phải số 4 là Vành Khăn, số 6 là Chữ Thập. 3 đảo này là căn cứ trọng yếu, lập thành một tam giác kiểm soát toàn thể Biển Đông.

Các căn cứ khác là: số 2: Gaven; số 3A Chigua; 3B Tư Nghĩa; số 5: Gạc Ma, nằm ở giữa Tam giác. Và cuối cùng là sô 7: Châu Viên năm phía dưới..

HD 708 và HD 760 TẠI KHU TƯ CHÍNH-VŨNG MÂY

Giáo Sư Nguyễn Văn Canh
31 tháng 07.2017

Share this post